Đức Kitô Trong Thời Gian.

Sự kiện của ngày 3 - 1 - 1992 được ghi nhận, đó là ngày họp giữa các học giả Mỹ và Nga tại Lễ đường của Tòa Nhà Chính Phủ tại Matxcova. Hai tuần trước đó, Liên Xô tan rã, bức tượng Lênin được thay thế bằng lá cờ của Liên Bang Nga. Có một chuyện theo một học giả của Mỹ nhận xét, lá cờ treo bị lộn ngược. Sự kiện treo lộn ngược lá cờ có thể là bình thường, thế nhưng, theo Samuel Shungtington nhận định “Nền chính trị tòan cầu bắt đầu tái định hình theo các xu thế văn hóa. Lá cờ treo ngược là dấu hiệu của sự chuyển biến quá độ, càng ngày càng có nhiều lá cờ được treo cao hơn và hãnh diện hơn”. Những vấn đề trong bài viết này dựa vào cuốn sách đó.

1. Chúng ta là ai?

Câu hỏi có tính triết học ấy lại một lần nữa tái lập trong bối cảnh hậu chiến tranh lạnh, nền chính trị tòan cầu bắt đầu tái định hình theo các xu thế văn hóa. Thời điểm của màu cờ sắc áo, được biểu lộ cách rõ nét để nhận ra trong đó, theo Michael Dibdin: “Người ta chẳng bao giờ có bạn mà lại không có kẻ thù, người ta ghét cái không giống mình có nghĩa là người ta ưa thích cái giống mình”. Cái khác và cái giống là khẳng định chính mình giữa một thế giới đa cực và đa văn hóa. Nhìn về lịch sử tác giả Samuel Shungtington: “Trong lịch sử tồn tại của nhân loại, mối giao lưu giữa các nền văn minh hoặc lần lượt thay thế nhau hoặc không tồn tại. bằng sự khởi đầu của kỷ nguyên hiện đại vào khỏang năm 1500 A.C., nền chính trị tòan cầu mang tính lưỡng cực. trong hơn bốn thế kỷ, các quốc gia Phương Tây như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Áo, Phổ, Đức, Hoa Kỳ và các nhước khác làm thành một hệ thống quốc tế đa cực, trong đó có cọ xát và tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau ngay trong lòng nền văn minh Phương Tây. Cùng với sự phân rã nội bộ, Phương Tây còn mở ra những lần chinh phạt, chiếm thêm thuộc địa, gây ảnh hưởng trên các nền văn minh khác. Cuối những năm 1980, các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, hệ thống quốc tế thời chiến tranh lạnh đi vào lịch sử. sự phân biệt về chính trị, tư tưởng hay kinh tế không còn là vấn đề nặng cân, thay vào đó là sự phân biệt về văn hóa”. Những vùng đất trong Liên Xô cũ vùng lên đòi tự trị, những biến đổi sâu đậm trong dòng chảy văn hóa đứng lên đòi độc lập. Tự trị hay đòi độc lập là câu trả lời cơ bản cho vấn đề nhân sinh: “Chúng tôi là ai?”, không là ai hết trong một thế giới đa cực và đa văn minh, có nghĩa là chịu sự đánh mất, chịu sự quên lãng. Để biết mình là ai, người ta bắt đầu đi xác minh về mình với những chủ đề: Dòng dõi tổ tiên, tôn giáo, ngôn ngữ, hệ giá trị, phong tục và giáo thuyết. Xác định cơ bản đó là tìm về bản sắc văn hóa, nhận ra mình là ai và ai không phải là mình. Các nước Phương Tây, hình thành khối Liên Hiệp Châu Âu rời bỏ niềm tin Kitô Giáo vì biết rằng đó không phải là tôn giáo gốc của mình, mặc dầu trong nhiều thế kỷ đã lớn lên trong nền văn hóa Kitô giáo đó. Các nước không thuộc Phương Tây dần dần nhận ra những gì Phương tây đã áp đặt, để rũ bỏ mà trở về xây dựng xã hội truyền thống. Trong bối cảnh của thế giới đó, chính trị địa phương là chính trị sắc tộc, chính trị của quốc tế là chính trị của các nền văn minh. Do đó phát sinh một sự đổ máu nguy hiểm nhất xảy ra trong các nền văn minh, gọi là xung đột về văn hóa, Vaclav Havel nhận xét: “ngày càng gia tăng và chưa khi nào trong lịch sử nó nguy hiểm như ngày nay”. Song song những xung đột về văn hóa, Hồi Giáo cũng là một sức mạnh vì đông dân số và nhiều tài nguyên. Các nước Châu Á trở lại với xã hội truyền thống Khổng Giáo, Liên hiệp Châu Âu rời xa Kitô giáo, Hồi Giáo liên kết lại để làm nên sức mạnh, bối cảnh thế giới trở thành đa cực và đa văn minh.

2. Chúng tôi là ai nhưng để đi về đâu?

Xác định về văn hóa gây nên những xung đột về văn hóa, con người xưa nay vẫn nuôi ảo tưởng, xác định mình là ai không là câu trả lời cho mình đi về đâu? Người ta có thể hy vọng rằng sau những xung đột về văn hóa là tìm được tiếng nói chung? Theo Samuel Shungtington thì đây là một kiểu thức lạc quan qua sớm, ông viện dẫn: Chiến tranh Thế Giới lần thứ Nhất là “Chiến tranh để chấm dứt chiến tranh”, chiến tranh Thế giới thứ Hai như Franklin Roosevelt nhận xét: “Sẽ chấm dứt một hệ thống hành động đơn phương, những liên minh đặc lợi, cân bằng lực lượng và tất cả những hành động vội vàng vì lợi ích trước mắt - được thử thách qua hàng thế kỷ mà đã thất bại, để thay vào đó chúng ta sẽ có một tổ chức chung, bao gồm các dân tộc yêu chuộng hòa bình và bắt đầu xây dựng nền hòa bình vĩnh cửu”. Chiến tranh lạnh mang theo những ảo tưởng về sự hòa hợp bị tan rã bởi những manh mối “thanh lọc chủng tộc”, “chiến tranh sắc tộc”, xuất hiện những liên minh, những cực thái mới, tôn giáo cực đoan mới, phong trào nổi dậy mới của các nhóm đồng tính, ủng hộ phá thai… Các bối cảnh đó dẫn đến sự bất lực của vai trò Liên Hiệp Quốc, vai trò tôn giáo chính thống. Người ta thấy, sau năm năm, khi bức tường Berlin sụp đổ, từ “diệt chủng” còn được nhắc đến nhiều hơn khi còn chiến tranh lạnh. Khẳng định được mình là ai, từ đó không có nghĩa là biết mình đi về đâu? Nhưng thường trong thực tế là để biết mình liên kết với ai. Liên kết để khống chế với các liên minh khác, chứ không phải là để tìm sự hòa hợp với các liên minh. Khi một quốc gia kế cận tăng cường sức mạnh quân sự thì quốc gia kế bên thấy mình có thể bị đe dọa và như thế hoặc chạy theo hoặc tìm kiếm liên minh để tăng cường sức mạnh. Trong tư thế đó tìm tiếng nói chung của hòa bình là chuyện hy hữu.

Dự báo một đại lọan: Trong cuốn sách Không kiểm sóat được của Zbigniew Brzezinski và hỏang lọan của Daniel Patrick Moynihan, nói đến sự suy yếuvà sụp đổ của một số quốc gia tạo ra chân dung thứ tư về một thế giới trong tình trạng vô chính phủ. Chân dung này lưu ý đến: Sự suy giảm quyền lực của nhà cầm quyền; hiện tượng chia rẽ của các quốc gia; sự gia tăng xung đột sắc tộc, chủng tộc và tôn giáo; các tổ chức Mafia tội phạm quốc tế; gia tăng hàng triệu người tỵ nạn; phổ biến vũ khí hạt nhân và vũ khí giết người hàng loạt; chủ nghĩa khủng bố lan rộng; sự gia tăng thảm sát và thanh lọc chủng tộc… Những cuộc chiến vượt xa những chiến tranh cũ, một thế giới bị bao trùm màu tro tàn của lịch sử, chỉ đầu năm 1993, khỏang 48 cuộc chiến tranh sắc tộc xảy ra, 164 cuộc tranh chấp chủng tộc, trong đó có 30 chuyển biến thành xung đột vũ trang. Thật sự là một thế giới trong cơn đại lọan.

Đi về đâu trong các đại lọan ấy, nếu không gọi là sự tan nát. Các nước giàu tiến hành chiến tranh mậu dịch với nhau, các nước nghèo thì có những cuộc chiến tranh xương máu với nhau. Một viễn cảnh của thế giới buồn thảm.

3. Vai trò của tôn giáo:

Đối với những người đang đối mặt với nhu cầu phải xác định Mình là ai? Mình thuộc về đâu? Thì tôn giáo là mang đến cho họ những câu trả lời thuyết phục, những nhóm nhỏ của các tôn giáo là để định vị họ trong cơn lốc xoáy của việc đô thị hóa. Theo Hassan Alturabi nói: “Tôn giáo trang bị cho con người một cảm giác có bản sắc và có hướng đi trong cuộc đời”. Tôn giáo cho con người có tên gọi giữa nhân loại vô danh, sự trỗi dậy của tôn giáotrên tòan thế giới là một phản ứng đối với chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa tương đối về đạo đức và tự mãn, tái khẳng định những giá trị trật tự, kỷ luật, lao động, tương trợ lẫn nhau và hòa bình. Các nhóm tôn giáo quan tâm đến những vấn đề mà nhà nước bỏ qua. Những nhu cầu này bao gồm: Y tế, mẫu giáo và nhà trường, chăm lo người già, hỗ trợ nạn nhân thiên tai, tỵ nạn, những người thất nghiệp… Samuel Shungtington nhận định rằng: “nếu các tôn gíao lớn không còn đáp ứng được những nhu cầu về tình cảm và xã hội của những người bị mất gốc, các nhóm tôn giáo khác sẽ làm các điều đó”. Tại Hàn Quốc, số người theo Kitô giáo chiếm tỷ lệ 1 - 3 % dân số vào năm 1950, đến năm 1980, Hàn Quốc trên đà phát triển kinh tế, với hàng triệu người đổ ra thành thị, thì số người Kitô hữu tăng trưởng lên đến 30 %, Phật Giáo với đời sống bình lặng mất đi sự hấp dẫn. Tại Mỹ Latinh, con số người theo Tin Lành từ 7 triệu vào năm 1960, năm 1990 tăng lên 50 triệu. Vấn đề sống còn của các tôn giáo là có đáp ứng được “Những nhu cầu căn bản của con người - sự ấm áp của tình người - chữa lành những thương tâm và đáp ứngkhát vọng tâm linh. Một con số mà tác giả Shungtington đưa ra làm người Kitô cần xem xét: Ngày Chúa Nhật tại Brazil đầu năm 1990, với 20 % người theo Tin lành, 75 % người theo Thiên Chúa Giáo, thì có 20 triệu người tới nhà thờ Tin Lành, còn chỉ có 12 triệu người đến nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Tại các nước Nho Giáo thì tình hình lại khác, tại Trung Quốc vào năm 1980, kinh tế hưng thịnh, Kitô giáo cũng lan rộng trong giới trẻ, khỏang 50 triêu người theo đạo, nhà cầm quyền cấm rao giảng và bắt bớ các linh mục, nhà truyền giáo để hạn chế việc truyền giáo. Tại Singapore, tại Hàn Quốc, Đài Loan, nhiều người theo đạo Thiên Chúa giáo hơn.

4. Bối cảnh của Lời Loan Báo.

"Chúng tôi muốn gặp thấy Chúa Giêsu" (Gn 12,21).

Đó là chủ đề Đại Hội Giới Trẻ do Đức Giáo Hòang Gioan Phaolô II đề xướng.

Chủ đề này được nêu ra trong một bối cảnh chung của thế giới mà riêng của Hoa Kỳ:

“Theo (VATICAN 29-2-2004 Zenit) -- Một trợ tá của Tổng Thống Hoa Kỳ Goerge Bush, đã từng nói:

“Khi chúng ta tiến hành bãi bỏ đức tin nơi quảng trường công cộng, nghĩa là chúng ta liều lĩnh xóa bỏ dần sự thật để trở nên chính thống vô thần.”

Jim Towey, Phó Trợ Tá cho Tổng Thống Bush và cũng là Giám Độc của Văn Phòng đặc trách về Những Sáng Kiến Của Cộng Đồng Dựa Trên Cơ Sở của Niềm Tin tại Tòa Bạch Ốc (Office of Faith-Based and Community initiatives) đã phát biểu như trên tại trường Đại Học Thánh Tôma về những trào lưu mới tại Hoa Kỳ.

Towey nói, “Ở tại Hoa Kỳ này, hiện đã và đang có phong trào nhằm trần tục hóa bất kỳ một tôn giáo nào vốn có những tín ngưỡng và những nguyên lý nền tảng, và bằng cách cấm đoán tiếng nói của các tôn giáo, thì cũng đồng nghĩa với việc chúng ta đang tạo ra một thể chế vô thần tục hóa. Giờ chúng ta vẫn thường thấy tại chính một quảng trường công cộng, việc sùng bái những giá trị của ma qủy, và những thứ đó hoàn toàn trái ngược hẳn với những gì mà người dân Mỹ hiểu biết rất rõ tận cõi thâm sâu về chính Thiên Chúa, và về con người, vốn được tạo dựng nên giống hình ảnh của Ngài.”

Towey ủng hộ cho việc có được tiếng nói của đức tin tại quảng trường công cộng, hơn là đồng ý cho sự im lặng.

Ông nói tiếp, “Chúng ta tôn trọng những người có niềm tin, những người nhìn nhận, và thờ phượng Thiên Chúa theo những cách khác nhau hay chẳng thờ phượng gì cả. Vì chưng, tất cả đều là anh chị em của chúng ta, và đó cũng chính là sự đa nguyên. Nhưng đó không có nghĩa là phải cùng nhau im lặng hoặc không thể nói lớn bởi vì nó có thể làm phật lòng kẻ khác. Sự đa nguyên không có nghĩa là mọi người đều phải im lặng, nó có nghĩa là mọi người đều được tự do bất kể Do Thái, Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo, tất cả thảy đều có được sự tự do theo cách tốt nhất của mình.”

Trích nguyên văn về nhận định này để thấy vài nét chung của thế giới đang lăn lộn: Trần tục hóa - bãi bỏ đức tin nơi quảng trừơng, buông lỏng cho tự do phóng khóang. Đó là vài nguyên nhân nguy cơ cho một thế giới ngày mai và hôm nay.

“Chúng tôi muốn gặp thấy Chúa”, đó chẳng phải là một tiếng kêu cầu quan trọng trong thời đại chúng ta sao. Gặp thấy Chúa để nhận ra chính mình, nhận ra nhau là anh chị em với nhau từ đó mới có thể xây dựng hòa bình trên trái đất.

"Minh chứng cho hòa bình, dạy dỗ cho hòa bình”. Đó là một "sự cam kết khẩn cấp hơn bao giờ cho thời đại chúng ta, trong đó những nguy hiểm và những đe dọa cho sự sống chung hoà bình tiếp tục còn hiện hữu dưới vòm trời này”.

5. Nhìn Về phía thư chung.

Thư Chung gửi các bạn trẻ trong kỳ Đại Hội Giới Trẻ sắp tới của Đức Giáo Hòang, có một vai trò đặc biệt. Điều đáng chú ý nhất, đối với Giáo Hội, Giới Trẻ là rường cột của Giáo Hội, của xã hội, là những con người cầm nắm vận mệnh của thế giới để xây dựng trong hôm nay, nên Thư Chung đề nghị những yếu tố cần thiết:

"Chúng tôi muốn gặp thấy Chúa Giêsu!" (Gn 12,21).

“Ðây là lời yêu cầu mà vài người Hy Lạp một ngày kia đã nói với các tông đồ. Họ muốn biết ai là Chúa Giêsu. Ðây không phải chỉ đơn thuần là một cuộc đến gần bên cạnh để biết con người Giêsu là như thế nào. Ðược thôi thúc bởi sự tò mò và bởi linh cảm Rằng Họ Có Lẽ Sẽ Gặp Ðược Câu Trả Lời Cho Những Thắc Mắc Căn Bản Của Mình, họ muốn biết Chúa Giêsu thật sự là ai và ngài đến từ đâu.”

Tôi là ai, chúng ta là ai, lịch sử của hôm nay là đang đi tìm về câu hỏi đó, chúng ta là ai chỉ có thể trả lời chính xác khi chúng ta nhận biết Thiên Chúa, trong Đức Giêsu. Đức Giáo Hòang bày tỏ tiếp:

“Ước muốn gặp thấy Thiên Chúa là ước muốn luôn hiện diện trong con tim của mọi người nam nữ. Các bạn trẻ thân mến, chúng con hãy nhìn vào đôi mắt Chúa Giêsu, ngõ hầu được phát triển trong chúng con ước muốn nhìn thấy Ánh Sáng, ước muốn cảm nếm Sự Thật rạng ngời. Dù chúng ta có ý thức hay không, Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta bởi vì ngài yêu thương chúng ta và ngõ hầu chúng ta yêu mến ngài. Ðó là lý do của nỗi "nhớ về Thiên Chúa không thể nào dẹp bỏ được", một "nỗi nhớ nhung" trong tâm hồn con người: "Lạy Chúa, con tìm nhan thánh Chúa. Xin đừng lánh mặt xa con!" (TV 27,8). Dung Nhan Thiên Chúa --- và chúng ta đã biết rõ --- Thiên Chúa đã mạc khải cho chúng ta biết Dung Nhan Ngài trong Chúa Giêsu Kitô.”

Một cách đầy quả cảm, người trẻ hôm nay hãy tỉnh táo để rời bỏ những thú vui chóng qua, những ồn ào của cuộc sống để lên đường đi tìm kiếm Thiên Chúa. Đức Giáo Hòang khẳng định:

“Kitô giáo không phải chỉ là một giáo lý; kitô giáo là một cuộc gặp gỡ trong đức tin với Thiên Chúa, Ðấng trở nên hiện diện trong lịch sử với việc nhập thể của Chúa Giêsu.”

Từ đó Đức Giáo Hòang ngỏ lời:

“Bằng mọi cách, chúng con hãy cố gắng làm cho cuộc gặp gỡ nầy có thể được, vừa nhìn về Chúa Giêsu, Ðấng say mê đi tìm chúng con. Chúng con hãy tìm Chúa với đôi mắt xác thể chúng con qua những biến cố trong đời sống và trong dung mạo của kẻ khác; nhưng chúng con cũng hãy tìm Chúa với đôi mắt tinh thần, nhờ qua việc cầu nguyện và suy niệm Lời Chúa, bởi vì "việc chiêm ngắm dung nhan Chúa Kitô không thể nào không được gợi hứng bởi tất cả những gì Kinh Thánh nói với chúng ta về Ngài". (tông huấn "Bước vào ngàn năm mới" số 17).

Găp thấy Chúa Giêsu, chiêm ngắm dung nhan Ngài, tuy là một ước muốn không thể nào xóa bỏ đi được, nhưng là một ước muốn mà con người --- buồn thay --- có thể làm méo mó đi. Ðây là điều đã xảy ra do tội lỗi, mà điểm thiết yếu hệ tại ở việc quay mặt khỏi Ðấng tạo hóa, để hướng nhìn về tạo vật.”

Biết mình là ai có nghĩa là xác định cho mình một quyết định rõ ràng và tự do: "chúng tôi muốn gặp thấy Chúa Giêsu". Đức Giáo Hòang nói với các bạn:

“Sống thật sự tự do, có nghĩa là can đảm chọn Ðấng mà bởi ngài chúng ta đã được tạo dựng và chấp nhận quyền của ngài trên đời sống chúng ta. Chúng con ghi nhận được điều nầy từ tận thâm tâm chúng con: tất cả mọi của cải trên trần gian, tất cả mọi thành công nghề nghiệp, cả tình yêu thương mà chúng con mơ ước, tất cả mọi điều nầy không bao giờ có thể thõa mãn những chờ đợi thâm sâu nhất của chúng con. Chỉ có cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu mới có thể mang đến ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc sống chúng con: "Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, nên tâm hồn con luôn xao xuyến cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa", thánh Augustinô đã viết như thế (Confessioni, I,1). Chúng con đừng để mình bị lo ra trong việc đi tìm gặp gỡ Chúa. Chúng con hãy kiên trì, bởi vì cuộc đi tìm nầy có liên hệ đến việc thực hiện toàn vẹn chính chúng con, cũng như có liên quan đến niềm vui chúng con.”

Khám phá Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh Thể để khơi nguồn Đức Ái, xây dựng một nền văn hóa Tình Thương, một thế giới hòa bình:

“Nếu chúng con học khám phá Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, thì chúng con cũng sẽ biết khám phá Ngài trong những anh chị em xung quanh chúng con, đặc biệt nơi những người nghèo cùng nhất. Bí Tích Thánh Thể, --- khi được lãnh nhận với tình yêu mến và được tôn thờ với lòng sốt sắng, --- trở nên trường học sống tự do và bác ái, để thực hiện mệnh lệnh tình thương. Chúa Giêsu nói với chúng ta ngôn ngữ diệu kỳ của việc cho đi chính mình, cho đến mức độ hy sinh chính mạng sống mình. Phải chăng đây là điều dễ dàng? Không đâu, và chúng con biết rõ điều nầy! Việc quên đi chính mình không phải là điều dễ dàng; việc quên đi chính mình đưa chúng ta ra khỏi thứ tình yêu chiếm hữu và chỉ lo nghĩ đến mình, để mở rộng con người chúng ta đón nhận niềm vui của tình yêu tận hiến chính mình. Trường Học Tự Do và Bác Ái nầy của Bí Tích Thánh Thể dạy chúng ta biết vượt qua những cảm xúc hời hợt, để ăn rễ vững chắc vào trong những gì là chân thật và tốt lành; được tự do khỏi việc đóng kín trong chính mình để sẳn sàng mở rộng đón nhận kẻ khác, Trường Học Bí Tích Thánh Thể dạy chúng ta biết đi từ "tình yêu cảm xúc" đến tình yêu hữu hiệu bằng hành động. Bởi vì yêu thương không phải chỉ là một tình cảm; nhưng là một hành động của ý chí, liên lỉ đặt điều thiện hảo của kẻ khác trước lợi ích của chính mình: "Không ai có tình yêu thương lớn hơn kẻ thí mạng sống mình cho bạn hữu" (Gn 15,13).”

Những lời tâm huyết Đức Giáo Hòang gửi cho các bạn trẻ mà trong đó có tôi, có những con người chưa bao giờ được đến tận nơi các bạn quy tụ tại các kỳ Đại Hội, chúng tôi cũng từ xa hướng về như một mong ngóng, như một khắc khoải, cần làm một điều gì đó để xây dựng thế giới trong hòa bình, trong tin yêu, tôi xin gửi những dòng tâm tư này.

(4) Thư Chung của Đức Giáo Hòang gửi các bạn trẻ tại Đại Hội 2004,Vietcatholic, Lm Đặng Thế Dũng chuyển ngữ.