CHÚA NHẬT 2 MÙA CHAY C

Kính thưa qúi vị,

Câu chuyện Chúa Giêsu biến hình còn xa mới đến câu chuyện về cuộc khổ nạn của Ngài. Trình thuật này ở chương 9 trong khi trình thuật khổ nạn ở ch.22 trong tin mừng Luca. Vì vậy chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng trong giai đoạn này, Chúa Giêsu đang tràn ngập vinh quang vì những thành công và danh tiếng Ngài đang lan rộng khắp miền Palestina. Nhưng nếu đọc kỹ chương này ta sẽ thấy không phải như thế. Mây xám đang kéo về vần vũ trên bầu trời của Ngài, hứa hẹn một trận cuồng phong ghê gớm.

Chương 9 khởi sự với việc Chúa Giêsu sai phái 12 tông đồ đi rao giảng, đầy quyền năng và uy tín. Vua Hêrôđê đã bắt đầu quan tâm đến Chúa Giêsu. Tiếp theo là các môn đệ trở về kể lại cho Ngài những việc làm sáng chói và những thành tựu vang dội. Đám đông theo Chúa đều được chữa lành mọi bệnh tật và được ăn no nê với vài cái bánh và mấy con cá nhỏ. Ông Phêrô tuyên xưng đức tin mạnh mẽ vào Chúa Giêsu, một đức tin có lẽ đã được hậu thuẫn bởi những phép lạ Ngài làm. Nhưng Chúa Giêsu cắt ngang lời tán dương của ông và loan báo rằng Ngài sẽ bị giới cầm quyền đền thờ ghét bỏ, chịu muôn vàn hình khổ và chịu chết. Ngài còn thêm: “những ai muốn theo Ngài thì cũng sẽ phải chịu khổ như vậy, vác lấy thánh gía mình mà theo”. Câu chuyện Tin mừng của chương này là như vậy. Lời nói và việc làm lạ lùng của Chúa Giêsu lôi kéo một đám đông không đếm nổi. Có lẽ các môn đệ đã “đụng” phải một “người hùng” thời đại. Nhưng Chúa Giêsu đã làm cho không khí hồ hởi đó phải tắt ngúm khi Ngài báo trước những tai họa sắp tới. Riêng câu chuyện về việc Hiển dung hôm nay cũng pha trộn hai thái độ: một vui, một buồn. Nhưng các tông đồ chỉ lưu tâm đến khía cạnh vui, rực rỡ, huy hoàng, nên họ đã bỏ lỡ mất toàn thể thực tại của việc theo Chúa mà Ngài muốn dạy. Họ đã trở nên những kẻ “mộng du”.

Ngài chọn ba môn đệ gần gũi nhất là Phêrô, Giacôbê và Gioan. Các ngài leo lên một ngọn núi cao, tương truyền là nơi gặp gỡ thần linh. Có lẽ Chúa muốn cho họ được nghe, nhìn rõ hơn về nhân cách của Ngài và học hỏi thêm theo Ngài có những hệ qủa ra sao ? Đòi hỏi những gì ? Nhưng đáng lý đây là những giây phút nghiêm trọng, họ phải toàn lực cảnh giác, tỉnh thức và sẵn sàng thì họ lại thiếp ngủ. Môn đệ Chúa Giêsu có thói quen “ngủ khì” vào những giây phút quan trọng. Xin nhớ lại vào đêm Chúa ở trong vườn Cây Dầu lúc bị bắt, các môn đệ đã làm gì? Họ đang say sưa trong giấc điệp !

Nói cho thật tình, chúng ta cũng là những kẻ “mộng du”, nhắm mắt lại thiếp đi ngon lành đúng vào những thời điểm oái oăm và nếu không thức dậy kịp thời chúng ta cũng sẽ bỏ lỡ nhiều cơ hội quan trọng để rồi sẽ bị dẫn đến lầm đường, lạc lối. Không chịu tỉnh thức đối mặt với thực tại qủa là một nguy hiểm tai hại. Cứ xem các tông đồ là những kẻ mộng du. Họ theo Chúa Giêsu, nhưng vẫn giữ những giấc mơ riêng của mình về những thay đổi mà họ đòi hỏi Chúa Giêsu thực hiện. Một con người đầy quyền phép và năng lực như vậy lại không thể đổi thay tình thế qúa ư tồi tệ của đất nước ? Thế giới này cần được đổi mới. Người ta cần những mùa màng bội thu để nuôi thêm kẻ đói khát. Phải có trật tự kinh tế mới ngõ hầu người nghèo, kẻ cùng khổ không còn là nạn nhân của các tay cường hào ác bá…vân vân và vân vân.

Các tông đồ đã ngủ cả, khi Chúa Giêsu đàm đạo với ông Mô-sê và Êlia. Họ đã bỏ lỡ nội dung của cuộc đàm đạo đó. Mà nội dung ấy lại tối quan trọng cho họ. Đó là về cuộc vượt qua của Ngài tại Giêrusalem. Đó là một cuộc xuất hành mới, xuất hành khỏi vòng tội lỗi đã bao đời kìm kẹp nhân loại. Nhưng xuất hành thế nào, họ đâu có biết ! Họ ngủ cả, cho nên họ đâu nắm được những bài học qúi gía và nghiêm trọng của biến cố này ! Hy sinh để được Chúa nâng đỡ bằng chính cuộc hy sinh của Ngài ! Vì vậy chẳng lạ gì khi Chúa phải vác thập tự thì không thấy tông đồ nào có mặt để vác giúp. Họ hoàn toàn ngỡ ngàng khi thánh gía xuất hiện. Nếu như họ đừng ngủ trên núi biến hình, nếu như họ đừng ngủ khi Chúa chịu cực hình ở Giêrusalem, nếu như họ ở lại trên ngọn đồi Can-vê, dương to đôi mắt, mở to đôi tai, luôn luôn tỉnh thức, sẳn sàng, họ đã không bỏ lỡ sự phục sinh của Ngài và một đời sống hoàn toàn mới thuộc vể họ. Lúc ấy chẳng bao giờ họ thiếp ngủ được nữa.

Lúc ấy, hào quang của biến cố hiển dung sẽ trở nên hào quang của Chúa phục sinh và chắc chắn họ cũng được chia sẻ hào quang đó. Họ sẽ được thay đổi và họ sẽ thay đổi được thế giới, để rồi kẻ đói được thêm bánh ăn, kẻ bất hạnh được đối xử tử tế, người nghèo được trân trọng. Mọi người bất kể là ai: trẻ, già, trai, gái, giầu có hay thiếu thốn, thông minh hay dốt nát …thảy đều được bình đẳng. Lúc ấy ánh sáng chói lọi từ Chúa Phục sinh sẽ biến đổi chúng ta để chúng ta cũng được hiển dung với Chúa hay ít nhất thế giới có được những thay đổi như mọi lòng mong ước.

Mùa chay là mùa biến đổi tất cả chúng ta thành môn đệ thực sự của Chúa Giêsu. Chúng ta học mở to hai con mắt, từ bỏ mọi cuộc mộng du, ảo vọng, quan niệm sai lầm về mình, về vinh quang của mình, nhìn rõ hơn về ơn gọi làm môn đệ Chúa Giêsu trong đời sống hằng ngày. Ngay trong thánh lễ hôm nay chúng ta cũng có thể là kẻ mộng du. Tìm chỗ tốt thả hồn lang thang, nói chuyện gẫu, vừa dự lễ vừa uống cà phê…, hay chúng ta cũng có thể được tiệc thánh Chúa chỉ đường dẫn lối tự biến đổi và biến đổi cả thế giới.

Bài đọc Cựu ước đưa chúng ta vào thời tổ phụ Áp-ram (St.12,1…). Thiên Chúa hứa với ông Ápram rằng Ông sẽ là cha một dân tộc to lớn. Ap-ram đã tin vào lời hứa ấy. Ông cùng với vợ là Sara đã bỏ mọi sự và đi đến một miền đất hoàn toàn xa lạ. Hai ông bà đã nên gương mẫu đức tin cho con cháu mai sau. Một đức tin vững chắc, sẵn lòng phó thác vào lời Thiên Chúa hứa ngay cả chẳng có gì làm bằng chứng để có thể tin cậy được. Lúc ấy họ chưa có con dù cả hai đã gìa, chưa có một mảnh đất cắm dùi, nhưng họ vẫn kiên định đi theo Chúa.

Kiên định như thế để được cái gì ? Chỉ vì lời hứa có con cháu nối dòng ! Vậy điều quan trọng nổi bật ở đây, không phải là đức tin của Áp-ram hay bất cứ ai khác, mà là Thiên Chúa. Ngài nói với Áp-ram: ”Ta là Đức Chúa, đã đưa ngươi ra khỏi thành Ur của dân Can-đê, để ban cho ngươi đất này làm sở hữu”. Áp-ram đã hỏi lại những câu mà có lẽ tất cả chúng ta cũng muốn hỏi, tùy vào hoàn cảnh của mổi người: “Làm sao tôi biết được đất này làm sở hữu ? làm sao tôi biết được Chúa về phe với tôi trong những hòan cảnh khó khăn khi không có lấy một bằng chứng đáng tin cậy ? Làm sao tôi biết được lòng Chúa tín trung ? Làm sao tôi biết được mình không bị lừa dối ? Làm sao tôi biết được mình không lầm khi khăng khăng tin cậy vào Chúa trước những thực tế phũ phàng ? Làm sao và làm sao ???

Câu trả lời từ phía Thiên chúa là một nghi lễ giao ước cổ truyền (Gr.34,18-20). Khi làm giao ước, các sinh vật được cắt làm đôi. Mỗi bên ký giao ước phải bước đi qua giữa hai nửa, như muốn nói rằng, nếu tôi vi phạm, tôi sẽ bị xẻ làm đôi như những sinh vật này. Lễ nghi này là một giao ước rất cụ thể Chúa thực hiện với Áp-ram và với mỗi người chúng ta. Danh dự của Chúa đã được đặt ngang hàng với danh dự của chúng ta, một chi tiết quan trọng: Ông Áp-ram đã không đi qua phần kia của sinh vật. Ông đã không ký kết giao ước, chỉ có một mình Thiên Chúa ký giao ước! Thường thì cả hai phải ký, cả hai phải đi qua giửa các con vật đã được xẻ làm đôi. Bởi vì cả hai phải tôn trọng giao ước. Ông Áp-ram đã không hứa, chỉ một mình Thiên Chúa hứa mà thôi. Nghĩa là Áp-ram và mỗi người chúng ta không phải ký giao ước mà chỉ phải phó thác cuộc đời mình, hiện tại cũng như tương lai vào lòng trung tín của Thiên Chúa. Ôi lòng thương xót Chúa thật nhiệm mầu. Nếu chúng ta phải ký giao ước thì chúng ta phải bị chặt làm đôi nhiều lần !

Vậy giao ước không chỉ nói về hiện tại, tương lai của mình. Mùa Chay này còn gợi lên những việc làm đáng xấu hổ của qúa khứ mỗi người. Chúng ta đã phản bội lòng trung tín của Thiên Chúa rất nhiều lần. Nhưng hãy can đảm đứng dậy. Vì câu chuyện hôm nay còn nói lên điều mà sau này thánh Phaolô khai triển rộng hơn trong Tân ước: “Bởi vì tôi biết chắc rằng dầu sự sống hay sự chết, dầu hiện tại hay tương lai, dầu chiều cao hay chiều sâu, thiên thần hay ma qủy hoặc bất cứ loài thọ tạo nào, không có thể tách chúng ta ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa, thể hiện nơi Đức Kitô, Chúa chúng ta”(Rm.8,38-39).

Trong nghi lễ Giao ước Thiên Chúa đảm nhận bổn phận thực thi lời hứa và cũng tự nhận lấy lời nguyền rủa (hãy để xảy ra cho tôi như vậy, nếu…). Chắc chắn Chúa sẽ giải cứu chúng ta khỏi tội. Không phải vì chúng ta xứng đáng, nhưng chỉ vì Ngài đã hứa. Thiên Chúa là tác nhân chính trong qúa trình giải phóng, chứ không phải loài người. Ngài luôn trung tín, không bao giờ quên lời hứa. Thực tế chính Thiên Chúa tuyên bố Ngài mắc nợ chúng ta về lời hứa. Vì thế trong mùa chay này, chúng ta hãy chỗi dậy, ngẩng đầu lên, bởi lẽ ngày cứu rỗi đã đến gần. Mỗi người sẽ được sạch tội, được biến hình trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Amen.