Bất tử và Niềm tin Phục Sinh
Con người từ khi phải chết cũng đã bắt đầu đi tìm về sự sống trường tồn, giống như việc con người đi tìm lại thiên đàng đã mất sau khi đánh mất địa đàng. Sống là điều quan trọng, chết là một sự kiện không chối bỏ được, nên con người từ xa xưa đã đi tìm cho mình một con đường giải thóat khỏi sự kiện chết. Con đường tìm kiếm ấy, một phần nằm trong những câu truyện cổ, phác họa những khát khao.
Giữa niềm tin bất tử và niềm tin Phục Sinh có mối liên hệ sâu xa, con người từ khi phải chết đều hướng về sự sống một cách đầy tràn hy vọng để con người có điểm tựa cho mọi sinh tồn.
Trong văn hoá Việt đã có truyền thống tin tưởng vào sự bất tử, qua bốn nhân vật mà người ta gọi là Tứ Bất Tử.
1. Tứ Bất Tử:
Tản viên: Trong câu chuyện Sơn tinh và Thuỷ tinh, Sơn tinh là người núi Tản, lấy được Mỵ Nương con gái vua Hùng thứ 18, Thuỷ tinh đến sau không lấy được Mỵ Nương nên ghen tức làm nước dâng lên mỗi năm để đòi Mỵ Nương, nước dâng lên bao nhiêu thì núi cao lên bấy nhiêu, mối hằn thù đó cứ mỗi năm lại tiếp diễn. Cuối đời, Sơn Tinh lui về núi Ba Vì (Sơn Tây) và hoá tại đó. Tương truyền rằng, Sơn tinh là vị tổ trong Bách nghệ tổ sư, bởi ông đã dậy cho dân trăm nghề (lấy lửa, làm ruộng, săn bắt…), dân gian tin rằng ông là vị người - thần, biểu tượng sức mạnh của núi - rừng, gắn liền mối tương giao Lạc Việt và Âu Việt, Sông Đà - Núi Tản. Dân gian tin rằng ông là vị thần bất tử và đem lòng thờ kính. Truy nguyên câu chuyện Sơn Tinh và Thủy Tinh, chúng ta gặp ngay nguồn gốc câu chuyện Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Mẫu thượng ngàn xuất thân từ người trần, là con hay cháu Vua Hùng, có lòng yêu mến thiên nhiên, cây cỏ muông thú, người có phép tiên có thể mang lại ấm no, hạnh phúc cho dân lành. Từ đó hiển thánh và là mẫu bảo cho miền cao và miền núi. Ở Tây nguyên, tục thờ Mẫu do người Việt mang vào lại đồng nhất Mẫu Thượng Ngàn với Âu Cơ - Mẹ Tiên, sau khi từ biệt Bố Rồng - Lạc Long, đã mang theo 50 con lên núi, và Âu Cơ trở thành Mẫu Thượng Ngàn cai quản vùng núi đồi. Huyền thoại Mẫu Thoải nhiều nơi khác nhau, tuy nhiên cũng có nét cơ bản. Đó là vị thần trị vì sông nước, xuất thân từ dòng dõi Long Vương, có nguồn gốc từ Thuỷ thần, ít nhiều có nguồn gốc từ người trần, gắn bó bó với tình tự dân tộc, vừa mang nét huyền thoại vừa mang nét lịch sử, trong đó có Tản Viên, Lạc Long Quân, Kinh Dương Vương. Sự kết hợp giữa Tam Toà Thánh Mẫu có sự đan kết tư duy vũ trụ luận (Trời, đất, nước), tư duy siêu hình (Thiên Thần, Sơn Thần, và Thuỷ Thần) và tư duy lịch sử (Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Vương).
Thánh Gióng: Đời Hùng Vương thứ 6 giặc Ân rất hùng mạnh, kéo sang xâm lược nước Văn Lang. Làng Phù Đổng, bộ Võ Ninh, có một nhà giàu tuổi đã 62, có người con trai lên 3 tuổi mà chưa biết nói, không ngồi hay đứng được. Khi sứ giả nhà Vua đến làng rao cầu người tài hiền ra cứu nước, cậu bé tự nhiên biết nói, xin gặp sứ giả, và xin sứ giả về xin vua cho đúc cho cậu con ngựa sắt, một thanh gươm và một nón sắt. Từ ấy cậu ăn rất nhiều và lớn nhanh như thổi.
Giặc Ân kéo đến núi Châu Sơn (Tiên Du - Hà Bắc), Cậu Gióng cưỡi ngựa sắt phun lửa, tay cầm kiếm, nhổ cả bụi tre làm khí giới, đội mũ sắt, đánh đuổi giặc Ân. Giặc Ân tan, Thánh Gióng cùng với con ngựa sắt bay về trời. Cách về trời giống như câu chuyện của tiên trì Elia khi ông hoàn thành sứ vụ, ông về trời trong một cột lửa đưa dẫn.
Chử Đồng Tử: Theo dã sử, thời vua Hùng, có Tiên Dung công chúa nhân một buổi đi dạo mát, thấy nóng nực liền truyền lệnh cho cung nữ giăng màn ở ngoài bờ sông để tắm. có một người con trai nhà nghèo, dành chiếc khố duy nhất để mặc cho cha lúc mất. Không có gì che thân, chàng trai nghèo thường lẩn mình chờ đến tối mới ra ngoài. Hôm ấy, Tiên Dung công chúa giăng màn để tắm ngay chỗ của chàng trai đang dấu mình dưới cát. Lúc Tiên Dung công chúa tắm xong, chỗ nước dội của công chúa làm cát chôn thân mình của chàng trai trôi đi, lộ diện, chàng trai làm công chúa hoảng sợ, sau khi nghe thuật lại tự sự của mình, công chúa động lòng thương và suy nghĩ đây là duyên phận, liền sai thị nữ lấy quần áo mặc cho chàng trai và dẫn về cung xin vua cha cho kết thành phu phụ. Do chàng không có tên nên gọi Chử Đồng Tử, nghĩa là người con trai ở bờ sông. Do sự hiểu lầm từ Vua cha, rằng con gái làm loạn, Vua Hùng đem quân bố ráp, quần thần, Tiên Dung, Chử Đồng Tử và thành quách bỗng chốc bay lên trời, người dân lập nơi ấy thờ gọi là “Nhất Dạ Trạch”. Dân gian tin rằng Chử Đồng Tử hoá tiên, chuyên giúp người trần, chữa bệnh, cứu nạn, ông được xem là vị tổ của đạo tiên ở Việt Nam.
Mẫu Liễu Hạnh: là người trong hàng tứ phủ, được dân gian tin trong hàng bất tử, chuyên cứu giúp nhiều người và cũng là vị thần vui vẻ hay trêu đùa người khác. Mẫu Liễu Hạnh tuy có từ Đời Hậu Lê (thế kỷ XVI), theo Phan Kế Bính viết trong “Nam Hải dị nhân”, viết vào khoảng 1912, tạm tóm lược: Đời Lê Anh Tôn (1557), Lê Thái Công ở Nam Định thuộc dòng họ có phúc, sinh hạ được một con trai, cách năm sau, phu nhân có thai và mang bệnh lạ, mời thầy pháp đến, cầm cây búa bằng ngọc, niệm thần chú, ném cây búa xuống đất. Lê thái Công ngã xuống đất mê man. Trong khi Quỳnh Hoa dâng rượu thọ cho Lê Thái Công, lỡ tay bị làm rơi chén, chịu phạt xuống trần gian. Lê Thái Công sau khi lành bệnh, phu nhân sinh hạ một bé gái đặt tên là Giáng Tiên. Lớn lên Giáng Tiên càng ngày càng xinh đẹp, giỏi chữ và giỏi nhạc. Thái Công lo lắng cho Giáng Tiên làm con nuôi một người bạn họ Trần, rồi gả cho Đào Lang, chàng này gốc gác là con rơi, nhặt được bên gốc Đào, vì vậy có tên là Đào Lang. Vợ chồng Đào Lang ăn ở thuận hoà, sớm sanh được người con trai. Ba năm sau chẳng bệnh gì Giáng Tiên bỗng mất. Chôn cất xong Giáng Tiên hiện về, nói với mẹ, nàng đã hết hạn ở trần gian về chầu thượng đế chứ không phải là chết, rồi đây mẹ con sẽ đoàn tụ. Giáng Tiên cũng an ủi chồng. Từ đó, Giáng Tiên hay lui tới, thỉnh thoảng gặp ông Phùng Khắc Khoan, nàng xưng là Liễu Hạnh công chúa. Sau này, Liễu Hạnh hiển thánh ở Phố Cát, tỉnh Thanh Hoá, đôi khi hiện về làm cô hàng bán hàng nước, thanh niên cả gan dám trêu chọc đều bị chết. Triều đình cho là điềm gở, truyền quân lính bắn phá lên đền thờ. Trong dân bị dịch tễ, cầu khẩn cùng tiên chúa Liễu Hạnh thì hết. Từ bấy giờ người ta mới tin Liễu hạnh là tiên thánh thực sự. Từ đó tiếng lành đồn xa, nhiều người từ Nam chí Bắc đều thờ.
2. Bất Tử và Niềm tin Phục Sinh:
Niềm tin vào sự bất tử phản ánh một tâm thức siêu hình. Con người không mất đi trong sự tiêu tan trở về hư vô, nhưng là một cuộc hoá kiếp. Sống ngay lành thì được hoá tiên mà vượt qua được sự chết, đó là bảo chứng cho người ăn ngay ở lành, yêu quê hương yêu dân tộc. Cõi tâm linh đối với người Việt cũng là cõi hoá thân, thần lành và thần dữ. Đối với thần lành thì chạy đến gần mà kính, đối với thần dữ thì chạy xa và thí cô hồn để tránh cái ác. Nhiều người hay tưởng lầm, người Việt thờ cả thần dữ, nhưng thực ra việc thờ ấy giống như việc người ta sống dưới quyền cai trị của kẻ ác, thôi thì đòi gì dâng nấy, và thường tránh xa, kiêng tên, để thoả được chữ yên phận không bị quấy rầy hay bị phiền nhiễu bởi thần ác. Không phải là thờ mà là muốn tránh hay cho yên chuyện.
Từ niềm tin bất tử này dẫn đến niềm tin vào lẽ công bình làm kim chỉ nam cho cuộc sống, lấy những mẫu gương hiếu như Chử Đồng Tử mà bảo đảm cho việc được sinh vào cõi trời, hay những mẫu hiền lành và yêu quê hương như Thánh Gióng, được bay thẳng về trời, đó là phần thưởng của họ.
Bất tử là một niềm tin rất quan trọng, trong Tứ Bất tử không có thần ác, chứng tỏ rằng sự thiện bao giờ cũng bất tử, không bao giờ mất, dù có nhiều sự ác đè bẹp. Sự thiện là lối thoát cho nhiều con đường oan ức, tủi nhục mà con người đời nay khó tránh khỏi, trong lối đường đời sau. Nên rằng, niềm tin bất tử trở thành bảo chứng cho sự thiện trong đời này nỗ lực thực thi.
Trên bình diện lịch sử dân tộc, niềm tin bất tử trở thành bảo chứng cho sự tồn tại của quê hương, tạo nên sức mạnh để bảo vệ Đất Mẹ, hun đúc tinh thần gìn giữ văn hoá dân tộc, cấu thành giềng mối hiệp nhất trong một đất tổ.
Bất tử và đi thẳng vào cõi trời là niềm tin sẵn có trong văn hoá Việt, nay với giáo lý Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, là nguồn khả tín, minh chứng Đức Maria là người lành đức, phúc hậu, được sanh vào cõi trời mà không phải chết. Niềm tin này có ảnh hưởng sâu xa trong nhiều người dân Việt dù lương hay có đạo vẫn chạy đến mong được sờ vào áo Mẹ để xin may lành như thường thấy. Đức Maria được bay thẳng vào cõi trời là thành quả của việc Đức Giêsu, nghĩa là hoa trái của người con đã sống lại từ cõi chết, đúng như người ta thường nói: Vinh quang của người con là triều thiên cho cha mẹ.
Niềm tin Phục Sinh có cội rễ trong văn hóa dân tộc, như đã thấy, sự lành luôn chiến thắng sự ác. Triển khai về bản án của Đức Giêsu, ta có thể minh chứng điều đó. Theo Tin Mừng Thánh Gioan thuật lại: “ thượng tế và các người Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng và nói: "Chúng ta phải làm gì đây? Người này làm nhiều dấu lạ. Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-ma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta." Một người trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói rằng: "Các ông không hiểu gì cả, các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt." Điều đó, ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giê-su sắp phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối” (Ga 11, 47 -52). Ý niệm chết thay là một ý niệm mới lạ trong tứ bất tử, đó là đỉnh cao trong văn hóa Phúc Âm khi diễn tả trong niềm tin bất tử. Đức Giêsu, Ngài đón nhận sự chết khác với Tản Viên hóa thân trên núi, khác với Thánh Gióng bay thẳng vào cõi trời, khác với Chử đồng Tử và Liễu Hạnh hóa tiên và hóa Mẫu. Chấp nhận chết thay là điểm cơ bản như các Thượng Tế bàn hỏi và nói tiên tri: “Đức Giê-su sắp phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối”. Và đúng như việc Người chết thay để đánh bại sức mạnh cuối cùng của sự dữ là chết bằng việc Phục Sinh. Ngài đã sống lại và đó là niềm tin then chốt như Thánh Phao Lô quả quyết: “Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cor 15, 14).
Cần có một điểm tựa và một đích điểm cho mọi nền văn hóa. Trong các câu chuyện cổ về bất tử, lịch sử đã ghi nhận Đức Giêsu là chìa khóa giải mã để làm sáng lên trong văn hóa dân tộc ánh sáng Phúc Âm của Thiên Chúa.
Con người từ khi phải chết cũng đã bắt đầu đi tìm về sự sống trường tồn, giống như việc con người đi tìm lại thiên đàng đã mất sau khi đánh mất địa đàng. Sống là điều quan trọng, chết là một sự kiện không chối bỏ được, nên con người từ xa xưa đã đi tìm cho mình một con đường giải thóat khỏi sự kiện chết. Con đường tìm kiếm ấy, một phần nằm trong những câu truyện cổ, phác họa những khát khao.
Giữa niềm tin bất tử và niềm tin Phục Sinh có mối liên hệ sâu xa, con người từ khi phải chết đều hướng về sự sống một cách đầy tràn hy vọng để con người có điểm tựa cho mọi sinh tồn.
Trong văn hoá Việt đã có truyền thống tin tưởng vào sự bất tử, qua bốn nhân vật mà người ta gọi là Tứ Bất Tử.
1. Tứ Bất Tử:
Tản viên: Trong câu chuyện Sơn tinh và Thuỷ tinh, Sơn tinh là người núi Tản, lấy được Mỵ Nương con gái vua Hùng thứ 18, Thuỷ tinh đến sau không lấy được Mỵ Nương nên ghen tức làm nước dâng lên mỗi năm để đòi Mỵ Nương, nước dâng lên bao nhiêu thì núi cao lên bấy nhiêu, mối hằn thù đó cứ mỗi năm lại tiếp diễn. Cuối đời, Sơn Tinh lui về núi Ba Vì (Sơn Tây) và hoá tại đó. Tương truyền rằng, Sơn tinh là vị tổ trong Bách nghệ tổ sư, bởi ông đã dậy cho dân trăm nghề (lấy lửa, làm ruộng, săn bắt…), dân gian tin rằng ông là vị người - thần, biểu tượng sức mạnh của núi - rừng, gắn liền mối tương giao Lạc Việt và Âu Việt, Sông Đà - Núi Tản. Dân gian tin rằng ông là vị thần bất tử và đem lòng thờ kính. Truy nguyên câu chuyện Sơn Tinh và Thủy Tinh, chúng ta gặp ngay nguồn gốc câu chuyện Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Mẫu thượng ngàn xuất thân từ người trần, là con hay cháu Vua Hùng, có lòng yêu mến thiên nhiên, cây cỏ muông thú, người có phép tiên có thể mang lại ấm no, hạnh phúc cho dân lành. Từ đó hiển thánh và là mẫu bảo cho miền cao và miền núi. Ở Tây nguyên, tục thờ Mẫu do người Việt mang vào lại đồng nhất Mẫu Thượng Ngàn với Âu Cơ - Mẹ Tiên, sau khi từ biệt Bố Rồng - Lạc Long, đã mang theo 50 con lên núi, và Âu Cơ trở thành Mẫu Thượng Ngàn cai quản vùng núi đồi. Huyền thoại Mẫu Thoải nhiều nơi khác nhau, tuy nhiên cũng có nét cơ bản. Đó là vị thần trị vì sông nước, xuất thân từ dòng dõi Long Vương, có nguồn gốc từ Thuỷ thần, ít nhiều có nguồn gốc từ người trần, gắn bó bó với tình tự dân tộc, vừa mang nét huyền thoại vừa mang nét lịch sử, trong đó có Tản Viên, Lạc Long Quân, Kinh Dương Vương. Sự kết hợp giữa Tam Toà Thánh Mẫu có sự đan kết tư duy vũ trụ luận (Trời, đất, nước), tư duy siêu hình (Thiên Thần, Sơn Thần, và Thuỷ Thần) và tư duy lịch sử (Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hùng Vương).
Thánh Gióng: Đời Hùng Vương thứ 6 giặc Ân rất hùng mạnh, kéo sang xâm lược nước Văn Lang. Làng Phù Đổng, bộ Võ Ninh, có một nhà giàu tuổi đã 62, có người con trai lên 3 tuổi mà chưa biết nói, không ngồi hay đứng được. Khi sứ giả nhà Vua đến làng rao cầu người tài hiền ra cứu nước, cậu bé tự nhiên biết nói, xin gặp sứ giả, và xin sứ giả về xin vua cho đúc cho cậu con ngựa sắt, một thanh gươm và một nón sắt. Từ ấy cậu ăn rất nhiều và lớn nhanh như thổi.
Giặc Ân kéo đến núi Châu Sơn (Tiên Du - Hà Bắc), Cậu Gióng cưỡi ngựa sắt phun lửa, tay cầm kiếm, nhổ cả bụi tre làm khí giới, đội mũ sắt, đánh đuổi giặc Ân. Giặc Ân tan, Thánh Gióng cùng với con ngựa sắt bay về trời. Cách về trời giống như câu chuyện của tiên trì Elia khi ông hoàn thành sứ vụ, ông về trời trong một cột lửa đưa dẫn.
Chử Đồng Tử: Theo dã sử, thời vua Hùng, có Tiên Dung công chúa nhân một buổi đi dạo mát, thấy nóng nực liền truyền lệnh cho cung nữ giăng màn ở ngoài bờ sông để tắm. có một người con trai nhà nghèo, dành chiếc khố duy nhất để mặc cho cha lúc mất. Không có gì che thân, chàng trai nghèo thường lẩn mình chờ đến tối mới ra ngoài. Hôm ấy, Tiên Dung công chúa giăng màn để tắm ngay chỗ của chàng trai đang dấu mình dưới cát. Lúc Tiên Dung công chúa tắm xong, chỗ nước dội của công chúa làm cát chôn thân mình của chàng trai trôi đi, lộ diện, chàng trai làm công chúa hoảng sợ, sau khi nghe thuật lại tự sự của mình, công chúa động lòng thương và suy nghĩ đây là duyên phận, liền sai thị nữ lấy quần áo mặc cho chàng trai và dẫn về cung xin vua cha cho kết thành phu phụ. Do chàng không có tên nên gọi Chử Đồng Tử, nghĩa là người con trai ở bờ sông. Do sự hiểu lầm từ Vua cha, rằng con gái làm loạn, Vua Hùng đem quân bố ráp, quần thần, Tiên Dung, Chử Đồng Tử và thành quách bỗng chốc bay lên trời, người dân lập nơi ấy thờ gọi là “Nhất Dạ Trạch”. Dân gian tin rằng Chử Đồng Tử hoá tiên, chuyên giúp người trần, chữa bệnh, cứu nạn, ông được xem là vị tổ của đạo tiên ở Việt Nam.
Mẫu Liễu Hạnh: là người trong hàng tứ phủ, được dân gian tin trong hàng bất tử, chuyên cứu giúp nhiều người và cũng là vị thần vui vẻ hay trêu đùa người khác. Mẫu Liễu Hạnh tuy có từ Đời Hậu Lê (thế kỷ XVI), theo Phan Kế Bính viết trong “Nam Hải dị nhân”, viết vào khoảng 1912, tạm tóm lược: Đời Lê Anh Tôn (1557), Lê Thái Công ở Nam Định thuộc dòng họ có phúc, sinh hạ được một con trai, cách năm sau, phu nhân có thai và mang bệnh lạ, mời thầy pháp đến, cầm cây búa bằng ngọc, niệm thần chú, ném cây búa xuống đất. Lê thái Công ngã xuống đất mê man. Trong khi Quỳnh Hoa dâng rượu thọ cho Lê Thái Công, lỡ tay bị làm rơi chén, chịu phạt xuống trần gian. Lê Thái Công sau khi lành bệnh, phu nhân sinh hạ một bé gái đặt tên là Giáng Tiên. Lớn lên Giáng Tiên càng ngày càng xinh đẹp, giỏi chữ và giỏi nhạc. Thái Công lo lắng cho Giáng Tiên làm con nuôi một người bạn họ Trần, rồi gả cho Đào Lang, chàng này gốc gác là con rơi, nhặt được bên gốc Đào, vì vậy có tên là Đào Lang. Vợ chồng Đào Lang ăn ở thuận hoà, sớm sanh được người con trai. Ba năm sau chẳng bệnh gì Giáng Tiên bỗng mất. Chôn cất xong Giáng Tiên hiện về, nói với mẹ, nàng đã hết hạn ở trần gian về chầu thượng đế chứ không phải là chết, rồi đây mẹ con sẽ đoàn tụ. Giáng Tiên cũng an ủi chồng. Từ đó, Giáng Tiên hay lui tới, thỉnh thoảng gặp ông Phùng Khắc Khoan, nàng xưng là Liễu Hạnh công chúa. Sau này, Liễu Hạnh hiển thánh ở Phố Cát, tỉnh Thanh Hoá, đôi khi hiện về làm cô hàng bán hàng nước, thanh niên cả gan dám trêu chọc đều bị chết. Triều đình cho là điềm gở, truyền quân lính bắn phá lên đền thờ. Trong dân bị dịch tễ, cầu khẩn cùng tiên chúa Liễu Hạnh thì hết. Từ bấy giờ người ta mới tin Liễu hạnh là tiên thánh thực sự. Từ đó tiếng lành đồn xa, nhiều người từ Nam chí Bắc đều thờ.
2. Bất Tử và Niềm tin Phục Sinh:
Niềm tin vào sự bất tử phản ánh một tâm thức siêu hình. Con người không mất đi trong sự tiêu tan trở về hư vô, nhưng là một cuộc hoá kiếp. Sống ngay lành thì được hoá tiên mà vượt qua được sự chết, đó là bảo chứng cho người ăn ngay ở lành, yêu quê hương yêu dân tộc. Cõi tâm linh đối với người Việt cũng là cõi hoá thân, thần lành và thần dữ. Đối với thần lành thì chạy đến gần mà kính, đối với thần dữ thì chạy xa và thí cô hồn để tránh cái ác. Nhiều người hay tưởng lầm, người Việt thờ cả thần dữ, nhưng thực ra việc thờ ấy giống như việc người ta sống dưới quyền cai trị của kẻ ác, thôi thì đòi gì dâng nấy, và thường tránh xa, kiêng tên, để thoả được chữ yên phận không bị quấy rầy hay bị phiền nhiễu bởi thần ác. Không phải là thờ mà là muốn tránh hay cho yên chuyện.
Từ niềm tin bất tử này dẫn đến niềm tin vào lẽ công bình làm kim chỉ nam cho cuộc sống, lấy những mẫu gương hiếu như Chử Đồng Tử mà bảo đảm cho việc được sinh vào cõi trời, hay những mẫu hiền lành và yêu quê hương như Thánh Gióng, được bay thẳng về trời, đó là phần thưởng của họ.
Bất tử là một niềm tin rất quan trọng, trong Tứ Bất tử không có thần ác, chứng tỏ rằng sự thiện bao giờ cũng bất tử, không bao giờ mất, dù có nhiều sự ác đè bẹp. Sự thiện là lối thoát cho nhiều con đường oan ức, tủi nhục mà con người đời nay khó tránh khỏi, trong lối đường đời sau. Nên rằng, niềm tin bất tử trở thành bảo chứng cho sự thiện trong đời này nỗ lực thực thi.
Trên bình diện lịch sử dân tộc, niềm tin bất tử trở thành bảo chứng cho sự tồn tại của quê hương, tạo nên sức mạnh để bảo vệ Đất Mẹ, hun đúc tinh thần gìn giữ văn hoá dân tộc, cấu thành giềng mối hiệp nhất trong một đất tổ.
Bất tử và đi thẳng vào cõi trời là niềm tin sẵn có trong văn hoá Việt, nay với giáo lý Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, là nguồn khả tín, minh chứng Đức Maria là người lành đức, phúc hậu, được sanh vào cõi trời mà không phải chết. Niềm tin này có ảnh hưởng sâu xa trong nhiều người dân Việt dù lương hay có đạo vẫn chạy đến mong được sờ vào áo Mẹ để xin may lành như thường thấy. Đức Maria được bay thẳng vào cõi trời là thành quả của việc Đức Giêsu, nghĩa là hoa trái của người con đã sống lại từ cõi chết, đúng như người ta thường nói: Vinh quang của người con là triều thiên cho cha mẹ.
Niềm tin Phục Sinh có cội rễ trong văn hóa dân tộc, như đã thấy, sự lành luôn chiến thắng sự ác. Triển khai về bản án của Đức Giêsu, ta có thể minh chứng điều đó. Theo Tin Mừng Thánh Gioan thuật lại: “ thượng tế và các người Pha-ri-sêu triệu tập Thượng Hội Đồng và nói: "Chúng ta phải làm gì đây? Người này làm nhiều dấu lạ. Nếu chúng ta cứ để ông ấy tiếp tục, mọi người sẽ tin vào ông ấy, rồi người Rô-ma sẽ đến phá huỷ cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta." Một người trong Thượng Hội Đồng tên là Cai-pha, làm thượng tế năm ấy, nói rằng: "Các ông không hiểu gì cả, các ông cũng chẳng nghĩ đến điều lợi cho các ông là: thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt." Điều đó, ông không tự mình nói ra, nhưng vì ông là thượng tế năm ấy, nên đã nói tiên tri là Đức Giê-su sắp phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối” (Ga 11, 47 -52). Ý niệm chết thay là một ý niệm mới lạ trong tứ bất tử, đó là đỉnh cao trong văn hóa Phúc Âm khi diễn tả trong niềm tin bất tử. Đức Giêsu, Ngài đón nhận sự chết khác với Tản Viên hóa thân trên núi, khác với Thánh Gióng bay thẳng vào cõi trời, khác với Chử đồng Tử và Liễu Hạnh hóa tiên và hóa Mẫu. Chấp nhận chết thay là điểm cơ bản như các Thượng Tế bàn hỏi và nói tiên tri: “Đức Giê-su sắp phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối”. Và đúng như việc Người chết thay để đánh bại sức mạnh cuối cùng của sự dữ là chết bằng việc Phục Sinh. Ngài đã sống lại và đó là niềm tin then chốt như Thánh Phao Lô quả quyết: “Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cor 15, 14).
Cần có một điểm tựa và một đích điểm cho mọi nền văn hóa. Trong các câu chuyện cổ về bất tử, lịch sử đã ghi nhận Đức Giêsu là chìa khóa giải mã để làm sáng lên trong văn hóa dân tộc ánh sáng Phúc Âm của Thiên Chúa.