Tìm Về Những Kỷ Niệm.
Trần Bảo Kỳ
Thiên Chúa tạo ra con người với bộ óc tốt nhất vượt trên bộ óc mọi sinh vật. Thực vậy, trong bao nhiêu công việc mà bộ óc giúp con người sinh tồn, phát triển, nó còn là chiếc máy hình kỳ diệu; nó thu hình và tồn trữ hình suốt cả một cuộc đời con người. Người ta thường gọi những hình ảnh là những kỷ niệm và cái nơi tồn trữ đâu đó trong bộ óc là ký ức, là tiềm thức. Những kỷ niệm đầu đời của tôi, chắc chắn chúng nằm ở tận cùng ký ức, hay dưới đáy tiềm thức, mỗi lần hiện về sao mà rõ nét thế. Tôi cứ tưởng như chúng mới xảy ra ngày hôm qua, tất cả vẫn còn đó.
Với tôi, kỷ niệm đầu tiên chính là đêm lễ Giáng sinh năm một ngàn chín trăm bốn mươi mấy, đã hơn sáu mươi năm. Ðêm hôm ấy, trong lúc chờ lễ, các anh chi trưởng đưa chúng tôi ra sinh hoạt ở bãi cỏ có trồng hoa cạnh nhà thờ chính của thị xã. Sáu mươi năm, trên dưới một đời người, đã qua đi, nhưng bãi cỏ này vẫn còn rõ nét trước mắt tôi, và dường như tôi vẫn ngửi thấy thoang thoảng mùi thơm của những bông hoa nhiều màu sắc. Tôi định bụng sẽ trở về tìm lại nó, nhưng nghe nói nó không còn nữa. Không phải cỏ và hoa đã chết hay đã mọc hoang thành một cánh rừng dại, mà Nhà Nước đã trưng dụng miếng đất để xây nhà cửa, mở rộng thị xã. Tôi hơi tiếc. Ðất nước ta tuy nhỏ, nhưng đâu có nhỏ tới mức mà Nhà Nước phải trưng dụng một miếng đất nhỏ xíu để xây thêm nhà cửa. Vậy là bãi cỏ này chỉ còn mãi mãi nằm sâu trong ký ức của tôi mà thôi.
Ðêm hôm ấy, ngoài ca hát, chơi những trò trẻ con, còn có một màn kịch mà tôi không thể nào quên được. Các anh chị trưởng lấy bàn ghế kê với nhau, và lấy mấy miếng vải lớn bao lại giống hình một cái hộp mà các anh chi ấy giải thích là chiếc máy rađiô. Quả thực, chúng tôi chưa thấy cái rađiô bao giờ. Rồi các anh chị ấy chui vào trong đó phát thanh cho chúng tôi nghe về Chúa, kể chuyện vui mà chúng tôi cứ cười lăn ra thôi. Cho mãi tới ngày nay, tôi vẫn nhận thấy rằng kể chuyện vui là một biệt tài. Quý vị có tin không chứ? Cũng câu chuyện ấy, cũng người ấy kể đi kể lại nhiều lần, vậy mà mỗi lần nghe lại là mỗi lần tôi cười chảy cả nước mắt, phải ôm bụng bỏ chạy đi nơi khác. Và cũng câu chuyện ấy, khi tôi bắt chước kể lại thì chẳng ai cười cả. Tôi thật là vô duyên.
Kỷ niệm thứ hai của tôi chính là ngày đầu tiên cắp sách đến trưòng, tôi khóc quá, cứ ôm lấy cột nhà không chịu đi. Chị tôi vừa gỡ tay tôi ra vừa dỗ ngon dỗ ngọt, nào là các ma-sơ hiền lắm, yêu con nít lắm, nào là tôi sẽ có bạn bè vui lắm. Ðương nhiên là tôi phải đi thôi, nhưng bảo chị tôi phải đứng ngoài cửa sổ lớp học cho tôi nắm tay. Vậy là chi tôi phải xin với ma-sơ cho tôi ngồi cạnh cửa sổ. Nắm tay chị tôi được một lúc thì lúc nào đó tôi lơ là, chị tôi rút tay ra và biến mất. Không biết chị tôi có đứng đâu đó phòng khi tôi khóc to không, nhưng tôi chỉ xụt xịt, liếc nhìn ma-sơ, rồi im bặt. Cái lớp học đó, cái dãy lớp học đó còn rõ nét trong ký ức của tôi và tôi cũng định bụng sẽ về tìm lại nó, nhưng cũng cùng chung số phận như bãi cỏ, tôi nghe nói Nhà Nước đã trưng dụng khuôn viên dòng các ma-sơ áo trắng này để dùng vào việc công. Thêm một kỷ niệm nữa sẽ chỉ mãi nằm trong ký ức của tôi mà thôi.
Kỷ niệm thứ ba là những ngày tôi đi học bổn, mà ngày nay chúng ta gọi là học giáo lý, để chuẩn bị xưng tội rước lễ lần đầu. Thời gian ấy, cách mạng chống thực dân Pháp giành độc lập bùng nổ, mọi người được lệnh tản cư và tiêu thổ kháng chiến, thị xã trở thành bình địa, ngoại trừ các chùa chiền và nhà thờ. Gia đình tôi về quê ngoại, một làng cách thị xã khoảng mười sáu ki lô mét. Ngày ấy, đi bộ mười sáu ki lô mét cũng gần hết nửa ngày. Nhà bà ngoại tôi ở sát nhà thờ họ đạo. Nhà thờ nhỏ lắm vì họ đạo chỉ có hơn mười gia đình, kể cả vài gia đình ở làng kế cận. Nhà thờ hướng ra một cái ao, được xây bằng gạch và lợp ngói hẳn hoi, nhưng nền trong nhà thờ cũng như sân cao ở cuối nhà thờ thì chỉ được làm bằng đất sét nện chặt.
Họ đạo nhỏ nên không có Cha, thỉnh thoảng Cha mới về, quý hóa lắm. Trong nhà thờ không có bàn ghế gì cả. Giáo dân đi lễ hoặc đi đọc kinh thì mỗi người cắp nách theo một cái chiếu nhỏ mà hồi đó gọi là chiếu manh, một người ngồi thì thoải mái, hai người thì phải ngồi sát vào nhau. Con nít chúng tôi thì thường ngồi bẹp xuống đất, đứa nào có dép hay có guốc thì ngồi lên dép hay lên guốc. Chúng tôi học bổn trong nhà thờ để được yên tĩnh hơn. Sau những buổi học bổn thì chúng tôi thường được phát cho mỗi đứa một cái bánh tráng nướng, còn gọi là bánh đa, và vài viên kẹo đường, một thứ kẹo do đường vàng trộn với ít bột nấu lên với nhau, lăn qua một lớp bột cho khỏi dính, không có giấy bọc, lúc mới ra lò thì nhai dòn dòn, ra gió lâu một chút thì nhai như cục bột. Trước khi phát bánh đa và kẹo, thầy dạy bổn bảo chúng tôi ra ao rửa tay rồi chùi vào quần áo, vệ sinh chỉ có vậy thôi. Kỷ niệm này, nếu tôi có dịp về tìm lại nó, chắc vẫn còn đấy. Tôi hy vọng vậy, vì nó chẳng đáng gì cho ai tranh chấp. Tôi hy vọng sẽ lại được ngồi bẹp xuống nền nhà thờ bằng đất sét nện chặt, để tìm lại cảm giác lành lạnh cái đít, để quay nhìn ra sau thấy cái đũng quần đen đen.
Trong thời gian tản cư ở quê ngoại, cũng như phải di chuyển đi vùng khác vì ly do an ninh, mẹ tôi luôn luôn tìm thày cho tôi đi học. Lớp học chỉ là hè nhà của một gia đình khá giả trong vùng, không có bàn ghế. Thường chúng tôi phải đến lớp sớm để phụ với thầy giáo gỡ hai cánh cửa nhà trên của chủ nhà, một đầu kê vào bực cửa cao ra vào, đầu kia kê trên mấy cái ghế, và chhúng tôi ngồi bẹp xuống đất. Vì phải di chuyển thường, suốt bậc tiểu học, có lớp tôi chỉ học được vài ba tháng, có lớp chẳng được tháng nào.
Khi nghe tin linh mục Nguyễn Thái Bá được phép Nhà Nước mượn một số lớp trong tu viện các ma-sơ áo trắng để mở một số lớp bậc trung học ở thị xã, vì dường như trong toàn tỉnh không có, hoặc có rất ít các lớp bậc trung học. mẹ tôi bèn dành dụm gởi tôi về trọ học ở một gia đình trên thị xã. Thị xã chỉ còn là một đống gạch vụn, gạch còn lành thì người ta đã đập hoặc đào mang đi bán ở đâu không biết. Chủ nhà tôi trọ là một cặp vợ chồng còn trẻ, người vợ đang mang thai. Nhà họ là ‘một mái tranh’ đúng nghĩa, dựng dựa sát vào bờ tường của tu viện Mến Thánh Giá. Tôi còn nhớ mấy ngày liền đi học về ăn cơm, món ăn chỉ là mấy trái cà pháo nhỏ bằng đầu ngón tay, chấm với mắm tôm sống dằm ớt. Tôi bỗng bật khóc. Người chồng thấy vậy bèn đến giảng giải cho tôi vì vợ anh mới sinh nên không đi chợ được. Rồi anh ta lan man kể cho tôi nghe chuyện Chúa Giêsu chịu nạn đau đớn như thế nào, thế mà Chúa còn chịu được, huống chi mới có mấy ngày tôi phải ăn cơm với cà pháo chấm mắm tôm dằm ớt mà đã khóc. Tôi xụt xịt nghe anh nói nhưng có tiếng nào lọt được vào tai đâu, chúng cứ bay đi thôi. Thực ra thì tôi cũng chỉ mong có một miếng đậu hũ, chấm mắm tôm cũng được. Và cái điều tôi mong muốn trở thành sự thực, ngay ngày hôm sau, tôi có một miếng đậu hũ sống, nghĩa là không chiên, và chén mắm tôm dằm ớt nhưng lần này có thêm tí chanh. Ðó là lần thứ hai tôi khóc trong quãng đời đi học.
(còn tiếp)
Trần Bảo Kỳ
Thiên Chúa tạo ra con người với bộ óc tốt nhất vượt trên bộ óc mọi sinh vật. Thực vậy, trong bao nhiêu công việc mà bộ óc giúp con người sinh tồn, phát triển, nó còn là chiếc máy hình kỳ diệu; nó thu hình và tồn trữ hình suốt cả một cuộc đời con người. Người ta thường gọi những hình ảnh là những kỷ niệm và cái nơi tồn trữ đâu đó trong bộ óc là ký ức, là tiềm thức. Những kỷ niệm đầu đời của tôi, chắc chắn chúng nằm ở tận cùng ký ức, hay dưới đáy tiềm thức, mỗi lần hiện về sao mà rõ nét thế. Tôi cứ tưởng như chúng mới xảy ra ngày hôm qua, tất cả vẫn còn đó.
Với tôi, kỷ niệm đầu tiên chính là đêm lễ Giáng sinh năm một ngàn chín trăm bốn mươi mấy, đã hơn sáu mươi năm. Ðêm hôm ấy, trong lúc chờ lễ, các anh chi trưởng đưa chúng tôi ra sinh hoạt ở bãi cỏ có trồng hoa cạnh nhà thờ chính của thị xã. Sáu mươi năm, trên dưới một đời người, đã qua đi, nhưng bãi cỏ này vẫn còn rõ nét trước mắt tôi, và dường như tôi vẫn ngửi thấy thoang thoảng mùi thơm của những bông hoa nhiều màu sắc. Tôi định bụng sẽ trở về tìm lại nó, nhưng nghe nói nó không còn nữa. Không phải cỏ và hoa đã chết hay đã mọc hoang thành một cánh rừng dại, mà Nhà Nước đã trưng dụng miếng đất để xây nhà cửa, mở rộng thị xã. Tôi hơi tiếc. Ðất nước ta tuy nhỏ, nhưng đâu có nhỏ tới mức mà Nhà Nước phải trưng dụng một miếng đất nhỏ xíu để xây thêm nhà cửa. Vậy là bãi cỏ này chỉ còn mãi mãi nằm sâu trong ký ức của tôi mà thôi.
Ðêm hôm ấy, ngoài ca hát, chơi những trò trẻ con, còn có một màn kịch mà tôi không thể nào quên được. Các anh chị trưởng lấy bàn ghế kê với nhau, và lấy mấy miếng vải lớn bao lại giống hình một cái hộp mà các anh chi ấy giải thích là chiếc máy rađiô. Quả thực, chúng tôi chưa thấy cái rađiô bao giờ. Rồi các anh chị ấy chui vào trong đó phát thanh cho chúng tôi nghe về Chúa, kể chuyện vui mà chúng tôi cứ cười lăn ra thôi. Cho mãi tới ngày nay, tôi vẫn nhận thấy rằng kể chuyện vui là một biệt tài. Quý vị có tin không chứ? Cũng câu chuyện ấy, cũng người ấy kể đi kể lại nhiều lần, vậy mà mỗi lần nghe lại là mỗi lần tôi cười chảy cả nước mắt, phải ôm bụng bỏ chạy đi nơi khác. Và cũng câu chuyện ấy, khi tôi bắt chước kể lại thì chẳng ai cười cả. Tôi thật là vô duyên.
Kỷ niệm thứ hai của tôi chính là ngày đầu tiên cắp sách đến trưòng, tôi khóc quá, cứ ôm lấy cột nhà không chịu đi. Chị tôi vừa gỡ tay tôi ra vừa dỗ ngon dỗ ngọt, nào là các ma-sơ hiền lắm, yêu con nít lắm, nào là tôi sẽ có bạn bè vui lắm. Ðương nhiên là tôi phải đi thôi, nhưng bảo chị tôi phải đứng ngoài cửa sổ lớp học cho tôi nắm tay. Vậy là chi tôi phải xin với ma-sơ cho tôi ngồi cạnh cửa sổ. Nắm tay chị tôi được một lúc thì lúc nào đó tôi lơ là, chị tôi rút tay ra và biến mất. Không biết chị tôi có đứng đâu đó phòng khi tôi khóc to không, nhưng tôi chỉ xụt xịt, liếc nhìn ma-sơ, rồi im bặt. Cái lớp học đó, cái dãy lớp học đó còn rõ nét trong ký ức của tôi và tôi cũng định bụng sẽ về tìm lại nó, nhưng cũng cùng chung số phận như bãi cỏ, tôi nghe nói Nhà Nước đã trưng dụng khuôn viên dòng các ma-sơ áo trắng này để dùng vào việc công. Thêm một kỷ niệm nữa sẽ chỉ mãi nằm trong ký ức của tôi mà thôi.
Kỷ niệm thứ ba là những ngày tôi đi học bổn, mà ngày nay chúng ta gọi là học giáo lý, để chuẩn bị xưng tội rước lễ lần đầu. Thời gian ấy, cách mạng chống thực dân Pháp giành độc lập bùng nổ, mọi người được lệnh tản cư và tiêu thổ kháng chiến, thị xã trở thành bình địa, ngoại trừ các chùa chiền và nhà thờ. Gia đình tôi về quê ngoại, một làng cách thị xã khoảng mười sáu ki lô mét. Ngày ấy, đi bộ mười sáu ki lô mét cũng gần hết nửa ngày. Nhà bà ngoại tôi ở sát nhà thờ họ đạo. Nhà thờ nhỏ lắm vì họ đạo chỉ có hơn mười gia đình, kể cả vài gia đình ở làng kế cận. Nhà thờ hướng ra một cái ao, được xây bằng gạch và lợp ngói hẳn hoi, nhưng nền trong nhà thờ cũng như sân cao ở cuối nhà thờ thì chỉ được làm bằng đất sét nện chặt.
Họ đạo nhỏ nên không có Cha, thỉnh thoảng Cha mới về, quý hóa lắm. Trong nhà thờ không có bàn ghế gì cả. Giáo dân đi lễ hoặc đi đọc kinh thì mỗi người cắp nách theo một cái chiếu nhỏ mà hồi đó gọi là chiếu manh, một người ngồi thì thoải mái, hai người thì phải ngồi sát vào nhau. Con nít chúng tôi thì thường ngồi bẹp xuống đất, đứa nào có dép hay có guốc thì ngồi lên dép hay lên guốc. Chúng tôi học bổn trong nhà thờ để được yên tĩnh hơn. Sau những buổi học bổn thì chúng tôi thường được phát cho mỗi đứa một cái bánh tráng nướng, còn gọi là bánh đa, và vài viên kẹo đường, một thứ kẹo do đường vàng trộn với ít bột nấu lên với nhau, lăn qua một lớp bột cho khỏi dính, không có giấy bọc, lúc mới ra lò thì nhai dòn dòn, ra gió lâu một chút thì nhai như cục bột. Trước khi phát bánh đa và kẹo, thầy dạy bổn bảo chúng tôi ra ao rửa tay rồi chùi vào quần áo, vệ sinh chỉ có vậy thôi. Kỷ niệm này, nếu tôi có dịp về tìm lại nó, chắc vẫn còn đấy. Tôi hy vọng vậy, vì nó chẳng đáng gì cho ai tranh chấp. Tôi hy vọng sẽ lại được ngồi bẹp xuống nền nhà thờ bằng đất sét nện chặt, để tìm lại cảm giác lành lạnh cái đít, để quay nhìn ra sau thấy cái đũng quần đen đen.
Trong thời gian tản cư ở quê ngoại, cũng như phải di chuyển đi vùng khác vì ly do an ninh, mẹ tôi luôn luôn tìm thày cho tôi đi học. Lớp học chỉ là hè nhà của một gia đình khá giả trong vùng, không có bàn ghế. Thường chúng tôi phải đến lớp sớm để phụ với thầy giáo gỡ hai cánh cửa nhà trên của chủ nhà, một đầu kê vào bực cửa cao ra vào, đầu kia kê trên mấy cái ghế, và chhúng tôi ngồi bẹp xuống đất. Vì phải di chuyển thường, suốt bậc tiểu học, có lớp tôi chỉ học được vài ba tháng, có lớp chẳng được tháng nào.
Khi nghe tin linh mục Nguyễn Thái Bá được phép Nhà Nước mượn một số lớp trong tu viện các ma-sơ áo trắng để mở một số lớp bậc trung học ở thị xã, vì dường như trong toàn tỉnh không có, hoặc có rất ít các lớp bậc trung học. mẹ tôi bèn dành dụm gởi tôi về trọ học ở một gia đình trên thị xã. Thị xã chỉ còn là một đống gạch vụn, gạch còn lành thì người ta đã đập hoặc đào mang đi bán ở đâu không biết. Chủ nhà tôi trọ là một cặp vợ chồng còn trẻ, người vợ đang mang thai. Nhà họ là ‘một mái tranh’ đúng nghĩa, dựng dựa sát vào bờ tường của tu viện Mến Thánh Giá. Tôi còn nhớ mấy ngày liền đi học về ăn cơm, món ăn chỉ là mấy trái cà pháo nhỏ bằng đầu ngón tay, chấm với mắm tôm sống dằm ớt. Tôi bỗng bật khóc. Người chồng thấy vậy bèn đến giảng giải cho tôi vì vợ anh mới sinh nên không đi chợ được. Rồi anh ta lan man kể cho tôi nghe chuyện Chúa Giêsu chịu nạn đau đớn như thế nào, thế mà Chúa còn chịu được, huống chi mới có mấy ngày tôi phải ăn cơm với cà pháo chấm mắm tôm dằm ớt mà đã khóc. Tôi xụt xịt nghe anh nói nhưng có tiếng nào lọt được vào tai đâu, chúng cứ bay đi thôi. Thực ra thì tôi cũng chỉ mong có một miếng đậu hũ, chấm mắm tôm cũng được. Và cái điều tôi mong muốn trở thành sự thực, ngay ngày hôm sau, tôi có một miếng đậu hũ sống, nghĩa là không chiên, và chén mắm tôm dằm ớt nhưng lần này có thêm tí chanh. Ðó là lần thứ hai tôi khóc trong quãng đời đi học.
(còn tiếp)