SỐNG MÙA CHAY
Muà Chay là mùa quan trọng nhất trong năm của người tín hữu Công Giáo, là thời điểm Giáo Hội muốn nhắc nhở mọi người thống hối để chuẩn bị cho cuộc tử nạn của Đức Kitô và sự Phục Sinh của Người.
Nguồn gốc của mùa Chay
Theo lịch sử, Mùa Chay Thánh gồm 40 ngày, bắt đầu từ ngày thứ Tư Lễ Tro cho đến ngày thứ Bảy Tuần Thánh, không tính các ngày Chủ Nhật, vì Chủ Nhật được coi là ngày cử hành việc Chúa sống lại. Tuy nhiên, ngày nay việc cử hành Mùa Chay cũng gồm 40 ngày, được tính từ Chúa Nhật thứ Nhất Muà Chay đến chiều thứ Năm Tuần Thánh, là lúc cử hành thánh lễ Tiệc Ly vào ban chiều, trong đó Chúa lập bí tích Thánh Thể, rửa chân cho 12 môn đệ và truyền lại giới răn mới.
Mùa Chay kéo dài 40 ngày, trước hết để nhớ lại 40 ngày Chúa Giêsu ăn chay và cầu nguyện nơi hoang địa, trước khi Người ra rao giảng.
Phúc Âm cuả ba thánh sử Matthew, Luca và Mátcô đều ghi lại biến cố Đức Kitô ăn chay và chịu qủy cám dỗ. Thánh Matthew đoạn 4 thuật lại: “Bấy giờ Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu qủy cám dỗ. Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và ngay sau đó người thấy đói” (Mt. 4:1-2).
Phúc Âm Thánh Luca trình thuật cũng tương tự: “Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về. Suốt bốn mươi đêm ngày, Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu qủy cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả, và khi hết thời gian đó, thì Người thấy đói.” (Lk 4:1-3).
Tin Mừng theo thánh Mátcô kể lại việc Người được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Giođan, khi ra khỏi nước Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như hình chim bồ câu ngự xuống trên mình, và có tiếng từ trời phán, “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con”. Sau đó, thánh Mátcô thuật lại việc Chúa bị cám dỗ trong sa mạc: “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người” (Mc 1:12-13).
Các sách Phúc Âm nói rằng, vào cuối thời gian ăn chay, Satan đã ba lần tìm cách thử thách Chúa và Chúa đã xua đuổi một cách thành công các cuộc tấn công nầy.
Thời gian Muà Chay 40 ngày cũng để nhớ lại 40 đêm ngày ông Maisen cầu nguyện trên núi Sinai và được Chúa trao cho 10 điều răn (XH 24:18). “Maisen ở đó với Đức Chúa bốn mươi ngày bốn mươi đêm, không ăn không uống, và ông viết trên những bia các điều khoản của giao ước, tức là Mười Điều Răn” (XH 34:18).
Rồi 40 ngày còn để nhớ lại trật lụt Hồng Thủy kéo dài 40 ngày 40 đêm, cũng như cuộc hành trình 40 ngày trong sa mạc của Tiên Tri Êlia, lúc ông trốn khỏi cơn thịnh nộ của Hoàng Hậu I-de-ven, để đi xa và rồi Chúa trao cho ông sứ vụ mới (1Vua: 19).
Ý nghĩa của Mùa Chay
Đức cha Ngô Quang Kiệt, trong bài chia sẻ Mùa Chay tháng 2 năm 2002, đã nói: “Nhiều người thắc mắc: Ăn chay là gì? Phải chăng là để dằn vặt thân xác, hành khổ con người cho Chúa vui lòng? “ Ngài nói, “Hỏi như vậy là chưa hiểu đạo, chưa hiểu hết ý nghĩa của việc ăn chay. Chúa đâu phải độc ác, bệnh hoạn, vui lòng khi thấy con người chịu khốn khổ.” Ngài nói, “Ăn chay một phần để hy sinh đền tội, nhưng mục đích chính của việc ăn chay là thao luyện tâm hồn chống lại qủi dữ”.
Mùa Chay của Giáo Hội Công Giáo là thời kỳ chuẩn bị trong cầu nguyện, sám hối, suy tư, trong thanh vắng bằng những hy sinh, những công việc bác ái, đặc biệt đối với các anh chị em nghèo khổ, để chúng ta có thể được tái sinh thiêng liêng trong ngày Chúa Phục Sinh.
Trong Sứ Điệp Mùa Chay 2002, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ II đã nói, “Mùa Chay là thời gian quan phòng nhằm hoán cải, giúp chúng ta chiêm ngưỡng tình yêu lạ lùng của Đức Kitô.” Ngài đã chọn một câu Phúc Âm của thánh Matthew làm chủ đề cho sứ điệp của ngài: “Anh em đã được ban tặng nhưng không, anh em cũng hãy cho không như vậy” (Mt 10:8).
Gương mẫu của Đức Kitô khi Người tự hiến trên Đồi Canvê đặc biệt trong Mùa Chay giúp chúng ta hiểu rằng cuộc sống chúng ta được Người cứu chuộc. Nhờ Chúa Thánh Thần, Người canh tân cuộc sống, làm cho chúng ta tham dự vào sự sống của Thiên Chúa và cảm nếm tình yêu của Người. Đây là một qùa tặng tuyệt vời mà là Kitô hữu, chúng ta phải vui mừng loan báo.
Thực hành sống Mùa Chay
Mùa Chay, theo truyền thống của Giáo Hội Công Giáo, là để thực thi ba điều căn bản:
Ăn Chay:
Xã hội ngày nay là một xã hội tiêu thụ. Nó khuyến khích người ta tiêu xài, mua sắm càng nhiều càng tốt. Nhưng tiêu thụ nhiều làm con người dễ ra hư hỏng. Những người nghiện ngập rượu chè, xì ke, bài bạc cho chúng ta thấy rõ điều đó. Họ dùng qúa liều và đâm ghiền.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ II nói: “Ăn chay tốt cho thân xác, tốt cho linh hồn”.
Ăn chay là một sự tự chế, thao luyện tâm hồn để chống lại qủy dữ. Sách Lễ Rôma, trong lời nguyện nhập lễ, đọc rằng: “Lạy Chúa, ngày hôm nay, tất cả chúng con ăn chay, hãm mình, để bước vào mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng. Xin giúp chúng con hằng biết sống khắc khổ, để ngày thêm vững mạnh mà chiến thắng ác thần”.
Và lời Tiền Tụng Mùa Chay cũng đọc rằng: “Lạy Cha, Cha muốn chúng con dùng việc hãm mình để cảm tạ Cha. Nhờ đó, chúng con là những người tội lỗi, giảm bớt được tính kiêu căng và khi giúp nuôi dưỡng những người thiếu thốn, chúng con biết noi theo lòng nhân hậu của Cha”.
Vậy mục tiêu của việc ăn chay kiêng thịt là để rèn luyện ý chí, nhờ khắc khổ trong việc ăn uống và tiêu xài, để chúng ta đương đầu và thắng các chước cám dỗ, đồng thời có thêm tiền bạc để giúp đỡ người nghèo.
Nhưng thái độ ăn chay của chúng ta phải thế nào? Chúa nói: “Khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức gỉa: Chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay, ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt. 6:16-18).
Mùa chay nầy, Chúa kêu gọi chúng ta trở về với Chúa. Muốn trở về với Chúa, chúng ta phải chiến đấu chống lại ma qủy, tập luyện bỏ ý riêng mình và tìm vâng phục ý Ngài. Thiên Chuá là Đấng giầu lòng thương, nếu biết trông cậy và phó thác, chúng ta sẽ được Ngài ban cho sức mạnh cần thiết để đủ sức chống lại các chước cám dỗ.
Cầu nguyện:
Mùa Chay kêu gọi chúng ta cầu nguyện.
Nhưng chúng ta cầu nguyện thế nào? Thánh Gioan Kim Khẩu nói, “Dù ở ngoài chợ hay đi dạo một mình, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện và cầu nguyện sốt sắng. Ngồi trong tiệm của bạn, hoặc khi mua bán, cả khi làm bếp, bạn vẫn có thể cầu nguyện”.
Trong Mùa Chay, chúng ta cần cố gắng hơn trong việc đọc Phúc Âm, Sách Thánh, các sách thao luyện tâm hồn, tham dự các lễ nghi phụng tự, lãnh nhận Phép Thánh Thể và các phép bí tích khác, hoặc ngắm nguyện, đọc kinh, hát ca Thánh Vịnh.
Cầu nguyện cũng có nghĩa là tham dự vào phụng vu. Qua việc tham dự các lễ nghi phụng vụ, người tín hữu được tháp nhập một cách sâu sắc vào nhiệm thể Chúa Kitô.
Việc ăn chay chúng ta có thể lâu lâu mới làm một lần, nhưng cầu nguyện là một việc mà người tín hữu phải làm thường xuyên. Cầu nguyện, có thể là những lời nguyện tắt, nhưng ít nhất một ngày phải vài ba lần. Cầu nguyện giúp chúng ta khiêm tốn hơn và tâm hồn bình an hơn.
Làm việc bác ái:
Muà Chay là thời giờ khám phá ra các nhu cầu của anh chị em mình và nhắc nhở chúng ta tìm mọi cách để gặp gỡ và giúp đỡ những người đau khổ thể xác cũng như tinh thần.
Trong Sứ Điệp Mùa Chay năm 2002, Đức Giáo Hoàng trích dẫn câu hỏi của thánh Phaolô trong thư thứ Nhất gửi Corintô: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” (1Cor 4:7). Và Đức Thánh Cha tiếp, “Một khi đã nhìn nhận như thế thì bạn phải yêu mến anh chị em và hy sinh cho họ.”
Vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh, Giáo Hội cử hành Lễ Chúa Rửa Chân cho các môn đệ và tường thuật lại việc Chúa Giêsu truyền một giới răn mới được gọi là luật Yêu Thương: “Thầy truyền cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm nầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Jn 13: 34-35).
Thế nhưng, yêu thương như thế nào? Đức Khổng Tử dạy chúng ta: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”, nghĩa là điều gì chúng ta không muốn người ta làm cho mình thì mình đừng làm cho người ta. Chuá Giêsu dạy chúng ta một cách tích cực hơn. Ngài nói: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em hãy làm cho người ta” (Mt. 7:12).
Mẹ Teresa thành Calculta nói, “Hãy cho cho đến khi bạn thấy đau mới là cử chỉ bác ái”. Đây là mức lý tưởng, nhưng thiết nghĩ nếu mình có tiền, “Ai xin thì cứ cho”. Và chia sớt cho mỗi nơi một chút, đừng dồn vào một chỗ.
Trong Muà Chay, người tín hữu cần đặc biệt làm việc bác ái qua các hành động cụ thể. Giúp đỡ tiền bạc đã đành, nhưng chúng ta còn có thể làm các việc khác như hy sinh thì giờ, sức lực cho các việc công ích, tha thứ cho kẻ làm mất lòng mình, bớt nóng giận, làm hoà với người mình có chuyện bất hòa… Trong thực tế, làm các hành vi nầy nhiều khi còn khó khăn hơn là hy sinh tiền bạc.
Mùa Chay đòi hỏi chúng ta thống hối để kết hiệp một cách mật thiết vào cuộc tử nạn của Chúa Kitô, để cùng hưởng sự Phục Sinh vinh hiển của Người. Vì vậy, ăn chay hãm mình, cầu nguyện và làm việc bác ái là thực hành sống những điều cốt yếu của tinh thần Mùa Chay.
Muà Chay là mùa quan trọng nhất trong năm của người tín hữu Công Giáo, là thời điểm Giáo Hội muốn nhắc nhở mọi người thống hối để chuẩn bị cho cuộc tử nạn của Đức Kitô và sự Phục Sinh của Người.
Nguồn gốc của mùa Chay
Theo lịch sử, Mùa Chay Thánh gồm 40 ngày, bắt đầu từ ngày thứ Tư Lễ Tro cho đến ngày thứ Bảy Tuần Thánh, không tính các ngày Chủ Nhật, vì Chủ Nhật được coi là ngày cử hành việc Chúa sống lại. Tuy nhiên, ngày nay việc cử hành Mùa Chay cũng gồm 40 ngày, được tính từ Chúa Nhật thứ Nhất Muà Chay đến chiều thứ Năm Tuần Thánh, là lúc cử hành thánh lễ Tiệc Ly vào ban chiều, trong đó Chúa lập bí tích Thánh Thể, rửa chân cho 12 môn đệ và truyền lại giới răn mới.
Mùa Chay kéo dài 40 ngày, trước hết để nhớ lại 40 ngày Chúa Giêsu ăn chay và cầu nguyện nơi hoang địa, trước khi Người ra rao giảng.
Phúc Âm cuả ba thánh sử Matthew, Luca và Mátcô đều ghi lại biến cố Đức Kitô ăn chay và chịu qủy cám dỗ. Thánh Matthew đoạn 4 thuật lại: “Bấy giờ Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu qủy cám dỗ. Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và ngay sau đó người thấy đói” (Mt. 4:1-2).
Phúc Âm Thánh Luca trình thuật cũng tương tự: “Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về. Suốt bốn mươi đêm ngày, Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu qủy cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả, và khi hết thời gian đó, thì Người thấy đói.” (Lk 4:1-3).
Tin Mừng theo thánh Mátcô kể lại việc Người được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Giođan, khi ra khỏi nước Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như hình chim bồ câu ngự xuống trên mình, và có tiếng từ trời phán, “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con”. Sau đó, thánh Mátcô thuật lại việc Chúa bị cám dỗ trong sa mạc: “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ, sống giữa loài dã thú, và có các thiên sứ hầu hạ Người” (Mc 1:12-13).
Các sách Phúc Âm nói rằng, vào cuối thời gian ăn chay, Satan đã ba lần tìm cách thử thách Chúa và Chúa đã xua đuổi một cách thành công các cuộc tấn công nầy.
Thời gian Muà Chay 40 ngày cũng để nhớ lại 40 đêm ngày ông Maisen cầu nguyện trên núi Sinai và được Chúa trao cho 10 điều răn (XH 24:18). “Maisen ở đó với Đức Chúa bốn mươi ngày bốn mươi đêm, không ăn không uống, và ông viết trên những bia các điều khoản của giao ước, tức là Mười Điều Răn” (XH 34:18).
Rồi 40 ngày còn để nhớ lại trật lụt Hồng Thủy kéo dài 40 ngày 40 đêm, cũng như cuộc hành trình 40 ngày trong sa mạc của Tiên Tri Êlia, lúc ông trốn khỏi cơn thịnh nộ của Hoàng Hậu I-de-ven, để đi xa và rồi Chúa trao cho ông sứ vụ mới (1Vua: 19).
Ý nghĩa của Mùa Chay
Đức cha Ngô Quang Kiệt, trong bài chia sẻ Mùa Chay tháng 2 năm 2002, đã nói: “Nhiều người thắc mắc: Ăn chay là gì? Phải chăng là để dằn vặt thân xác, hành khổ con người cho Chúa vui lòng? “ Ngài nói, “Hỏi như vậy là chưa hiểu đạo, chưa hiểu hết ý nghĩa của việc ăn chay. Chúa đâu phải độc ác, bệnh hoạn, vui lòng khi thấy con người chịu khốn khổ.” Ngài nói, “Ăn chay một phần để hy sinh đền tội, nhưng mục đích chính của việc ăn chay là thao luyện tâm hồn chống lại qủi dữ”.
Mùa Chay của Giáo Hội Công Giáo là thời kỳ chuẩn bị trong cầu nguyện, sám hối, suy tư, trong thanh vắng bằng những hy sinh, những công việc bác ái, đặc biệt đối với các anh chị em nghèo khổ, để chúng ta có thể được tái sinh thiêng liêng trong ngày Chúa Phục Sinh.
Trong Sứ Điệp Mùa Chay 2002, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ II đã nói, “Mùa Chay là thời gian quan phòng nhằm hoán cải, giúp chúng ta chiêm ngưỡng tình yêu lạ lùng của Đức Kitô.” Ngài đã chọn một câu Phúc Âm của thánh Matthew làm chủ đề cho sứ điệp của ngài: “Anh em đã được ban tặng nhưng không, anh em cũng hãy cho không như vậy” (Mt 10:8).
Gương mẫu của Đức Kitô khi Người tự hiến trên Đồi Canvê đặc biệt trong Mùa Chay giúp chúng ta hiểu rằng cuộc sống chúng ta được Người cứu chuộc. Nhờ Chúa Thánh Thần, Người canh tân cuộc sống, làm cho chúng ta tham dự vào sự sống của Thiên Chúa và cảm nếm tình yêu của Người. Đây là một qùa tặng tuyệt vời mà là Kitô hữu, chúng ta phải vui mừng loan báo.
Thực hành sống Mùa Chay
Mùa Chay, theo truyền thống của Giáo Hội Công Giáo, là để thực thi ba điều căn bản:
- Ăn chay
- Cầu nguyện, và
- Làm việc bác ái
Ăn Chay:
Xã hội ngày nay là một xã hội tiêu thụ. Nó khuyến khích người ta tiêu xài, mua sắm càng nhiều càng tốt. Nhưng tiêu thụ nhiều làm con người dễ ra hư hỏng. Những người nghiện ngập rượu chè, xì ke, bài bạc cho chúng ta thấy rõ điều đó. Họ dùng qúa liều và đâm ghiền.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ II nói: “Ăn chay tốt cho thân xác, tốt cho linh hồn”.
Ăn chay là một sự tự chế, thao luyện tâm hồn để chống lại qủy dữ. Sách Lễ Rôma, trong lời nguyện nhập lễ, đọc rằng: “Lạy Chúa, ngày hôm nay, tất cả chúng con ăn chay, hãm mình, để bước vào mùa tập luyện chiến đấu thiêng liêng. Xin giúp chúng con hằng biết sống khắc khổ, để ngày thêm vững mạnh mà chiến thắng ác thần”.
Và lời Tiền Tụng Mùa Chay cũng đọc rằng: “Lạy Cha, Cha muốn chúng con dùng việc hãm mình để cảm tạ Cha. Nhờ đó, chúng con là những người tội lỗi, giảm bớt được tính kiêu căng và khi giúp nuôi dưỡng những người thiếu thốn, chúng con biết noi theo lòng nhân hậu của Cha”.
Vậy mục tiêu của việc ăn chay kiêng thịt là để rèn luyện ý chí, nhờ khắc khổ trong việc ăn uống và tiêu xài, để chúng ta đương đầu và thắng các chước cám dỗ, đồng thời có thêm tiền bạc để giúp đỡ người nghèo.
Nhưng thái độ ăn chay của chúng ta phải thế nào? Chúa nói: “Khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức gỉa: Chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi. Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm, để không ai thấy là anh ăn chay, ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt. 6:16-18).
Mùa chay nầy, Chúa kêu gọi chúng ta trở về với Chúa. Muốn trở về với Chúa, chúng ta phải chiến đấu chống lại ma qủy, tập luyện bỏ ý riêng mình và tìm vâng phục ý Ngài. Thiên Chuá là Đấng giầu lòng thương, nếu biết trông cậy và phó thác, chúng ta sẽ được Ngài ban cho sức mạnh cần thiết để đủ sức chống lại các chước cám dỗ.
Cầu nguyện:
Mùa Chay kêu gọi chúng ta cầu nguyện.
Nhưng chúng ta cầu nguyện thế nào? Thánh Gioan Kim Khẩu nói, “Dù ở ngoài chợ hay đi dạo một mình, chúng ta vẫn có thể cầu nguyện và cầu nguyện sốt sắng. Ngồi trong tiệm của bạn, hoặc khi mua bán, cả khi làm bếp, bạn vẫn có thể cầu nguyện”.
Trong Mùa Chay, chúng ta cần cố gắng hơn trong việc đọc Phúc Âm, Sách Thánh, các sách thao luyện tâm hồn, tham dự các lễ nghi phụng tự, lãnh nhận Phép Thánh Thể và các phép bí tích khác, hoặc ngắm nguyện, đọc kinh, hát ca Thánh Vịnh.
Cầu nguyện cũng có nghĩa là tham dự vào phụng vu. Qua việc tham dự các lễ nghi phụng vụ, người tín hữu được tháp nhập một cách sâu sắc vào nhiệm thể Chúa Kitô.
Việc ăn chay chúng ta có thể lâu lâu mới làm một lần, nhưng cầu nguyện là một việc mà người tín hữu phải làm thường xuyên. Cầu nguyện, có thể là những lời nguyện tắt, nhưng ít nhất một ngày phải vài ba lần. Cầu nguyện giúp chúng ta khiêm tốn hơn và tâm hồn bình an hơn.
Làm việc bác ái:
Muà Chay là thời giờ khám phá ra các nhu cầu của anh chị em mình và nhắc nhở chúng ta tìm mọi cách để gặp gỡ và giúp đỡ những người đau khổ thể xác cũng như tinh thần.
Trong Sứ Điệp Mùa Chay năm 2002, Đức Giáo Hoàng trích dẫn câu hỏi của thánh Phaolô trong thư thứ Nhất gửi Corintô: “Bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” (1Cor 4:7). Và Đức Thánh Cha tiếp, “Một khi đã nhìn nhận như thế thì bạn phải yêu mến anh chị em và hy sinh cho họ.”
Vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh, Giáo Hội cử hành Lễ Chúa Rửa Chân cho các môn đệ và tường thuật lại việc Chúa Giêsu truyền một giới răn mới được gọi là luật Yêu Thương: “Thầy truyền cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm nầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Jn 13: 34-35).
Thế nhưng, yêu thương như thế nào? Đức Khổng Tử dạy chúng ta: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”, nghĩa là điều gì chúng ta không muốn người ta làm cho mình thì mình đừng làm cho người ta. Chuá Giêsu dạy chúng ta một cách tích cực hơn. Ngài nói: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em hãy làm cho người ta” (Mt. 7:12).
Mẹ Teresa thành Calculta nói, “Hãy cho cho đến khi bạn thấy đau mới là cử chỉ bác ái”. Đây là mức lý tưởng, nhưng thiết nghĩ nếu mình có tiền, “Ai xin thì cứ cho”. Và chia sớt cho mỗi nơi một chút, đừng dồn vào một chỗ.
Trong Muà Chay, người tín hữu cần đặc biệt làm việc bác ái qua các hành động cụ thể. Giúp đỡ tiền bạc đã đành, nhưng chúng ta còn có thể làm các việc khác như hy sinh thì giờ, sức lực cho các việc công ích, tha thứ cho kẻ làm mất lòng mình, bớt nóng giận, làm hoà với người mình có chuyện bất hòa… Trong thực tế, làm các hành vi nầy nhiều khi còn khó khăn hơn là hy sinh tiền bạc.
Mùa Chay đòi hỏi chúng ta thống hối để kết hiệp một cách mật thiết vào cuộc tử nạn của Chúa Kitô, để cùng hưởng sự Phục Sinh vinh hiển của Người. Vì vậy, ăn chay hãm mình, cầu nguyện và làm việc bác ái là thực hành sống những điều cốt yếu của tinh thần Mùa Chay.