CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN. C

Lc 5,1-11

Thưa quý vị,

Sau mẻ lưới lạ lùng ở bờ hồ Giênêsaret như thánh Luca kể lại, thì thánh Phêrô sấp mặt xuống dưới chân Chúa Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”. Tự nhiên độc giả thắc mắc: Thánh nhân phạm tội gì to lớn đến nỗi cảm thấy xấu hổ, xin Chúa tha thứ? Không thấy thánh Luca liệt kê những tội đó và có thực thánh Phêrô thuộc hàng ăn chơi khét tiếng như Maria Madalena? Thực tế đây là lần đầu tiên chúng ta đối diện với thánh nhân trong Phúc Âm Luca. Sau khi Chúa Giêsu chữa bệnh sốt rét cho mẹ vợ thánh nhân (4,38) và một vài cuộc hội ngộ khác, chúng ta không thấy Phêrô phát biểu điều chi. Vậy thì tại sao lần này với tất cả chân thành ông van xin Chúa tha tội cho mình? Mà cứ theo não trạng Do Thái, thì chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội mà thôi. Phải chăng ông đã nhận được một mặc khải to lớn?

Nói chi thì cũng là ước đoán. Phêrô trên thực tế cũng như chúng ta hoặc ngàn vạn người khác. Ông đã có gia đình và một người con gái, hàng ngày đi kiếm cơm cho vợ con bằng nghề chài lưới. Tức ông là một người cha, một người chồng lương thiện, cố gắng làm gương sáng cho vợ con và hàng xóm láng giềng, hắng ngày cầu xin cho có đủ sức khoẻ nuôi nấng vợ con, chu toàn trách nhiệm của một kẻ nam nhi, làm chủ gia đình. Ông không thể bị coi như một người xấu, phạm tội ghê gớm. Đa phần chúng ta cũng thế, so sánh với những phạm nhân nổi tiếng của thế giới thì Phêrô chẳng thấm vào đâu, không đáng là một bóng mờ nhỏ xíu trên màn ảnh bạo lực hàng ngày. Tuy nhiên câu nói của ông vẫn còn đó, vang vọng khắp năm châu, bốn biển từ hai ngàn năm qua: “Lạy Chúa, xin tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi”. Không phải vì Phêrô quá xấu xa, nguy hiểm, nhưng vì so sánh với cái vĩ đại ông vừa thoáng thấy nơi Chúa Giêsu, thì ông quả thật là thân sâu bọ. Ông sợ hãi khi được tận mắt chứng kiến một Thiên Chúa toàn năng đang hiện diện trước mặt. Một luồng sáng vĩ đại, một sự hiển linh chói lọi xuyên qua không gian và thời gian. Trước mặc khải to lớn này ông thấy mình quá nhỏ bé, hèn hạ, không xứng đáng và… vâng, một tội nhân. Có lẽ ông đã theo Chúa nửa vời, chưa đáp trả ơn gọi của Ngài trọn vẹn, chưa toàn tâm toàn ý dấn thân theo Ngài phục vụ tha nhân, chưa thúc giục nước Ngài trị đến bằng các hy sinh của mình. Có lẽ trước mẻ cá lạ lùng trong đời, Phêrô nhận ra Thiên Chúa rộng lượng vô biên mà mình thì bần tiện, bẩn thỉu, hoặc có lẽ đơn giản là ông cảm thấy bóng mình mờ nhạt trong một luồng sáng quá rực rỡ, quá chói loà. Phải chăng cảm nghĩ của Phêrô cũng là cảm nghĩ của mỗi tín hữu, mỗi người chúng ta trước thánh nhan Thiên Chúa, nhất là sau khi rước lễ? Xin cố gắng sống thế nào để chúng ta cũng được hàng ngày cảm nhận như Phêrô! Chỉ có thế mới xứng đáng là kẻ theo Ngài như Phêrô và các bạn tông đồ của ông.

Điều này không phải là ước vọng viển vông, trái lại có thể thực hiện được, nếu chúng ta có tâm tình và nếp sống lương thiện. Mới đây tôi gặp một bà lão 80 tuổi thuộc hệ phái Tin Lành Baptist. Bà từng là nhà truyền giáo ở Phi Châu, chăm sóc các bệnh nhân và những người cùng khổ. Bà và chồng đã xây một bệnh viện tại đó và huấn luyện các dân địa phương thành y tá, bác sĩ để tiếp tục công việc khi họ về hưu, vì tuổi già sức yếu. Năm nay ông bà đã trở về Mỹ nghỉ ngơi nhưng vẫn đọc Kinh Thánh và cầu nguyện hàng ngày. Qua ngần ấy năm công tác bác ái, bà nhận ra một điều: God is so big and we are so puny = Thiên Chúa quá vĩ đại và chúng ta quá nhỏ bé. Ở đây không phải là chuyện giả đò, nó là sự chân thật của một bà già đã quá tuổi bát tuần. Đối diện với sự vĩ đại, mênh mông của Thiên Chúa qua cuộc đời dài, bà cũng cảm nhận giống hệt Phêrô: “Lạy Chúa, xin tránh xa con vì con là kẻ tội lỗi”, “God is so big and we are so puny”. Sau mẻ lưới lạ lùng của Phêrô và các bạn hay sau một cuộc đời hết tâm phục vụ Thiên Chúa và tha nhân, với những lời cầu nguyện chân thành, những hy sinh nguyện ngắm, người ta đến cùng một kết luận mà bài Tin Mừng hôm nay diễn tả sâu sắc tuyệt vời!

Đó cũng là kinh nghiệm của tiên tri Isaia trong bài đọc 1 và thánh Phaolô trong bài đọc 2. Tất cả đều nói về ơn Thiên Chúa kêu gọi và sự thánh thiện mênh mông của Ngài, sự nhỏ bé của con người. Năm 740 tcn, Isaia mới 20 tuổi, được thị kiến xem thấy đền thờ Giêrusalem huy hoàng. Thiên Chúa ngự trên ngai cao oai phong rực rỡ, tà áo của Ngài bao phủ đền thờ. Các thần sốt mến đứng chầu và la to: “Thánh! Thánh! Chí Thánh! Thiên Chúa các đạo binh là Đấng Thánh, cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa.” Isaia sợ hãi thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người miệng lưỡi ô uế”. Isaia phản ứng lại sự thánh thiện vô biên của Thiên Chúa, giống như Phêrô trong Phúc Âm hôm nay, hoặc bà bạn Baptist của tôi. Thiên Chúa quá vĩ đại và chúng ta quá bé nhỏ. Trước mặc khải của Thiên Chúa, Isaia cảm thấy tội lỗi: “Vì miệng lưỡi tôi nhơ bẩn”. Thiên Chúa trả lời: “Đây, cái này chạm đến môi ngươi, ngươi sẽ được tha lỗi và xá tội”. Ngài thực hiện công việc Ngài thường làm, Ngài dùng con người bình thường của Isaia để làm xướng ngôn viên cho Ngài giữa lòng dân Do Thái cứng cổ và chai lì. Ngài khởi sự lại tiến trình tạo dựng nơi bản thân Isaia, biến đổi ông thành ngôn sứ vĩ đại với tất cả sự yếu đuối, mỏng giòn, giới hạn của một thân phận loài người. Xin nhớ đây chính là Thiên Chúa tạo dựng muôn loài muôn vật từ hư vô. Ngài đã thanh tẩy Isaia, để ông loan báo sứ điệp cho thế giới. Thiên Chúa sẽ nói qua Isaia những điều dân Israel cần nghe. Cho tới hôm nay con người “miệng lưỡi chẳng sạch” đã thành phát ngôn viên của Thiên Chúa can đảm và bền vững. Loài người đã được dạy bảo bao nhiêu tốt lành qua sứ vụ Isaia. Cũng ở trong cảnh ngộ hoàn toàn trùng hợp, Thiên Chúa lựa Phêrô, các tông đồ, thanh tẩy miệng lưỡi, trí lòng, tâm hồn họ và sẽ hoạt động qua các ông. Giống Isaia, các ông biết rõ giới hạn của mình, nhưng vẫn sẵn sàng thưa lại: “Dạ, con đây, xin sai con đi”. Phúc Âm Luca kể: Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người. Năm thánh truyền giáo này chúng ta nói được như vậy không? Hội Thánh Việt Nam dám can đảm như Isaia và các tông đồ không? Xin mọi người cùng suy gẫm và sửa sai.

Trong bài đọc 2, thánh Phaolô ý thức mình được Thiên Chúa chọn: “Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non. Thật vậy, tôi là người hèn mọn nhất trong số các tông đồ, tôi không đáng được gọi là tông đồ vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa”. Nhưng ông không cậy vào sức riêng mình mà hoàn toàn dựa vào Thiên Chúa: “Nhưng tôi có là gì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu”. Rõ ràng thánh Phaolô cũng là nhân chứng chính hiệu việc Chúa Giêsu sống lại. Vì Ngài đã hiện ra với ông trên đường đi Damas (câu 35). Và ông cũng nỗ lực rao giảng biến cố này, chịu khốn khổ, tù đày, cuối cùng chịu chém đầu vì danh Đức Kitô. Ơn kêu gọi của Phaolô không thua kém Isaia và Phêrô: “Này con xin đến để làm theo ý Thiên Chúa”.

Xin lưu ý đến cách gọi tên của thánh Luca trong Phúc Âm. Trước mẻ lưới ông Phêrô được gọi bằng Simon, tên cũ của ông. Ông và các bạn làm việc khó nhọc suốt đêm mà không được con cá nào: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không được gì cả”. Tự thân loài người không thể đạt được những cao vọng mà Thiên Chúa đã trù tính cho mình. Khi Simon nhận ra quyền phép Thiên Chúa trong Đức Kitô, ông sợ hãi và được thánh Luca gọi bằng cả hai tên: Simon-Phêrô. Có lẽ thánh sử Luca muốn cho chúng ta hay có một sự chuyển đổi trong con người Phêrô. Từ cũ cho tới mới, từ bác thuyền chài lao động suốt đêm trắng tay cho đến một thủ lãnh thành công với lời hứa trợ giúp của Chúa Giêsu. Khi Phêrô tự thân chài lưới, ông chẳng bắt được chi. Nhưng với đức vâng lời và Chúa Giêsu ở cùng, công việc của ông trở nên hiệu quả không thể tưởng tượng nổi. Cuộc đời ông đã có định hướng và mục tiêu. Cuộc đời mỗi tín hữu cũng vậy, không có Chúa cùng làm việc, chúng ta lao động luống công, nhất là trên cánh đồng truyền giáo. Hội Thánh chỉ thành công nếu có Chúa ở trên thuyền. Đây là kinh nghiệm thực sự đã xảy ra chứ không phải lý thuyết suông. Vì vậy, muốn cho việc truyền giáo trong năm thánh có hiệu quả, chúng ta phải cải tổ nếp sống, mời Chúa Giêsu ngự trị trong các hoạt động của mình. Ngoài ra chỉ là sắp xếp lại các sự kiện đã cũ trong cuộc sống mỗi người. Chẳng phải vô tình mà thánh Luca đã dùng các tên khác nhau mà gọi Phêrô trong những giai đoạn khác nhau.

Từ công đồng chung Vatican II, Hội Thánh mời gọi chúng ta suy nghĩ nhiều về bài Tin Mừng hôm nay. Quyền năng Thiên Chúa và sự phong phú của ơn gọi mỗi người không thường xuyên xảy ra trong nơi thờ phượng, giờ cầu nguyện mà là ở nơi con người lao động. Các nông gia, thợ thuyền, ngư phủ gặp gỡ Thiên Chúa khi đang vật lộn với công việc của mình. Thiên Chúa gọi chúng ta khi khi làm việc kiếm sống. Thiên Chúa mời gọi mỗi người cộng tác vào chương trình Ngài đã hoạch định cho nhân loại, tức thăng tiến Nước Trời. Tin Mừng hôm nay khuyến khích tín hữu coi lại công việc mình đang thực hiện ở gia đình, nơi làm việc, nhà trường, láng giềng và toàn thể thế giới. Thực sự chúng ta có đang lao động với Thiên Chúa không? Nhiều tín hữu giữ đạo sốt sắng, nhưng không thấy mối liên kết giữa đức tin và những cách thức sinh sống của mình, nhất là ở những nơi làm việc hàng ngày. Đi nhà thờ thì vận áo phụng vụ, ra khỏi thì cởi áo cất đi và cất luôn đức tin của mình vào tủ, sinh hoạt như những người vô đạo, thậm chí còn tệ hơn. Có một sự phân rẽ rõ rệt giữa đức tin và đời sống, thử hỏi làm sao chúng ta có thể trở nên muối men cho nhân loại? Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã từng nhận xét: Thế giời ngày nay cần chứng nhân cho Tin Mừng Chúa Giêsu hơn thầy dạy. Ngược lại chúng ta ưa làm thầy dạy hơn làm chứng nhân. Tương tự một mục sư Tin Lành nói về Giáo Hội Tây Phương: “There‘s Tremendous prayer but little penance” (nhiều lời cầu nguyện nhưng rất ít việc đền tội). Trong khi Phúc Âm dạy: cầu nguyện, ăn chay và bố thí đi song hành, không tách rời được, việc nọ bổ túc cho việc kia, thiếu một việc là không trọn Phúc Âm.

Cho nên vai trò của người tín hữu rất quan trọng trong thế giới đời thường. Họ cũng đựơc Thiên Chúa kêu gọi làm muối và ánh sáng trong sinh hoạt hàng ngày như các linh mục và tu sĩ. Một tín hữu tốt không nhất thiết phải cầu nguyện nhiều giờ trong thánh đường hoặc sinh hoạt hăng say trong nội bộ đoàn hội. Ơn gọi của họ là làm chứng giữa đời. Họ phải sống thế nào cho thế giới thấy được: Thiên Chúa quá vĩ đại về tình thương, sự thánh thiện và chúng ta quá nhỏ bé bần tiện. Câu chuyện hôm nay xảy ra trên bờ hồ, chỗ có nước, không phải là vô tình, ít ý nghĩa. Thiên Chúa cũng đã kêu gọi chúng ta làm nhân chứng cho Ngài ở chỗ có nước, giếng rửa tội. Chúa Giêsu đã nhìn thấy Phêrô và các bạn sẽ trở thành “những kẻ chài lưới người ta”. Ngài cũng nhìn thấy mỗi linh hồn xin chịu phép thanh tẩy một chứng nhân tương lai cho Phúc Âm của Ngài.

Chúng ta cầu nguyện xin Thiên Chúa cho mình nhận ra sự thánh thiện sáng ngời nơi công việc đời thường và nghe rõ tiếng Chúa mời gọi mỗi người. Thánh Thể là nơi thuận tiện nhất để Chúa Giêsu nghe lời cầu xin của chúng ta: Ôi lạy Chúa, xin biến đổi chúng con thành nhân chứng cho Chúa trong công ăn việc làm, ở học đừơng, gia đình, hè phố và trên thế giới. Amen.