ÐIỆU MÚA CỦA ONG

ÐƯỜNG TU ÐỨC VIỆT


Khi một con ong thợ đi “công tác” kiếm thực phẩm mà tìm thấy được một giàn hoa nhiều mật, nó liền bay về tổ múa một điệu thật đẹp để báo hiệu.

Ðiệu múa này có hai tác dụng: một là tỏ dấu mừng, làm chứng đã tìm thấy đích; hai là vẽ lối để các con ong khác xem đường mà bay theo, sắp được một bữa mật tới nơi.

Sách Khởi Nguyên (28: 10-22) kể câu truyện Gia-cóp nằm mơ thấy cửa trời mở ra và có chiếc thang bác lên tới đỉnh trời, có thiên thần lên xuống, có Chúa đứng bên hứa với Gia-cóp. Khi tỉnh dậy ông nhận ra ngay rằng mình đã gặp Chúa, và ông đã lấy hòn đá gối đầu ban đêm dựng một mốc đá như dấu tích làm chứng nơi đã gặp Chúa.

Môsê, trong sách Xuất hành (34 27-33), đã lên núi Sinai 40 đêm ngày gặp gỡ Chúa. Khi xuống núi mặt ông đã sáng ngời khiến phải lấy vải che cho bớt chói mắt. Môsê đã ghi “cảm nghiệm” gặp được Chúa, nếm được “mật” bằng hai bia đá.

1. LỐI TÌM RA MẬT

Chúa Giêsu đã là chính hòn đá sống làm chứng đã thấy Thiên Chúa Cha, để con người nhìn Người sẽ thấy Chúa Cha. Người là Ðường-Tu-Ðức theo đúng nghĩa. Rồi các tông đồ, sau khi Thày mình phục sinh, liền hăng hái lên đường làm chứng: “Tôi đã nghe và đã thấy, đã chạm tới Người.” (1 Gioan 1: 1), và ghi lại thành Tân Ước, là những lời chứng, là “điệu múa của ong” chỉ lối tìm ra mật.

Giáo hội trong suốt lịch sử đã sinh ra biết bao vị thánh, những người đã đi những đường lối khác nhau để đạt Ðức, để tìm ra mật. Nhiều vị đã ghi lại những “điệu múa” gọi là Ðường Tu Ðức.

Có đường tu dức Lectio Divina của Thánh Biển Ðức. Có Ðường Tu Ðức thênh thang “anh mặt trời, em mặt trăng, chị cá cô chim” của thánh Phanxicô Assisi. Có đường tu đức bắt đầu “hệ thống hoá” qua bảy tầng lầu để vào “Lâu Ðài Tình Ái” của thánh Teresa Avila, hay qua đêm đen tâm hồn để bước vào miền rực Lửa Tình sinh động của thánh Gioan Thánh Giá.

Ông tổ của linh thao là thánh I-nhã đã vào hang Mansera, vào thẳm sâu cung lòng. để tìm gặp Chúa. Và khi đạt Ðức, ra khỏi hang, Ngài đã ghi lại cảm nghiệm với đường múa bốn “chiêu thức” chính với “chiêu thức” khởi đầu nhận định nguyên lý và nền tảng đời sống. Ðể thực tập những “chiêu thức” này người ta cần 30 ngày hay ít là tập sự bằng 8 hoặc 5 ngày.

Các đường tu đức tuy rất khác nhau tùy tính tình và môi trường và thời đại, nhưng những bước căn bản thì giống nhau.

Ngày nay khoa phân tâm và tu đức, nhất là từ Karl Jung, đã nghiên cứu và phân tích hành trình nội tâm như một con đường đi, gồm nhiều bước tiếp nối theo một tiến trình ăn khớp với nhau. Nhà tâm linh Ira Progroff đã diễn tả đời người qua các biến cố như những nấc đá dẫn xuống nguồn suối vô biên nằm tận đáy lòng.

Tiến trình tâm lý miền sâu này đang giúp các bác sĩ tâm lý chữa bệnh và các chương trình chữa nghiện rượu bằng tâm lý “AA”, cũng như áp dụng tâm lý vào linh hướng.

2. ÐIỆU MÚA CỦA TIÊN RỒNG.

Tổ tiên dân Việt qua cảm nghiệm tích lũy đã đạt Phúc Ðức, đã nếm được “nguồn sống”, đã sống an vui hạnh phúc và ghi lại đường múa bằng cách vẽ lên hình ảnh vật tổ Tiên Rồng: Mẹ là Âu Cơ tức chim Âu có cánh bay lên được như Tiên. Bố là Lạc Long có mãnh lực vẫy vùng phi thường và sống đời an lạc như Rồng.

Vật tổ trở thành vật biểu của dân tộc. Ðó là hình ảnh vươn tới của chính mình trong tiềm thức của mỗi người, và trong tiềm thức chung của cả một dân tộc qua cảm nghiệm lâu đời mà hình thành ra. Vật biểu Tiên Rồng nói lên tiềm năng con người vô hạn mà Albert Einstein nói rằng kể cả người thiên tài mới khai triển được 5% khả năng. Ðức Ðạt lai Lạt ma trong cuốn “Your Maximum Mind” của Hebert Benson đã nói: “Trong con người tiềm ẩn một khả năng phi thường.” Còn Karl Jung thì ví đó như một băng sơn, phần nhô lên chỉ có một chút xíu, còn phần lớn chìm dưới nước biển.

Làm thế nào để khai quật kho tàng tiềm ẩn trong nội tâm này? Làm thế nào để cho nguồn sống tâm linh bừng lên?

Tổ tiên Việt đã vẽ ra những “điệu múa,” những “chiêu thức” bàng bạc tiềm tàng trong các truyện huyền thoại và di tích trống đồng Ðông Sơn.

Truyền “bửu bối” và “chiêu thức” bằng truyện là cách tốt nhất để chuyển đạt chân lý. Vì truyện không chỉ thấu vào đầu mà còn có thể thấm vào máu thịt và rung được tim. Truyện có tác dụng đào tạo con người hơn là việc cung cấp kiến thức.

Sơn Tinh thời vua Hùng Vương, trong bộ Anh Hùng Lĩnh Nam đã chế ra các chiêu thức Phục Ngưu khỏe hơn trâu để thắng các cao thủ võ lâm mà lấy được công chúa Mỵ Nương. Phù Ðổng Thiên Vương đã âm thầm ẩn dật (chứ không phải là câm theo nghĩa đen) tập luyện võ công đợi đúng lúc thì ra giúp đời, rồi khi đã chu toàn công việc lại về ẩn trên núi Sóc Sơn, “An Việt” đúng nghĩa, không màng chi danh lợi.

Bao nhiêu “đường múa” tiềm tàng trong các truyện Bánh Dày, Bánh Chưng, Trầu Cau, Lạc Long Quân lấy bà Âu cơ đẻ trăm trứng v.v...

Ðiệu múa Tiên Rồng được vẽ cụ thể trên mặt trống đồng Ðông Sơn chứng tích văn minh mấy ngàn năm của dân Việt, mà các nhà khảo cổ đã đào lên được. Ðó là một bức tranh sinh động nghe như tiếng trống đang còn vang lên, đoàn người mặc áo lông chim có cánh đang cùng vạn vật nhảy múa như bài ca tiền tụng mùa Phục Sinh: “Tất cả vũ trụ đều nhảy mừng,” vì vừa cảm nghiệm được một chuyện kỳ lạ trong đời sống như “điệu múa của ong.” Bức tranh sinh động này vẽ lại cả một lối sống phong lưu thái hoà đầy sinh lực với những “chiêu thức” bí truyền có sức làm cho dân tộc tồn tại mấy ngàn năm qua bao nhiêu đô hộ.

Ðể đào sâu những “chiêu thức” này, chúng ta có thể tìm đọc “Việt Nam Văn Học Toàn Thư” của Hoàng Trọng Miên; bộ Ngũ Ðiển của Kim Ðịnh, nhất là cuốn Kinh Hùng Khải Triết và Sứ Ðiệp Trống Ðồng; Lĩnh Nam Trích Quái, hay những khảo luận của Wihhem G. Solheim về văn minh Ðông Sơn trên National Geographic 3, 1971; và Bernhard Karlgren về văn hoá Ðông Sơn của China Institute of New Jersey.

3. ÐƯỜNG MÚA CỦA CÁC THÁNH TỬ ÐẠO VIỆT NAM

Khi học hỏi về đường tu đức của Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam, chúng ta không chỉ nhằm vào tác động bị giết chết vì đạo mà ít người bây giờ có diễm phúc như vậy, mà nhằm khai triển cả một lối nhìn, lối sống, một con đường sống đã đạt Ðức.

Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam đã đi “đường múa” nào để làm chứng đã tìm thấy mật hoa, và đã “nếm thử để biết Chúa ngon thật” (Thánh vịnh 34: 9)? Nên dù trong thời bắt đạo, không một bạo hành nào có thể tách rời các Ngài ra khỏi cảm nghiệm đã nếm và đã xác tín. Ðó là chứng nhân đức tin theo nghĩa tích cực nhất.

Các Ngài đã cùng chính những bí quyết của lối sống tổ tiên đã dùng để đạt mãnh lực tiên rồng và tinh luyện thành những “đường múa” truyền lại cho con cháu.

Ðường Tu Ðức này xem qua tưởng quá thường như lối sống của những bà mẹ quê ngày ngày “lặn lội bờ sông” xây tổ ấm gia đình thầm lặng sau lũy tre xanh như Bà Thánh Lê thị Thành, hay của những ông bố cần cù lam lũ nuôi vợ con và phục vụ cộng đồng, như Thánh Simon Phan Đắc Hòa, Emmanuel Lê Văn Phụng, Micae Nguyễn Huy Mỹ... Nhưng lại là một lối sống cận nhân tình nhất, là con đường dễ nhất và chắc nhất để đạt đức, đạt Chúa, đầy sinh lực, sống an vui hạnh phúc thảnh thơi mà kiên quyết hiếu trung.

Ðó là con đường của Mẹ Maria thầm lặng tại Nazareth mà Kinh Thánh đã ghi lại có mấy trang, nhưng bao nhiêu sách vở, bao nhiêu bài giảng, bao nhiêu khoá tĩnh tâm đã khai triển mà không bao giờ đủ. Mẹ đã đi, đã múa và đạt đức đầy ơn, để có thể bay lên cả hồn và xác.

Giữa lúc thế giới hồ hởi chạy theo những con đường lớn, những khua múa xã hội, tưởng sẽ làm cho đời sống ngon lành, thì con người lại nếm được những đổ vỡ khủng hoảng: tâm hồn rã rời mất hướng, gia đình và xã hội lộn xộn xung khắc ngột ngạt.

Biến cố phong thánh ngày 19-6-1988 không phải để xoa dịu một dân tộc quá nhiều khổ lụy, mà để đề cao một lối sống rất cần thiết đáp ứng thời đại này. Giáo hội muốn tuyên bố rằng đây là lối sống đơn giản bình dị chắc chắn mang lại an vui hạnh phúc mà con người ngày nay đang khao khát mà không thể tìm được bằng tiền tài vật chất.

Lối sống này lại hợp khẩu vị người Việt, vừa tầm sức người Việt. Vì thế ai cũng có thể nên thánh, đạt đức, theo đường tu luyện đơn giản này.

Những hồ hởi của điệu múa “New Wave” đã làm thấm mệt, chân đã mỏi, gối đã chùn, gia đình đã rã rời. Vậy thì đã đến lúc những chứng nhân anh hùng của điệu múa Tiên Rồng cần phải được khám phá và khai triển thành những mẫu người hợp thời và hấp dẫn nhất. Những mặc cảm tự ti vì dân tộc thua thiệt nay nhường bước cho một niềm xác tín và hãnh diện về kho tàng gia sản dân tộc thật giàu có về tinh thần. Ðã đến lúc con cháu hãnh diện khai quật để đời sống vươn lên, chứ không ngèo nàn xơ xác và mất hướng. Dòng máu anh hùng đã trở thành dòng sinh lực đang bừng lên chảy tới làm trổ sinh hoa trái cho thế hệ hiện tại dù đang ở trong hoàn cảnh nào đi nữa.

“Cha sẽ tuôn trào nước xuống đất đai khô cằn rạn nứt, và cho suối chảy vào sa mạc hoang vu.

“Cha sẽ tuôn đổ sinh lực Thánh Thần Cha và ơn lành xuống trên dòng giống con. Chúng sẽ trổ snh những cây thùy dương bên bờ suối chảy.” (Isaia 44: 2-4).


Lm. Trần Cao Tường; e-mail: andytuong@cox.net

(từ tác phẩm Về Nguồn Việt Đạo của Lm. Trần Cao Tường)

Xin mời ghé thăm gia trang vietcatholic.net/caotuong của Lm. Trần Cao Tường.


triết gia KIM ÐỊNH đề BẠT

VỀ NGUỒN VIỆT ÐẠO

của Lm. Trần Cao Tường


Việc thâu nhận Thiên Chúa giáo vào Việt Nam cho tới nay mới xảy ra trong giai đoạn một mà Nietzche gọi là của Lạc Ðà: ai muốn chất lên lưng cái gì nó cũng ngoan ngoãn chở tuốt hết, không đặt một vấn đề nào, như hỏi tại sao lại bảo tin như thế mà không thế khác. Nhưng rồi với sự tiến triển của tâm thức thì trước sau sẽ đến giai đoạn hai của Sư Tử: nó sẽ gầm thét vang trời và muốn tung tất cả xuống khỏi lưng để xét lại từng điểm, rồi chọn lựa, cũng có thể cuối cùng nó sẽ thu nhận toàn bộ như trước, nhưng không phải là nhận cách tối mặt nữa, mà đầy ý thức. Từ đó nó sẽ bước êm vào giai đoạn ba của Hài Nhi với cuộc sống viên mãn tròn đầy không còn gì phải thắc mắc, vì đã đi hết đường phát triển lý trí siêu linh rồi, chỉ còn việc sống như chơi với Hóa nhi hí lộng. Ðó là giai đoạn sau này: đến đâu sẽ tính tới đó.

Chỉ biết rằng theo kinh nghiệm lịch sử thì nếu bước đầu của giai đoạn hai mà đi mạnh được vào đường tâm lý xã hội thì những thiệt hại do cơn khủng hoảng nếu có sẽ giảm thiểu tối đa. Vậy mà ta thấy cuốn VỀ NGUỒN VIỆT ÐẠO này đi được như thế, nên ta có thể vui mừng vỗ tay khen ngợi.

Những đề tài của Về Nguồn Việt Ðạo đều hướng về tổ tiên dân tộc: nào tiên rồng, đạo tổ, nào trầu cau, đạo trống, rồi trống Ðông Sơn. Ðề tài nào cũng được trình bày cách chân thành trung thực. Ðây quả là một ngạc nhiên thích thú cho tôi, vì ai cũng biết đạo Thiên Chúa phát xuất tự Tây phương du nhập chưa được sửa soạn nhiều cho việc phục Việt, nên trên nẻo đường về tương đối gặp nhiều khúc khuỷu hơn. Vậy mà Về Nguồn Việt Ðạo đã đi được một bước vững chãi như thế hỏi sao không gây thích thú được.


Kim Ðịnh