Chúa nhật 4 Thường niên C

Lc 4,21-30

Thưa quý vị,

Trong những đám cưới mà tôi chủ trì hoặc tham dự, dễ thường đến phân nửa cô dâu, chú rể chọn bài đọc 2 hôm nay hoặc phần ngắn hơn làm bài thánh thư. Phần ngắn bắt đầu từ câu: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương…” và bởi vì thính giả trong các thánh đường gần như đã quen với bối cảnh, cho nên tôi cũng chọn bài này làm đề tài suy gẫm hôm nay. Tôi hy vọng bản văn sẽ có chút ít tác động vào cuộc sống chúng ta ở thời điểm này. Ngoài ra, nếu quý vị có thêm cơ hội để tham dự một đám cưới khác, hẳn bài đọc 2 thường niên C sẽ nảy sinh nhiều ý nghĩa hơn (hy vọng tôi không quá lạc quan, ít ra nó cũng đáng nhớ đấy chứ!). Vậy xin tiếp tục.

Điều thứ nhất phải trình bày là đừng để giọng văn lưu loát của thánh Phaolô làm chúng ta phân tán! Và cũng không quá hùng biện đến nỗi bay lên tới trời xanh, quên mất thực tại của Giáo Hội và thế giới. Tình yêu lúc nào cũng cho chúng ta nhiều cảm hứng. Nhưng thánh Phaolô không vì thế mà uỷ mị hoặc quá lý thuyết, ông lúc nào cũng tỏ ra cân bằng, chừng mực trong các tư tưởng của mình. Có nhiều điều trong Giáo Hội Côrintô làm thánh nhân phiền lòng. Nhưng cứ theo bài đọc hôm nay thì chúng ta khó mà đoán ra. Tình hình bên ngoài tuy không mấy thay đổi, nhưng nội bộ thì quá nhiều chia rẽ, không tốt đẹp như thánh nhân mong đợi. Tuy vậy, giọng điệu của thánh nhân không hề tỏ lộ giận dỗi, buồn lòng, chỉ cho họ biết rằng họ ăn ở, đối xử với nhau chưa đạt tiêu chuẩn người tín hữu. Giống như bậc bề trên ông đưa ra mẫu mực phải theo tức “bài ca bác ái”, để ai nấy so sánh với hạnh kiểm của mình mà sửa chữa. Giống như một người cha, người mẹ trong gia đình khích lệ con trai hay con gái, đưa cho chúng một gương bắt chước: “Này cưng, cuộc thăm viếng ba má của con phải đạo lắm đấy. Từ nay ngoan nhé!”.

Để hiểu rõ hơn vấn đề của thánh Phaolô, chúng ta cần một số thông tin. Bài đọc hôm nay là một phần của đoạn văn dài hơn, đề cập đến nội bộ của giáo đoàn Côrintô. Sau một năm rưỡi giảng đạo ở thành phố dân ngoại này, ông lập giáo đoàn và bỏ đi. Ít lâu sau ông nghe tin có sự chia rẽ trầm trọng trong nội bộ giáo đoàn. Người thì thuộc nhóm Phaolô, kẻ khác thuộc nhóm Apôllô, người khác thuộc Cephas (1,12). Một số khác lại tự coi mình có liên quan đặc biệt với Đức Kitô. Thánh Phaolô rất đau lòng viết thư kêu gọi sự hiệp nhất, chấm dứt chia rẽ. Độc giả nào chịu khó coi kỹ chương tám của thư này thì thấy Giáo Hội Côrintô còn nhiều nhiễu nhương hơn nữa. Nào là tội tà dâm, loạn luân (ăn ở với vợ kế của cha mình), kiện cáo nhau ở toà ngoại giáo, kiêng khem ăn uống, thờ cúng ngẫu tượng… Tất cả đều là con cái của Satan kêu ngạo, tự thổi phồng mình lên và gây chia rẽ.

Ngay cả trong bữa tiệc Thánh Thể, gọi là bữa tiệc yêu thương (agape) cũng không tránh khỏi tệ nạn. Có những nhóm trưởng giả, nhóm nghèo khổ, nhóm say sưa, nhóm “ngồi lê mách lẻo”, nhóm “vô công rỗi nghề” (không làm thì đừng ăn), nhóm khác thì gồm những “ông thánh bà thần”, cầu nguyện ngây ngất (ecstatic prayer) trong khi bỏ mặc mẹ goá con côi, người nghèo khổ, kẻ đói ăn, lại còn nhóm thần học gia tiến bộ nghi ngờ sự sống lại của thân xác (chương 15). Căn do của sự chia rẽ có lẽ hệ tại tính chất “mở cửa” của Hội Thánh. Khi được rửa tội sáp nhập vào cộng đoàn tín hữu thì mọi rào cản tôn giáo, văn hoá, xã hội, kinh tế, giai cấp đều bị phá đổ, mọi thành phần đều bình đẳng về nhân phẩm và lòng tin. Cho nên trong Giáo Hội có đủ mọi hạng người, tự do, nô lệ, Hy lạp, Do Thái, Tiểu Á, Pontô, đàn ông, đàn bà, con trẻ… không một thành phần dân cư nào trong thành phố lại mang tính “hổ đốn” như nhóm Giáo Hội tiên khởi nhỏ bé. Tuy nhiên, như chúng ta biết ngày nay, thì họ lại là dấu chỉ hữu hiệu của triều đại Thiên Chúa. Một tổng hợp lạ lùng chỉ có đức tin vào Chúa Giêsu Kitô mới có thể tập hợp được. Vậy thì sự chia rẽ tiềm ẩn, những cãi co lặt vặt là điều không thể tránh khỏi. Đòi hỏi một sự hiệp nhất hoàn toàn là không thực tế.

Xin nhớ lại ở giáo đoàn Galata, thánh Phaolô đã rao giảng việc xoá bỏ mọi ưu tiên xã hội và tôn giáo: “Không còn chuyện Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà, nhưng tất cả chỉ là một trong Đức Kitô” (3,28). Nhờ bí tích thánh tẩy, các Giáo Hội tiên khởi hoàn toàn bình đẳng về địa vị và tư cách làm con Thiên Chúa. Tất cả những phân biệt cũ đều không còn chỗ đứng trong cộng đồng mới, họ đã thực sự mặc lấy Đức Kitô. Đọc bài trích thư Côrintô hôm nay chúng ta thấy rõ điều đó. Chúng ta cũng nhận ra kế hoạch của thánh Phaolô về việc hiệp nhất Giáo Hội. Ngài không cưỡng ép nhưng để cho các thành viên tự giải quyết các khó khăn, vật lộn, bằng cách nêu ra cho họ hiểu thế nào là tín hữu đích thật của Chúa Giêsu Kitô, thánh nhân đã có đầy đủ lý do để viết thư cho các tín hữu địa phương Côrintô. Ong cũng có quá thừa thãi lý do để nhắc nhớ Hội Thánh và chúng ta hôm nay. Thật là một lợi ích to lớn khi phụng vụ cho chúng ta đọc lại thơ của ông trong những tuần đầu năm này, tuần cầu nguyện cho hoà hợp và bình an. Cộng đồng chúng ta không thiếu chiến tranh phe nhóm, tấn công và trả đũa, thậm chí loại trừ nhau.

Tuy nhiên thánh Phaolô dùng một hình ảnh tuyệt vời để mô tả Hội Thánh Chúa Kitô: “Thân mình mầu nhiệm của Ngài”. Thưa anh chị em, ví như thân thể chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận tuy có nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy (12,12). Hai tuần qua chúng ta đã được thánh nhân cho biết như vậy, bài đọc hôm nay tiếp tục bàn về thân thể đó. Chúng ta chối cãi thế nào được nguyên lý hợp nhất của Hội Thánh! Những tinh thần phe phái thật đáng trách trong lúc này. Phép rửa tội đã làm cho chúng ta nên một cộng đồng dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh, mỗi người một nhiệm vụ không lẫn lộn, không dẫm chân lên nhau, không bao cấp: “Thần Khí tỏ mình ra với mỗi người một khác, là vì ích lợi chung. Kẻ thì được ban ơn khôn ngoan để giảng dạy, người được ơn hiểu biết để trình bày, kẻ khác thì được ban cho lòng tin, kẻ khác nữa được ban ơn chữa bệnh…” (12,7). Ước vọng hiệp nhất của Hội Thánh phải bao gồm luôn những nhu cầu này và chúng ta phải phấn khởi vui mừng cử hành những khác biệt đa dạng đó. Như vậy độc tài, độc đoán, không có chỗ đứng trong lòng Giáo Hội tự do và thánh thiện. Nhưng thánh nhân còn một điều hằng ấp ủ: “Tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả…” và ông bắt đầu hát bài ca đức mến: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc…” bài ca chia ra làm ba phần: Thứ nhất tính siêu việt của tình yêu: Kiên nhẫn và phục vụ, thứ hai các nết xấu phải tránh kẻo làm tan nát tình yêu, thứ ba là các tính tốt phải vun xới để thăng tiến lòng yêu mến: Sự bền vững của đức mến. Trong bài ca này chúng ta có một điệp khúc nổi tiếng: “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến”. Chủ yếu thánh Phaolô nói về tình yêu trong Giáo Hội giữa các tín hữu. Thường thì nó đòi hỏi hy sinh và nếp sống tốt. Nhưng nó không tách biệt ra khỏi tình yêu Thiên Chúa. Chúa Giêsu dạy dỗ chúng ta phải yêu mến Chúa và yêu người, cả hai đều cần đến ơn Thiên Chúa, tự thân chẳng thể thực hiện được gì. Chính tình yêu Chúa khiến chúng ta nhận ra phải thương mến nhau ra sao?

Ở một buổi cầu nguyện chung mà tôi tham dự. Người ta đọc bài thánh thư hôm nay, nhưng mỗi khi gặp chữ “lòng mến” thì thay bằng “Đức Kitô” nghe tức cười nhưng thấm thía. Nó chạy như sau: “Đức Kitô thì nhẫn nhục, Đức Kitô hiền hậu, Đức Kitô không ghen tương…” nhờ việc thay đổi như vậy chúng ta ý thức được những điều Thiên Chúa đòi hỏi nơi chúng ta, thì đã hiện diện nơi Chúa Giêsu. Vậy đời sống người tín hữu như thánh Phaolô mô tả trong bài đọc 2 là có thể thực hiện trong nếp sinh hoạt hàng ngày. Mỗi người thể hiện ơn gọi theo cách thức mình sống. Giáo Hội sẽ tốt đẹp biết bao khi mọi người vâng theo lửa thúc đẩy của Chúa Thánh Linh. Năm nay là năm thánh truyền giáo của Hội Thánh Việt Nam, chúng ta đừng hô hào suông, nhưng hãy thực hiện có hiệu quả ước vọng của mình bằng tài năng, đức độ, mà Chúa Thánh Thần đã ban cho mỗi người như thánh Phaolô khuyên nhủ.

Trong bài đọc 1 tuần này và tuần tới, phụng vụ cho chúng ta gặp hai tiên tri của Cựu ước, đó là Giêrêmia và Isaia, cả hai đều gặp chống đối trong ơn gọi của mình. Chúng ta có thể so sánh với những khổ cực của Chúa Giêsu khi khởi đầu sứ vụ, như thánh Luca thuật lại. Chăm chú nghe các bài đọc chúng ta tự nhiên ngộ ra ơn gọi riêng của mỗi người và sẽ đáp trả tiếng Chúa ra sao! Ngôn sứ Giêrêmia một mình chống lại cả xã hội. Đơn phương độc mã ông thi hành sứ vụ, nhưng qua con người ông chúng ta học được phải vâng theo ơn gọi của mình thế nào cho đúng tiêu chuẩn, không chỉ khơi khơi ngoài miệng, còn việc làm thì ươn ái.

Có mối liên kết chặt chẽ giữa bài Tin Mừng và bài đọc 1. Từ cung lòng Đức Chúa Cha, Ngài được kêu gọi để thi hành sứ mệnh cứu chuộc và giống như Giêrêmia bị chống đối mãnh liệt ngay từ khởi đầu.Bài đọc tuần này tiếp tục Tin Mừng tuần trước. Thính giả đã được bảo cho biết lời tiên tri Isaia: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người sai tôi đi công bố cho kẻ tù đày biết họ được tha, người mù được sáng mắt, kẻ què đi được, công bố năm Hồng An của Chúa”, hôm nay được ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu. Nói cách khác Chúa Giêsu công khai tuyên bố sứ mệnh Ngài sắp thi hành. Sứ mệnh mang tính tiên tri như bài Magnificat của Đức Maria, tức Thiên Chúa đoái nhìn đến thân phận kẻ nghèo hèn, tù tội, khuyết tật, ngoài lề xã hội…

Ngài mang Tin Mừng giải phóng, giúp đỡ họ thoát khỏi số kiếp hẩm hiu, khốn khổ. Ngày nay sứ mệnh này được Giáo Hội kế thừa. Nhưng chẳng hiểu thiên hạ được nghe, nhìn từ phía chân trời góc biển nào? Tiếng nói ngôn sứ còn rõ ràng nữa không hay khàn khàn khó hiểu? Hoặc bị tiếng máy móc văn minh vật chất lấn át? Câu trả lời tuỳ mỗi lương tâm! Nhưng đối với nhà giảng thuyết thì bắt buộc phải là tiếng nói của tự do, hạnh phúc cho thế giới bị chà đạp. Thiên Chúa đã thấy nỗi thống khổ của họ như xưa Ngài trông thấy nỗi lầm than của dân tộc Do Thái ở Ai Cập. Nhà giảng thuyết phải nhân danh Thiên Chúa mà cứu giúp họ, gióng tiếng tố cáo những sai lầm, bất công của tầng lớp tay sai Satan. Về phe với những kẻ mạnh thế vô cớ áp bức người khác là hèn nhát.

Điều cuối cùng phải nhắc đến hôm nay là thái độ của dân làng Nadarét. Bất cứ ai cũng thuộc lòng câu ngạn ngữ “familiarity breeds contempt” (suồng sã nuôi dưỡng khinh bỉ) Chúa Giêsu trước mắt họ không có gì xa lạ, con bác thợ mộc Giuse và bà Maria, anh chị em Ngài không phải là Giacôbê, Giuđa, Simon sao? (Mt 13,23). Họ đã quá quen thuộc với gia đình Ngài, hàng xóm láng giềng với bà con Ngài. Cho nên chỉ ủng hộ Ngài, bao lâu Ngài đồng ý với họ, với những nét quen thân của xóm làng. Nhưng khi đi xa hơn nữa vào những mầu nhiệm Nước Trời, vào sứ mệnh thiên sai của Ngài, họ trù tính ném Ngài xuống vực thẳm. Như thế mới hay, thói đời chỉ ưa thích những điều họ muốn nghe, ủng hộ những gì vừa bụng mình. Ngoài ra, từ chối tuốt luốt, bắt đầu từ những kẻ thân thích nhất. Quý vị nhận định thế nào? Có phải là sự thật? Cầu xin Chúa cho chúng ta đừng vì thế mà thối chí, nản lòng trong bổn phận, nhưng cứ sự thật mà rao giảng Tin Mừng. Amen.

*** Mỗi đời người là một câu chuyện thần tiên chính tay Thượng Đế viết (Anderson).