Tuổi Trời Cho - Tuổi Chúa Cho.
Hai cái câu ngắn ngủi đó, chúng ta thường nghe thốt ra từ cửa miệng của những vị - thường là - cao niên. Người không phải là Ki Tô Giáo thì thường dùng câu đầu, người Ki Tô Giáo thì thường dùng cả hai câu, khi họ nhận ra rằng họ sắp sửa về với lòng đất. Họ thường nói, với một ý có vẻ luyến tiếc ‘Tuổi Trời cho mình xài đã gần hết’, hoặc ‘Tuổi Chúa cho đã gần cạn’.
Từ ngàn xưa, các bậc vua chúa, các vị quyền cao chức trọng, những người giàu có, thường đi tìm thuốc trường sinh, đi tìm một phương pháp nào đó để mong kéo dài tuổi thọ. Nhưng tất cả đều thất bại. Cái giới hạn một trăm năm, hoặc trên một chút, hoặc dưới một chút, vẫn bất di bất dịch. Ngày nay, với khoa học tiến bộ vượt bực, những người giàu có lại nghĩ đến việc ướp xác mình, hy vọng một ngày nào đó khoa học tiến đủ xa để đưa mình trở lại cuộc sống, y như mình vừa trải qua một giấc ngủ dài.
Nếu có người hỏi tôi ai là thần tượng của tôi trên thế gian này, thì tôi sẽ trả lời ngay rằng người đó là cụ Nguyễn Công Trứ. Ðối với cụ, một trăm năm, hay “ba vạn sáu ngàn ngày là mấy”. Thoắt một cái, tuổi Trời cho, tuổi Chúa cho đã gần qua đi. Cách đây năm mươi năm, tôi nghe những câu hát, những phát biểu “năm hai ngàn năm” sao thấy xa xôi quá. Vậy mà thoắt một cái, năm nay đã là năm hai ngàn lẻ bốn.
Ðối với cụ NCT, vấn đề không phải là sống được bao nhiêu ngày trong cái số ba vạn sáu ngàn ngày, mà vấn đề là sống như thế nào trong cái giới hạn ba vạn sáu ngàn ngày ấy. Cụ quan niệm rằng khi được sinh ra trên thế gian này là đã mang nợ với thế gian này, và phải trả nợ sòng phẳng cho thế gian này trước khi về già, hưởng nhàn, và chờ ngày về với lòng đất. Như vậy mới thoải mái. Cụ đã làm đúng như cụ quan niệm về cuộc sống. Cụ trả nợ cho thế gian bằng cách sống cho tha nhân. Cụ phục vụ tha nhân qua việc phục vụ đất nước mà không màng danh lợi. Làm quan đến chức thượng thư, tương đương với chức bộ trưởng bây giờ, cụ không lấy làm vinh, không vênh vang, không góp nhặt của công cũng như của dân. Khi bị kẻ gian hãm hại - thời nào cũng có kẻ gian - cụ bị vua đày đi làm lính thú, một thứ lính ở nơi xa xôi, khỉ ho cò gáy, cụ cũng không lấy làm nhục, cụ vẫn an nhiên trình diện vị quan sở tại, nhỏ xíu so với chức thượng thư của cụ, để lãnh công việc hình phạt của mình. Thế rồi vua biết mình sai lầm, phục chức cho cụ, cụ cũng vẫn chẳng lấy làm vinh, vẫn chẳng thèm báo thù kẻ đã hại mình, vẫn phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.
Làm vua mà biết mình sai lầm và can đảm sửa sai thì ai bảo thời phong kiến là xấu. Người ta đã đem cái chiêu bài sửa cái xấu phong kiến để thực hiện cái tệ hơn nhiều lần. Ngày nay biết bao nhiêu ông vua bự có, con con có, đang phạm sai lầm mà không biết rằng mình sai lầm, đang vơ vét của công, của dân, mà miệng lại lớn tiếng là phục vụ nhân dân. Dân gian Việt đang gọi các ông kẹ lớn nhỏ này là các ông quan cách mạng. Và các ông quan này đang kéo đất nước ì ạch tiến lên để đuổi kịp người mà cách đây vài thập niên, người cũng chẳng hơn gì ta. Thật là đau xót.
Trở về với cụ NCT, tôi tưởng tượng chắc cụ gầy ốm, da cụ màu xanh lá cây hay lá chuối non, vì cụ quan niệm rằng “Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch. Người quân tử ăn chẳng cầu no”. Ăn chẳng cầu no, chứ đừng nói đến cầu ngon. Chẳng bì với các quan bây giờ, mập lẳn, da dẻ hồng hào, tươi mát. Người ta bảo cái việc di dân, lập ấp, khai phá vài ba huyện của cụ NCT nào thấm tháp gì. Ngày nay người ta không cần biết ai đã khai phá, ai đã mở nước. Người ta chỉ thấy đất nước mình coi vậy chứ còn to lắm, lớn lắm, so với số dân chưa tới một trăm triệu, nên họ đã hào phóng tặng bớt chút đất, chút biển cho người bạn láng giềng khổng lồ. Thật đáng cười buồn.
Tôi không biết cụ NCT có sống đủ ba vạn sáu ngàn ngày không, nhưng tôi đoán chắc cụ phải thọ lắm, vì ăn thi ăn chay, ngủ thì ngủ khỏe. Ðiều này chính cụ nói ra: “Ðêm năm canh an giấc ngáy kho kho. Ðời thái bình cửa thường bỏ ngỏ”. Thực vậy, bụng cụ chứa nhiều rau, vỗ có kêu bình bịch thì cũng chóng tiêu, dạ dày đỡ làm việc. Cụ có vơ vét của công, của tư gì đâu thì nhà cụ có cái quái gì để các chú đạo chích phải nhọc công viếng thăm, đóng cổng, cài cửa mà làm gì. Thế là cụ ngủ khỏe re. Cụ có ngáy như sấm thì tiếng ngáy cũng dễ bay ra ngoài thôi, cửa thoáng mà, có ai trong nhà cũng chẳng bị phiền hà gì. Ông cụ lẩm cẩm này mà làm vua thì phước đức cho dân thời đó còn to hơn nhiều. Và ngày nay nếu các vua quan lớn nhỏ mà biết noi gương cụ thì dân ta thật đã hạnh phúc lắm vậy. Mong lắm thay.
Nhân dịp xuân về, tôi xin kể hầu quý vị một câu chuyện dân gian, liên quan tới việc con người muốn trẻ mãi không già, với hy vọng sẽ mang cho quý vị một nụ cười nhẹ nhàng để đón một mùa xuân tươi vui, một năm mới nhiều may mắn.
Có một cặp uyên ương gần kề miệng lỗ, tuổi khoảng thất thập hay bát thập gì đó, đang sống trong một túp lều tranh ở bìa một khu rừng, chờ ngày về với lòng đất. Một buổi sáng đẹp trời, trong lúc cụ bà đang lo cơm nuớc thì cụ ông thả bộ vào rừng. Trời đẹp, cảnh đẹp, cụ ông vui chân đi mãi vào rừng sâu. Tới một con suối chắn ngang, cụ ông mới dừng lại. Hai bên bờ suối là những cây hoa, những bụi hoa thơm ngát, muôn màu, muôn sắc. Trên những cây hoa, trong những bụi hoa là những con chim nho nhỏ đang líu lo thốt ra những âm điệu du dương, bay nhảy rượt đuổi nhau, làm rụng những cánh hoa xuống suối. Làn gió nhẹ thổi những cánh hoa như nhẹ nâng những con thuyền nhỏ bé trôi về những bờ bến không tên, vô định.Cụ cảm thấy mình như giao hòa cùng cảnh vật, bèn cới áo quần, xuống suối tắm. Sau một lát ngâm mình trong làn nước trong xanh, mát rượi, cụ đứng lên, vuốt tóc, và nhìn xuống. Cụ bỗng giật mình. Dưới làn nước lung linh, phản chiếu lên một người… không phải là cụ, mà là một thanh niên. Cụ nhìn kỹ. Thanh niên đó chính là cụ, hơn năm mươi năm về trước. Cụ vừa mừng vừa sợ, kỹ lưỡng quan sát chính mình. Tóc cụ đen trở lại, da cụ hết nhăn nheo, các bắp thịt rắn chắc như xưa. Cụ vội vọt lên bờ, mặc quần áo, chạy bay về nhà.
Cụ ông về tới nhà, cụ bà ra đón, tưởng khách lạ, hỏi kiếm ai. Cụ ông thuật chuyện, cụ bà không tin. Cụ ông phải kể lại những kỷ niệm xa xưa, những vui buồn hồi nảo hồi nao, cụ bà mới tin, bèn nhờ cụ ông coi giùm cơm nước, hỏi đường, và rảo bước ra suối.
Cơm chín, cụ ông dọn mâm chén, chờ mãi không thấy cụ bà về, bèn chạy ra suối tìm vợ. Tới nơi, cụ ông không thấy cụ bà đâu cả, ngoài những con chim nhỏ vẫn tung tăng bay lượn, nhảy nhót, những cánh hoa vẫn nhẹ nhàng trôi xuôi. Bỗng cụ ông nghe tiếng oe oe. Cụ nhìn về phía phát ra tiếng oe oe và đi về hướng đó. Trên nột phiến đá xanh nhẵn, cụ ông trong thấy một bé gái đang quơ tay quơ chân, bên cạnh là quần áo của cụ bà. Cụ ông hiểu ra cớ sự, vội bồng bé lên, lấy quần áo của cụ bà quấn bé lại, và ẵm bé về nhà.
Trên đường về nhà, cụ ông vừa đi vừa âu yếm nói với bé gái, như nói một mình: “Giá mình mà tắm lâu hơn chút nữa, còn teo lại bằng cái ngón tay, cá nó bơi qua nó táp mất, thì biết đâu mà tìm”.
Hai cái câu ngắn ngủi đó, chúng ta thường nghe thốt ra từ cửa miệng của những vị - thường là - cao niên. Người không phải là Ki Tô Giáo thì thường dùng câu đầu, người Ki Tô Giáo thì thường dùng cả hai câu, khi họ nhận ra rằng họ sắp sửa về với lòng đất. Họ thường nói, với một ý có vẻ luyến tiếc ‘Tuổi Trời cho mình xài đã gần hết’, hoặc ‘Tuổi Chúa cho đã gần cạn’.
Từ ngàn xưa, các bậc vua chúa, các vị quyền cao chức trọng, những người giàu có, thường đi tìm thuốc trường sinh, đi tìm một phương pháp nào đó để mong kéo dài tuổi thọ. Nhưng tất cả đều thất bại. Cái giới hạn một trăm năm, hoặc trên một chút, hoặc dưới một chút, vẫn bất di bất dịch. Ngày nay, với khoa học tiến bộ vượt bực, những người giàu có lại nghĩ đến việc ướp xác mình, hy vọng một ngày nào đó khoa học tiến đủ xa để đưa mình trở lại cuộc sống, y như mình vừa trải qua một giấc ngủ dài.
Nếu có người hỏi tôi ai là thần tượng của tôi trên thế gian này, thì tôi sẽ trả lời ngay rằng người đó là cụ Nguyễn Công Trứ. Ðối với cụ, một trăm năm, hay “ba vạn sáu ngàn ngày là mấy”. Thoắt một cái, tuổi Trời cho, tuổi Chúa cho đã gần qua đi. Cách đây năm mươi năm, tôi nghe những câu hát, những phát biểu “năm hai ngàn năm” sao thấy xa xôi quá. Vậy mà thoắt một cái, năm nay đã là năm hai ngàn lẻ bốn.
Ðối với cụ NCT, vấn đề không phải là sống được bao nhiêu ngày trong cái số ba vạn sáu ngàn ngày, mà vấn đề là sống như thế nào trong cái giới hạn ba vạn sáu ngàn ngày ấy. Cụ quan niệm rằng khi được sinh ra trên thế gian này là đã mang nợ với thế gian này, và phải trả nợ sòng phẳng cho thế gian này trước khi về già, hưởng nhàn, và chờ ngày về với lòng đất. Như vậy mới thoải mái. Cụ đã làm đúng như cụ quan niệm về cuộc sống. Cụ trả nợ cho thế gian bằng cách sống cho tha nhân. Cụ phục vụ tha nhân qua việc phục vụ đất nước mà không màng danh lợi. Làm quan đến chức thượng thư, tương đương với chức bộ trưởng bây giờ, cụ không lấy làm vinh, không vênh vang, không góp nhặt của công cũng như của dân. Khi bị kẻ gian hãm hại - thời nào cũng có kẻ gian - cụ bị vua đày đi làm lính thú, một thứ lính ở nơi xa xôi, khỉ ho cò gáy, cụ cũng không lấy làm nhục, cụ vẫn an nhiên trình diện vị quan sở tại, nhỏ xíu so với chức thượng thư của cụ, để lãnh công việc hình phạt của mình. Thế rồi vua biết mình sai lầm, phục chức cho cụ, cụ cũng vẫn chẳng lấy làm vinh, vẫn chẳng thèm báo thù kẻ đã hại mình, vẫn phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.
Làm vua mà biết mình sai lầm và can đảm sửa sai thì ai bảo thời phong kiến là xấu. Người ta đã đem cái chiêu bài sửa cái xấu phong kiến để thực hiện cái tệ hơn nhiều lần. Ngày nay biết bao nhiêu ông vua bự có, con con có, đang phạm sai lầm mà không biết rằng mình sai lầm, đang vơ vét của công, của dân, mà miệng lại lớn tiếng là phục vụ nhân dân. Dân gian Việt đang gọi các ông kẹ lớn nhỏ này là các ông quan cách mạng. Và các ông quan này đang kéo đất nước ì ạch tiến lên để đuổi kịp người mà cách đây vài thập niên, người cũng chẳng hơn gì ta. Thật là đau xót.
Trở về với cụ NCT, tôi tưởng tượng chắc cụ gầy ốm, da cụ màu xanh lá cây hay lá chuối non, vì cụ quan niệm rằng “Ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch. Người quân tử ăn chẳng cầu no”. Ăn chẳng cầu no, chứ đừng nói đến cầu ngon. Chẳng bì với các quan bây giờ, mập lẳn, da dẻ hồng hào, tươi mát. Người ta bảo cái việc di dân, lập ấp, khai phá vài ba huyện của cụ NCT nào thấm tháp gì. Ngày nay người ta không cần biết ai đã khai phá, ai đã mở nước. Người ta chỉ thấy đất nước mình coi vậy chứ còn to lắm, lớn lắm, so với số dân chưa tới một trăm triệu, nên họ đã hào phóng tặng bớt chút đất, chút biển cho người bạn láng giềng khổng lồ. Thật đáng cười buồn.
Tôi không biết cụ NCT có sống đủ ba vạn sáu ngàn ngày không, nhưng tôi đoán chắc cụ phải thọ lắm, vì ăn thi ăn chay, ngủ thì ngủ khỏe. Ðiều này chính cụ nói ra: “Ðêm năm canh an giấc ngáy kho kho. Ðời thái bình cửa thường bỏ ngỏ”. Thực vậy, bụng cụ chứa nhiều rau, vỗ có kêu bình bịch thì cũng chóng tiêu, dạ dày đỡ làm việc. Cụ có vơ vét của công, của tư gì đâu thì nhà cụ có cái quái gì để các chú đạo chích phải nhọc công viếng thăm, đóng cổng, cài cửa mà làm gì. Thế là cụ ngủ khỏe re. Cụ có ngáy như sấm thì tiếng ngáy cũng dễ bay ra ngoài thôi, cửa thoáng mà, có ai trong nhà cũng chẳng bị phiền hà gì. Ông cụ lẩm cẩm này mà làm vua thì phước đức cho dân thời đó còn to hơn nhiều. Và ngày nay nếu các vua quan lớn nhỏ mà biết noi gương cụ thì dân ta thật đã hạnh phúc lắm vậy. Mong lắm thay.
Nhân dịp xuân về, tôi xin kể hầu quý vị một câu chuyện dân gian, liên quan tới việc con người muốn trẻ mãi không già, với hy vọng sẽ mang cho quý vị một nụ cười nhẹ nhàng để đón một mùa xuân tươi vui, một năm mới nhiều may mắn.
Có một cặp uyên ương gần kề miệng lỗ, tuổi khoảng thất thập hay bát thập gì đó, đang sống trong một túp lều tranh ở bìa một khu rừng, chờ ngày về với lòng đất. Một buổi sáng đẹp trời, trong lúc cụ bà đang lo cơm nuớc thì cụ ông thả bộ vào rừng. Trời đẹp, cảnh đẹp, cụ ông vui chân đi mãi vào rừng sâu. Tới một con suối chắn ngang, cụ ông mới dừng lại. Hai bên bờ suối là những cây hoa, những bụi hoa thơm ngát, muôn màu, muôn sắc. Trên những cây hoa, trong những bụi hoa là những con chim nho nhỏ đang líu lo thốt ra những âm điệu du dương, bay nhảy rượt đuổi nhau, làm rụng những cánh hoa xuống suối. Làn gió nhẹ thổi những cánh hoa như nhẹ nâng những con thuyền nhỏ bé trôi về những bờ bến không tên, vô định.Cụ cảm thấy mình như giao hòa cùng cảnh vật, bèn cới áo quần, xuống suối tắm. Sau một lát ngâm mình trong làn nước trong xanh, mát rượi, cụ đứng lên, vuốt tóc, và nhìn xuống. Cụ bỗng giật mình. Dưới làn nước lung linh, phản chiếu lên một người… không phải là cụ, mà là một thanh niên. Cụ nhìn kỹ. Thanh niên đó chính là cụ, hơn năm mươi năm về trước. Cụ vừa mừng vừa sợ, kỹ lưỡng quan sát chính mình. Tóc cụ đen trở lại, da cụ hết nhăn nheo, các bắp thịt rắn chắc như xưa. Cụ vội vọt lên bờ, mặc quần áo, chạy bay về nhà.
Cụ ông về tới nhà, cụ bà ra đón, tưởng khách lạ, hỏi kiếm ai. Cụ ông thuật chuyện, cụ bà không tin. Cụ ông phải kể lại những kỷ niệm xa xưa, những vui buồn hồi nảo hồi nao, cụ bà mới tin, bèn nhờ cụ ông coi giùm cơm nước, hỏi đường, và rảo bước ra suối.
Cơm chín, cụ ông dọn mâm chén, chờ mãi không thấy cụ bà về, bèn chạy ra suối tìm vợ. Tới nơi, cụ ông không thấy cụ bà đâu cả, ngoài những con chim nhỏ vẫn tung tăng bay lượn, nhảy nhót, những cánh hoa vẫn nhẹ nhàng trôi xuôi. Bỗng cụ ông nghe tiếng oe oe. Cụ nhìn về phía phát ra tiếng oe oe và đi về hướng đó. Trên nột phiến đá xanh nhẵn, cụ ông trong thấy một bé gái đang quơ tay quơ chân, bên cạnh là quần áo của cụ bà. Cụ ông hiểu ra cớ sự, vội bồng bé lên, lấy quần áo của cụ bà quấn bé lại, và ẵm bé về nhà.
Trên đường về nhà, cụ ông vừa đi vừa âu yếm nói với bé gái, như nói một mình: “Giá mình mà tắm lâu hơn chút nữa, còn teo lại bằng cái ngón tay, cá nó bơi qua nó táp mất, thì biết đâu mà tìm”.