Những ngày đầu năm mới, ai cũng mong gặp được điều may mắn, ai cũng ước ao sự bình an. Nhưng không chỉ trong những ngày đầu năm mà thôi. Người ta mong mỏi suốt năm mới tràn đầy những điều tốt đẹp. Và lòng mong ước trở thành lời cầu chúc trên môi miệng mọi người.

Chính trong niềm mong ước đó, kể từ đêm Ba Mươi Tết, nhất là trong giờ giao thừa, người ta kéo nhau đến chùa hái lộc đầu xuân. Trong niềm phấn khởi của tiết xuân tươi, lộc đầu năm này như lời chúc lành quý giá của Trời đất, của Thần thánh.

Hái lộc đầu năm là một nét đẹp, một việc làm tốt. Bởi thế, người Công Giáo Việt Nam đã “rửa tội” cho truyền thống này, và đem nó vào trong nhà thờ trong những ngày Tết. Chỉ khác một điều, lộc đầu năm của người Công giáo là Lời Chúa: Lẽ sống của chính mình, cũng là lẽ sống của cả nhân loại, nếu ai cũng áp dụng Lời Chúa để sống trong cuộc đời mình.

Như mọi người, những ngày Tết, tôi cũng đi hái lộc. Lộc đầu năm của tôi là một câu Kinh Thánh trích trong sách Sáng Thế: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 1, 27). Câu Kinh Thánh thật là hay. Nhưng sao tôi cứ tần ngần tẩn ngẩn mãi: Chúa đang nói gì với tôi? Sao tôi thấy Lời Chúa trong tờ lộc khó để tôi áp dụng vào cuộc sống của mình quá!

Suy nghĩ mã rồi tôi mở Kinh Thánh ra, đọc lại những trang đầu của sách Sáng Thế, cũng là những trang đầu tiên của Kinh Thánh. Lời của Chúa sao mà ấm áp, gần gũi và tràn đầy yêu thương đến thế. Lời ấy giúp tôi khám phá ra huyền nhiệm của mình, huyền nhiệm về con người.

THIÊN CHÚA SÁNG TẠO:

Sách Sáng Thế cho biết, công trình sáng tạo của Thiên Chúa là mọi loài, là cả vũ trụ này, trong đó có con người là chóp đỉnh của mọi thụ tạo. Thiên Chúa sáng tạo bằng Lời quyền năng, biến hư không thành có mọi thứ. Nhưng Người không sáng tạo cùng lúc nhưng trải dài cả tuần lễ:

Lúc khởi đầu Thiên Chúa sáng tạo trời đất, đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước.

Thiên Chúa phán: “Phải có ánh sáng. Liền có ánh sáng. Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối. Thiên Chúa gọi ánh sáng là “ngày”, bóng tối là “đêm”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng đó là ngày thứ nhất
…”.

Cứ như thế, Thiên Chúa tạo dựng hết ngày này sang ngày khác trong sáu ngày của một tuần lễ. Ngày thứ Bảy, công trình tạo dựng hoàn tất.

Nhưng nói gì thì nói, nếu nhìn vào mặt chữ, và chỉ hiểu theo nghĩa đen của mặt chữ đó khi đọc hai chương đầu của sách Sáng Thế, sẽ thấy trình thuật tạo dựng đầy dẫy mâu thuẫn. Nhưng rất may, Thánh Kinh mang ý nghĩa của những điều thuộc về đức tin. Vì chất chứa bên dưới mặt chữ là những mạc khải của đức tin cho nên ý nghĩa của Thánh Kinh rất sâu xa, độc đáo, và bống bẩy. Ta có thể nêu ra một vài nhận định như sau:

1. Trình thuật tạo dựng chỉ muốn nhấn mạnh hai điều quan trọng là:

Tất cả mọi loài do Thiên Chúa tạo dựng.

Thiên Chúa tạo dựng có trật tự và tốt đẹp (biểu hiện bằng thời khóa biểu).

2. Thánh Kinh được viết từ xa xưa, nên dùng những kiểu nói, những hình ảnh bình dân và dùng những quan niệm khoa học cổ thời để người xưa dễ hiểu, nên ngày nay lỗi thời và dễ gây ngộ nhận.

Dù Thánh Kinh dùng kiểu nói xưa để diễn tả chân lý tôn giáo, nhưng ý nghĩa mà những kiểu nói đó muốn ám chỉ thì phù hợp mọi thời đại. Vì Thánh Kinh quan trọng ở ý nghĩa chứ không quan trọng ở kiểu nói.

3. Khi Thánh Kinh cho biết Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, vạn vật, con người trong sáu ngày, ngày thứ bảy, Người nghỉ ngơi. Đó là cái khung văn chương, và khung thời gian ảnh hưởng của não trạng đồng thời của vũ trụ quan thời bấy giờ. Sự thực đâu phải như thế. Nhưng trong cái khung văn chương, và khung thời gian ấy cho ta thấy ý hướng của Thiên Chúa khi linh hứng cho người viết: Thiên Chúa nhắm đến một trật tự hoàn hảo nhằm phục vụ sự sống, đặc biệt là sự sống con người. Thiên Chúa tạo dựng mọi khoáng vật trong bốn ngày đầu, nhưng đến ngày thứ năm sự sống mới xuất hiện. Và mãi đến ngày thứ sáu, ngày cuối cùng của công cuộc tạo dựng, con người mới được sinh ra.

THIÊN CHÚA SÁNG TẠO CON NGƯỜI:

MANG HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA, CON NGƯỜI CÓ MỘT GIÁ TRỊ VÔ CÙNG LỚN:


St 1, 26 – 27 nhắc đi nhắc lại đến ba lần câu nói: “Con người giống hình ảnh Thiên Chúa”. Đây là một điều quí giá vô cùng, một tặng phẩm lớn: Thiên Chúa sáng tạo loài người, không sáng tạo nó giống bất cứ cái gì khác, nhưng lại được mang chính hình ảnh của Thiên Chúa.

Việc sáng tạo con người khác hẳn các loài khác. Vì các loài khác chỉ phán một lời là lập tức có. Nó như một công thức trở thành điệp khúc: “Thiên Chúa phán… liền có”; “Thiên Chúa phán… liền có”. Còn việc tạo dựng con người vượt ra ngoài khuôn khổ của công thức ấy. Thiên Chúa không “phán… liền có” nữa. Dường như Người đặt hết trách nhiệm của mình trong việc tạo dựng đó. Sách Thánh diễn tả việc tạo dựng này làm cho Người phải cân nhắc lắm, đắn đo lắm, suy tính nhiều lắm. Người như muốn căn dặn chính mình: “Ta hãy làm ra con người theo hình ảnh Ta…”.

Chưa hết, ở chương hai, sách Sáng Thế còn mô tả Thiên Chúa như một người thợ gốm tỉ mỉ, nắn nót để nặn thành hình con người. Chưa có một loài động vật nào mà Thiên Chúa phải ra tay tác thành như thế cả, Ngài chỉ “phán” và “có”, thế là xong. Còn loài người, Thiên Chúa chủ động thật sự, hạ mình thật sự để tạo ra nó, và cũng không ngần ngại ghi dấu ấn hình ảnh của Người trên nó.

Vẫn chưa hết! Chỉ có con người mới được Thiên Chúa thổi hơi ban Thần Khí, ban sự sống. Chưa có một loài thụ tạo nào, sách Thánh cũng chưa từng bao giờ cho biết bất cứ một loài nào, là thụ tạo mà lạisống bằng hơi thở, bằng sự sống của chính Đấng dựng nên mình. Chỉ có con người được ban sự sống rút ra từ chính sự sống của Thiên Chúa. Chúng ta thử tưởng tượng mà xem, một ngày nào đó, Thiên Chúa cầm lấy sản phẩm mà chính mình vừa mới tạo ra, mang hình ảnh của mình, thổi một luồng hơi thở, lập tức nó trở thành một sinh vật sống: khôn ngoan, có hoạt động, thông minh, và rất đáng yêu. Bởi thế giá trị của con người là giá trị thánh thiêng, nhân phẩm của con người không chỉ vì là người, mà còn trong tương quan với trời cao.

Mang hình ảnh Thiên Chúa, con người có linh hồn thiêng liêng, có trí tuệ và có ý chí tự do. Muôn loài trong vũ trụ được Thiên Chúa dựng nên đều là vật chất. Chỉ có con người vừa là vật chất: thể xác; vừa là tinh thần: Linh hồn. Linh hồn thuộc thế giới thần linh, không bao giờ mất đi, không bao giờ chết. Có linh hồn cho nên con ngời có một vận mệnh vĩnh cửu. Cả hai, xác - hồn tạo thành một bản thể duy nhất: Người. Có hồn, không có xác; hoặc ngược lại, chỉ có xác nhưng không có hồn, đều không phải là người toàn vẹn. Thể xác được linh động hóa nhờ có tinh thần là hồn thiêng.

Đàng khác, khi tạo nên muôn vật, chắc chắn Thiên Chúa chúc lành cho chúng để tất cả chúng “đều tốt đẹp”. Nhưng chỉ có nơi con người, Thánh Kinh mới nhắc tới một cách minh xác, rõ ràng: “Thiên Chúa ban phúc lành cho họ” (St 1, 28). Và như thế, tất cả những gì mà con người có được đều chứng minh Thiên Chúa vô cùng tôn trọng con người.

Vì con người giống hình ảnh Thiên Chúa, và vì Thiên Chúa vô cùng tôn trọng con người, do đó nhân phẩm của nó là tối quan trọng. Chính vì đặt nền tảng nơi Thiên Chúa, nên bất cứ ai xúc phạm nhân phẩm đều xúc phạm đến chính Thiên Chúa. Cain là kẻ đều tiên xúc phạm nhân phẩm con người, là kẻ đầu tiên giết người, giết chính em ruột của mình. Hành động giết người của Cain cũng là hành động xúc phạm Thiên Chúa, như Lời Chúa nói: “Máu của em ngươi kêu vang tới trời thấu đến tai Ta” (St 4, 10).

Cũng vậy, ai xúc phạm Thiên Chúa đều làm tổn thương nhân phẩm của chính mình: Adam là người đầu tiên của nhân loại đánh mất nhân phẩm của chính mình khi không vâng lời Thiên Chúa. Ông đã phải nhục nhã, cúi mặt bước ra khỏi địa đàng dưới lưỡi gươm lửa của thiên thần, là hình tượng của sự uy quyền của Thiên Chúa.

GIỐNG HÌNH ẢNH THIÊN CHÚA, GIỐNG NHƯ THẾ NÀO?

Sách Giáo lý Công giáo cho biết, giống hình ảnh Thiên Chúa, con người có trí tuệ, có tự do. Thần học dạy, trí tuệ giúp con người nhận biết Thiên Chúa. Còn tự do sẽ làm con người nên tốt, nếu sử dụng tự do vào mục đích tốt. Hoặc nên xấu, nếu sử dụng vào mục đích xấu, tội lỗi. Nhưng nếu chỉ nhìn ở khía cạnh nhân bản, con người không chỉ giống Thiên Chúa về trí tuệ, tự do hay hồn thiêng mà còn giống Thiên Chúa về nhiều mặt khác như: xã hội tính, khả năng sáng tạo…

a. Xã hội tính:

Vì sao nói con người có xã hội tính, thì xã hội tính ấy lại là hình ảnh Thiên Chúa?

Lời Tiền tụng trong lễ Chúa Ba Ngôi tuyên xưng: “Chúa là Thiên Chúa và chủ tể duy nhất, duy nhất không phải trong một Ngôi đơn độc, nhưng trong Ba Ngôi cùng một bản thể”. Ngay chính bản thân Thiên Chúa, dù là một, là duy nhất hoàn hảo tuyệt đối, vẫn là một bản thể biết san sẻ tình yêu, mang nơi mình tới Ba Ngôi vị. Cha trong Con, Con trong Cha. Tình yêu nơi Cha và Con làm phát sinh một Ngôi Vị tròn đầy, mang cùng bản tính như Cha và Con: Ngôi Thánh Thần.

Thiên Chúa duy nhất nhưng không đơn độc. Điều đó chứng tỏ nơi cung lòng Thiên Chúa có một đặc tính xã hội nào đó. Đó là chư nói tới việc sáng tạo con người và thế giới. Thiên Chúa đã chia sẻ tình yêu nơi cung lòng Ba Ngôi ấy cho các thụ tạo mà Người dựng nên, đặc biệt là con người, chóp đỉnh của thụ tạo.

b. Khả năng sáng tạo:

Thánh Kinh luôn cho thấy Thiên Chúa làm việc liên lỉ. Người không ngừng tạo ra thế giới, không ngừng cứu độ. Thánh Kinh diễn tả sự làm việc của Thiên Chúa rất sinh động: Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ, Người lên đường xuất hành với dân, cứu dân khỏi nỗi nhục làm tôi Ai-cập, ngỏ lời với các Tổ phụ, soi sáng cho các tiên tri…

Chúa Giêsu khi còn ở trần gian cũng nêu cao tấm gương hoạt động sáng tạo: làm việc phụ giúp thánh Giuse và Đức Mẹ. Đặc biệt là hoạt động của Chúa Giêsu nhằm cứu độ con người màbốn quyển Tin Mừng nói rất đầy đủ. Thánh Gioan tông đồ đã không quyên ghi lại lời Chúa Giêsu: “Ta và Cha Ta hằng làm việc luôn” (Ga 5, 17).

Khi sáng tạo con người, Thiên Chúa cũng phú ban khả năng sáng tạo của mình cho họ: “Ta hãy tạo dựng con người giống hình ảnh Ta, để con người làm chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” (St 1, 26).

Tuy nhiên việc sáng tạo mà con người được ban cho không theo nghĩa tuyệt đối như Thiên Chúa. Người sáng tạo từ hư không. Con người không thể làm được điều đó. Nó chỉ có thể lao động để sản xuất từ những cái mà Thiên Chúa ban. Lao động của con người là tiếp tục công trình sáng tạo của Thiên Chúa.

TÓM LẠI:

Suy tư từ nội dung của tờ lộc đầu năm, cho tôi hiểu rõ hơn về giá trị con người. Sự hiểu biết này đòi tôi phải tôn trọng mọi người, cho dù là những sinh linh nhỏ bé nhất, đang còn nằm trong bụng mẹ. Và cũng từ những suy tư ấy, tôi nhận ra điều mà Chúa muốn dạy tôi:

- Khi được tạo dựng đã là một vinh dự. Bởi đó khi được dựng thành một con người, phẩm giá càng lớn lao hơn.

- Không chỉ làm người, để con người được sống, hoạt động, hạnh phúc, Thiên Chúa còn ban biết bao nhiêu ơn cần thiết.

- Nhưng không chỉ công trình tạo dựng mới nói lên phẩm giá con người. Phẩm giá ấy càng trở nên mảnh liệt hơn trong công cuộc cứu chuộc. Bởi chẳng những không bị hủy diệt sau phạm tội, mà lại còn đáng lãnh nhận Đấng Cứu Chuộc đời đời là chính Thiên Chúa làm người, hy sinh chết cho mình.

- Cuối cùng, chúng ta phải chân nhận rằng: Phẩm giá của mỗi một người ở nơi Thiên Chúa, xuất phát từ Thiên Chúa. Nếu không có Thiên Chúa, thì không bao giờ có con người. Nếu Thiên Chúa không muốn, thì không bao giờ con người có phẩm giá. Nếu Thiên Chúa vì yêu, đã tạo thành con người, và ban cho mọi sự thuộc về con người, thì cũng chính nhờ Tình yêu của Thiên Chúa, mà con người được vinh dự lớn lao. Tình yêu làm nên giá trị con người. Dó đó, nếu ta sống tương quan tình yêu với Thiên Chúa và với anh em, ta tự mình nâng cao giá trị của chính mình. Ngược lại, không tương quan tình yêu như thế, ta tự đánh mất phẩm giá chính mình.