Một kinh nghiệm của phong trào Focolarê
Biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001 thắm thoát đã qua một năm. Toà Tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới ở Nữu Ước đã sụp đổ. Một biểu tượng của quốc gia hùng mạnh nhất thế giới bị tàn phá, hàng ngàn mạng sống bị chôn vùi trong đống gạch khổng lồ. Không chỉ Hoa Kỳ, mà cả thế giới đã bàng hoàng chứng kiến một quang cảnh đổ nát, chết chóc chưa từng thấy. Cũng trong niềm đau đớn kinh hoàng ấy, đã xảy ra một hiện tượng lạ thường: thành phố Nữu Ước chứng kiến một cuộc chạy đua chưa từng có về tình liên đới và tình hiệp nhất. Con người không còn dửng dưng với nhau nữa, nhưng làn sóng giúp đỡ lan tràn, mỗi người đều sẵn sàng dấn thân làm một cái gì đó, để giúp đỡ những người bị nạn, để góp phần xoa dịu một nỗi thống khổ của nạn nhân. Những người ở xa cũng góp phần bằng lời cầu nguyện, bằng điện văn chia buồn, bằng việc hỗ trợ. Hoa Kỳ, một quốc gia đa chủng tộc, đa văn hóa, đa tôn giáo, đang nêu lên cho thế giới một mẩu mực cho tình liên đới, tình hiệp nhất. Qua biến cố nầy, Hoa Kỳ khám phá ngay tức khắc tình huynh đệ đại đồng là đều cần thiết tuyệt đối ở mọi nơi.
Cũng trong hoàn cảnh đổ nát của Thế Chiến thứ hai, chị Chiara Lubich và một nhóm thiếu nữ trẻ tuổi từ 15 đến 23 ở Trento, miền bắc nước Italia, đã khám phá lại giá trị của niềm tin. Họ chứng kiến mọi "mộng ước bình thường" của người trẻ đã bị chiến tranh làm tiêu tan. Người thì mong chờ lập một mái ấm gia đình, nhưng người hôn phu đã bỏ mình trong trận chiến; một cô khác xây một ngôi nhà chuẩn bị cho tương lai, nhưng bom đạn đã phá tan ngôi nhà; cô khác nữa đang theo học môn Triết ở Đại Học, thì các thứ trường học đều phải đóng cửa vì chiến tranh. Đứng trước cảnh điêu tàn đổ nát họ tự hỏi xem còn lý tưởng nào mà không bị bom đạn phá hủy chăng. Được soi sáng bên trong, họ thấy ngay câu trả lời. Vâng, có một lý tưởng như thế: Thiên Chúa, Thiên Chúa tồn tại muôn đời. Một sức mạnh siêu nhiên thúc đẩy họ chọn Thiên Chúa làm lý tưởng cho cuộc đời. Và họ tha thiết nguyện xin Chúa cho họ khám phá càng sớm càng hay cách thế nhờ đó Thiên Chúa thực sự trở nên lý tưởng của họ. Trong hoàn cảnh chiến tranh, mỗi khi có tiếng còi báo động, nhóm thiếu nữ này phải chạy vào hầm trú, có khi đến 12 lần trong một ngày. Trong hầm chỉ có ánh nến. Như thường lệ, họ đọc Phúc Âm, đó là gia sản duy nhất và là tất cả của họ. Có lần họ mở đến đoạn Chúa Giêsu nói đến di chúc của Người, nói về sự hiệp nhất, trong Phúc âm thánh Gioan. Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha "Xin cho tất cả nên một" (Ga 17,20), một lời cầu nguyện dài và khó hiểu. Nhưng nhóm thiếu nữ nầy cảm thấy đã hiểu được chút ít. Và họ đã cảm nghiệm một điều chắc chắn: Họ sinh ra đời để thực hiện đoạn Phúc Âm nầy, nghĩa là để thực hiện sự hiệp nhất trong thế giới. Lý tưởng xây dựng một thế giới hiệp nhất đã trở thành mục tiêu của thế hệ mới trong phong trào Focolarê. Từ đó đã khởi đầu một công trình rộng lớn, gây cảm hứng cho hoạt động và cuộc sống của mọi người nam nữ, thuộc nhiều chủng tộc, văn hóa và ngôn ngữ khác nhau. Những người thuộc rất nhiều tầng lớp xã hội khác nhau cùng dấn thân để trở thành hạt giống xây dựng một thế giới hiệp nhất.
Linh ứng của Chúa Thánh Thần
Đầu thế kỷ thứ 20, đặc biệt ở Âu châu, đã nẩy sinh nhiều phong trào và cộng đoàn tu đức, và không chỉ trong Giáo Hội Công giáo mà thôi. Phần lớn những phong trào nầy do giáo dân thành lập và thành viên đa số là giáo dân, cho nên họ dấn thân trong mọi tầng lớp xã hội và nhạy cảm trước những vấn đề xã hội. Cách đây 4 năm, trong một cuộc gặp gỡ ở Roma, Đức Thánh Cha đã đưa ra ánh sáng những đặc sủng riêng biệt của họ, cho thấy họ thể hiện cụ thể một Giáo Hội đổi mới do Công Đồng Vaticanô II. đề xướng và trở thành tác nhân của việc "Tân Phúc Âm hóa" mà ĐGH Gioan Phaolô đệ nhị đã ủy thác trước tiên cho giáo dân. Phong trào focolarê nói trên cũng là một trong những công cụ Chúa Thánh Linh dùng để đáp ứng một nhu cầu của thời đại nầy là sự hiệp nhất. Sự hiệp nhất bắt rễ trong cuộc sống Phúc Âm, là quà tặng Đức Giêsu ban cho nhân loại: "Để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con" (Ga 17,21). Vì thế, lý tưởng hiệp nhất lôi cuốn con người trong bất cứ tôn giáo nào. Đức Giêsu đã phá tan bức tường chia cách con người với nhau. Người giải thoát con người khỏi những xiềng xích trói buộc họ, khỏi các hình thức lệ thuộc và nô lệ và tạo nên một cuộc cách mạng ở bình diện hiện hữu, văn hóa và chính trị. Bài viết nầy nhằm ghi lại một số kinh nghiệm cụ thể của phong trào Focolarê trong tiến trình góp phần xây dựng một thế giới hiệp nhất. Thành viên của phong trào phần lớn là kitô hữu, họ là những người một lúc nào đó được đánh động bởi thực tại "Thiên Chúa là Tình Yêu"; họ chọn Ngài làm mục đích cho cuộc sống của họ và dành cho Ngài chỗ trước hết trong cuộc sống. Họ biết được rằng họ được Ngài yêu thương, Đấng - như trong Phúc Âm nói - thậm chí đếm từng sợi tóc ờ trên đầu chúng ta, và họ muốn đáp lại Tình yêu của Ngài và mang nó vào thế giới, với ý thức rằng toàn bộ lề luật Kitô giáo được tóm lại trong tình yêu thương, tình huynh đệ.
Xây dựng hiệp nhất ở bình diện đại kết
Trong quá trình mở rộng sự hiệp nhất trên thế giới, thành viên phong trào focolarê đi đến gặp gỡ nhiều kitô hữu không thuộc giáo hội Công giáo. Lúc ban đầu, họ không hiểu gì về đại kết. Những người nhiều tuổi nhất trong thành viên Focolarê đầu tiên khi đó khoảng 23 đến 25 tuổi, những người khác khoảng từ 15 đến 19. Và trong một thời gian dài, họ tưởng đặc sủng này chỉ dành cho giáo hội Công giáo, để đem cuộc sống mới đến trong giáo xứ, địa phận cũng như trong những thành phần khác nhau của xã hội. Vào năm 1960, chị Chiara Lubich được mời đến nước Đức để nói chuyện trước các nữ tu thuộc giáo hội Tin lành. Tình cờ cũng có ba mục sư Tin lành thuộc Giáo Hội Luterô đến tham dự. Những thành viên focolarê đã thuật lại sự nhiệt tình của họ khi sống Lời Chúa, mỗi tháng chọn một câu để sống và sau đó chia sẻ cho nhau về những kinh nghiệm sống lời Chúa của họ. Những người Tin Lành nghe xong, họ hoàn toàn ngạc nhiên và nói: "Cái gì? Những người Công giáo cũng sống Lời Chúa cách tích cực như vậy sao?" Có lẽ họ nghĩ chỉ có người Tin lành là những người duy nhất sống như thế. Sau đó, các bạn Tin Lành mời thành viên focolarê kể lại kinh nghiệm của họ ở trong các xứ đạo và trong những cộng đoàn Tin lành. Họ đã kể và nhiều người được tràn đầy tình yêu mới đối với Thiên Chúa và đối với Phúc Âm và họ cũng muốn sống lời Chúa như thành viên focolarê, nghĩa là mỗi tháng chọn một câu từ trong Phúc Âm, thực hiện nó bằng hành động cụ thể, để cuộc sống được đánh dấu bởi lời này và sau đó thuật lại kinh nghiệm sống lời Kinh thánh đó cho nhau nghe. Qua đó, tín hữu Công giáo khám phá ra họ có rất nhiều cái chung với những kitô hữu Tin lành này: thí dụ như bí tích Rửa tội, Cựu Ước và Tân Ước. Dĩ nhiên còn những khác biệt trong nhiều vấn đề, tuy nhiên điều quan trọng nhất là họ có thể sống Lời Chúa chung. Họ đã vui mừng và nói rằng: "Chúng ta hãy nên dựa vào nhau như thể một gia đình, chúng ta cùng sống chung là những người kitô hữu. Rồi trước sau gì những trở ngại sẽ sụp đổ." Những quan hệ giữa nhóm Công giáo và Tin lành trở nên sâu đậm hơn, nên họ đã quyết định với đức giám mục Công giáo Josef Stimpfle và đức giám mục Tin lành Dr. Dietzfelbinger mở một trung tâm ở gần Augsburg (miền nam Đức), nơi đó những người Công giáo và Tin lành Luterô sống chung với nhau trong tình yêu hiệp thông, để làm chứng cho sự hiệp nhất. Chính trong đất nước đã từng có chia rẽ tôn giáo nầy, nhóm người nầy đã chứng tỏ có nhiều yếu tố làm họ hiệp nhất được với nhau. Trung tâm đại kết này thật sự là một chứng từ mạnh mẽ cho tất cả những người đến tham quan, một chứng từ tình huynh đệ giữa các kitô hữu thuộc nhiều giáo hội khác nhau.
Một trong những dịp gặp gỡ ở Rôma giữa người Công giáo và Tin lành trong một không khí rất thân tình, cũng có ba tín hữu thuộc Anh giáo. Họ ngạc nhiên nhận định: "Có thể nào như thế được? Chúng tôi chưa từng gặp một bầu khí hài hoà giữa người Công giáo và Tin lành như vậy. Ước gì có thể tổ chức một cuộc gặp gỡ tương tự như vậy cho những người Anh giáo của chúng tôi." Năm sau đó họ trở lại Rôma với một nhóm gồm 100 tín hữu Anh giáo. Họ đã quen biết những người bạn Công giáo và Tin lành. Và họ mời chị Chiara Lubich đến Anh quốc, để tiếp xúc với vị lãnh đạo của họ, lúc đó là Đức Giám Mục Michael Ramsey - "Chị hãy tường thuật cho ngài lý tưởng của chị và hỏi xem chúng ta có thể thực hiện cái gì đó tương tự ngay ở Anh quốc chăng." Chị Chiara đã đi đến đó; Đức Cha Ramsey đã đón tiếp chị với cảm tình nồng hậu, và chị đã kể cho ông nghe về lý tưởng hiệp nhất. Câu trả lời của Đức Cha: "Tôi nhận ra ở đây bàn tay của Thiên Chúa, Bà có thể đến đây khi nào Bà muốn, và hãy phát triển lý tưởng của Bà trong toàn nước Anh." Rất vui mừng chị Chiara trở về từ cuộc viếng thăm này, và như thường lệ chị đã tường thuật lại cho Đức Thánh Cha tất cả.
Vào năm 1967, chị Chiara Lubich nhận được điện thoại cho hay Đức Thượng Phụ Athenagoras muốn gặp chị ở Istanbul. Đức Athenagoras thật sự là một con người đặc biệt, một cá nhân có đặc sủng hiếm có. Chị Chiara đã chia sẻ với Ngài về tinh thần hiệp nhất, về Chúa Giêsu chịu đóng đinh và bị bỏ rơi, về Mẹ Maria. Ngài lập tức hiểu được lý tưởng hiệp nhất của Focolarê. Sau đó, chị Chiara Lubich đã đến Istanbul tất cả 8 lần. Người kế vị Đức Thượng Phụ, Đức Dimitrios I. và Đức Bartholomaeus I. đã tiếp theo đường hướng của ông. Qua ba vị giáo chủ này linh đạo hiệp nhất focolarê đã đến với Chính Thống giáo.
Hiện nay có khoảng 50 ngàn kitô hữu thuộc 300 giáo hội tham gia phong trào. Những mối quan hệ này có hiệu quả như thế nào? Những thành kiến có từ hàng trăm năm được giảm đi. Linh đạo hiệp nhất đã thúc đẩy một sự đổi mới trong cuộc sống cá nhân và cộng đoàn của kitô hữu thuộc nhiều Giáo Hội và đem đến một luồng gió mới trong các cộng đoàn. Đức Hồng Y Bea đã từng nói: "Hãy cùng nhau sống Phúc Âm, các bạn sẽ đến gần Chúa Giêsu và qua đó gần sự hiệp nhất hơn."
Xây dựng hiệp nhất ở bình diện liên tôn
Tuy nhiên công cuộc xây dựng hiệp nhất của phong trào focolarê không giới hạn ở những người kitô hữu. Vì thành viên focolarê hiện diện ở hầu hết các nước trên thế giới, cho nên họ đã thực hiện cuộc đối thoại với những người thuộc các tôn giáo khác. Chẳng hạn, họ có rất nhiều tiếp xúc với những tín đồ thuộc Do thái giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Thần Đạo, Đạo Sikh, v.v... cũng như với những người thuộc các tôn giáo truyền thống. Việc đối thoại này có một nền tảng rõ rệt: ta phải hoà mình nên một với người khác, tìm cách hiểu người đó, nhận chân những giá trị của người đó. Thái độ đối thoại không chỉ là cởi mở và tôn trọng, nhưng còn đòi hỏi mỗi người phải dọn trống tâm hồn để tiếp nhận người khác, để hiểu người khác. Có người nói: "Hiểu tôn giáo của người khác đòi hỏi phải luồn vào trong da của người đó, phải nhìn thế giới từ cái nhìn của người đó, thí dụ, phải hiểu đối với người đó việc là một tín hữu Ấn giáo mang ý nghĩa như thế nào." Phải luôn đặt câu hỏi: mỗi sự kiện đối với tín hữu Ấn giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Do thái giáo... có ý nghĩa gì? Điều này thật quan trọng, không thấu hiểu thì không đi đến đối thoại được.
Với Do thái giáo và Hồi giáo, trong nhiều phương việc đối thoại được dễ dàng hơn, vì chúng ta có chung niềm tin vào một Thiên Chúa. Và ngay họ cũng nói về tình yêu, đương nhiên không luôn là tình yêu như chúng ta hiểu, nghĩa là tham dự vào chính cuộc sống thần linh, vào Tình yêu của Thiên Chúa, như tình yêu ấy được sống trong Thiên Chúa Ba Ngôi. Tuy nhiên, đối với họ tình yêu tha nhân rất quan trọng; họ nói nhiều đến việc muốn điều tốt cho người khác hay lòng thương xót. Năm 1997, chị Chiara là một người da trắng đầu tiên và là một phụ nữ được bước chân vào giáo đường Hồi giáo tại Harlem ở Hoa kỳ để chia sẻ về niềm tin của chị. Đây là một sự kiện đặc biệt trong mối liên hệ giữa Kitô giáo và Hồi giáo. Ở cấp địa phương vẫn thường có những cuộc gặp gỡ liên tôn định kỳ. Chẳng hạn, ở Munich từ 5 năm nay, tín hữu các đạo Bahai, Hồi giáo, Công giáo, Tin lành và Chính Thống gặp nhau 6 tuần một lần, để thảo luận về các vấn đề tôn giáo từ quan điểm riêng của mỗi tôn giáo. Nhờ những cuộc gặp gỡ định kỳ nầy, giữa họ đã nẩy sinh mối tương quan đầy tin tưởng và cởi mở. Cộng tác làm việc chung với tín đồ các tôn giáo khác là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng sự hiệp nhất trên thế giới.
Một tiếp xúc liên tôn quan trọng của phong trào focolarê là cuộc gặp gỡ với thế giới Phật giáo. Cách đây trên 20 năm, chị Chiara Lubich được mời đến Nhật Bản, nơi có nhiều phong trào Phật giáo mới và rất được mộ mến. Một trong những phong trào lớn đó là Rissho-Kosei-kai. Ở đó, chị đã chia sẻ về niềm tin của chị trong một ngôi đền thờ lớn và rất đẹp, với một tượng Phật khổng lồ. Chị nói về Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Giêsu và Mẹ Maria, về nhân sinh quan của chị. Sau đó, có rất nhiều cuộc gặp gỡ với các thành viên của phong trào này cũng có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, và chúng tôi thường xuyên làm việc với nhau. Thật sự có thể nói rằng những anh chị em Phật tử này ngày càng chú ý và cởi mở cho những giá trị của Phúc Âm. Đối lại, tín hữu kitô đã rất ngạc nhiên khi nhận ra có rất nhiều giá trị thiêng liêng và nhân bản quý báu được tìm thấy nơi anh chị em Phật tử.
Sự gặp gỡ bất ngờ nhất với Phật giáo xảy ra cách đây nhiều năm trong cuộc gặp gỡ với những đại diện cao cấp của Phật giáo Thái Lan: với nhà sư Ajahn Tong và một vị tu sĩ có chức vị cao là Luce Ardente (Vì tên của ông đối với người Tây phương rất khó đọc, nên tạm gọi ông là "Luce Ardente"). Họ có rất nhiều đệ tử ở quê hương của họ cũng như du học ở các nước khác. Sau đó, hai vị sư nầy đến Italia để làm quen nhiều hơn với phong trào focolarê. Họ đã là khách trong một trung tâm kiểu mẫu, nơi các thành viên của phong trào thuộc nhiều ơn gọi khác nhau sống chung ở đó. Họ làm việc và cầu nguyện chung, đào sâu linh đạo hiệp nhất, cũng như học hỏi về Thần học. Nhưng trên hết, họ cố gắng thực hiện cuộc sống yêu thương, bởi vì họ muốn chỉ cho thấy hình ảnh thế giới sẽ như thế nào, khi tất cả mọi người sống Phúc Âm. Hai vị tu sĩ này đã đến thăm và sống qua kinh nghiệm yêu thương cụ thể này. Ở đây những trở ngại ngăn cản việc đối thoại giữa tín hữu Phật giáo và Kitô giáo đã sụp đổ. Hai người đã chứng kiến nhiều anh chị em đã sống cho người khác; điều đó đã gây ấn tượng mạnh đối với họ. Sau đó họ đã mời chị Chiara đến Thái Lan, để chị chia sẻ kinh nghiệm với tư cách là kitô hữu. Chị đã nói chuyện ngay cả ở một trong những đại học của Phật giáo.
Trong tất cả các tôn giáo đều có khía cạnh của một chân lý duy nhất. Nhiều tôn giáo có một điều gọi là "lề luật vàng", dạy chúng ta đối xử với người khác, như chúng ta muốn được người khác đối xử với mình. "Điều gì bạn không muốn người khác làm cho mình, cũng đừng làm cho người khác" (x. Mt 7,12). Điều đó có nghĩa gì? Yêu thương người khác như chính mình. Tư tưởng "yêu thương người khác như chính mình" có trong rất nhiều tôn giáo. Nếu đó là căn bản chung, thì chúng ta đã có một khởi điểm tốt. Qua đó, người ta có thể tìm tới một cuộc đối thoại, chuyện trò; hoặc chung nhau xây dựng cho hoà bình và lẽ phải. Nếu tất cả mọi người cùng thực hành nguyên tắc đó, thì tình huynh đệ sẽ mở con đường xây dựng hiệp nhất trên thế giới này, và nhiều người sẽ cảm nhận được tình yêu đối với Thiên Chúa.
Xây dựng hiệp nhất ở ngoài phạm vi tôn giáo
Nhưng thực hiện hiệp nhất đến mức đó vẫn chưa đủ. Ngoài những người Công giáo, những kitô hữu thuộc các giáo hội khác nhau, những tín đồ thuộc các tôn giáo khác, cũng có một số đông những người không có niềm tin, những người vô thần hoặc lãnh đạm. Có thể gặp trường hợp trong một cuộc họp mặt, có ai đó hỏi một người: "Anh thuộc cộng đồng tôn giáo nào?" và câu trả lời: "Không thuộc về tôn giáo nào hết." Và những người này cũng tham gia vào phong trào focolarê. Vì, tuy không có niềm tin tôn giáo, họ thường theo đuổi những lý tưởng hoặc giá trị, thí dụ như sự tự do, cuộc sống, nhân quyền, hoặc tình tương thân, và thật ra những giá trị nầy đều mang tính cách Kitô giáo. Vì trong phong trào có nhiều dự án đề xướng mang tính cách xã hội, cho nên những người không tín ngưỡng cũng có cơ hội tham gia, để dấn thân giúp đỡ thế giới một cách cụ thể rõ rệt. Và họ sẵn lòng làm điều đó. Tham gia phong trào focolarê ngày nay có khoảng 75 ngàn người không thuộc tôn giáo nào cả.
Một trong những đề xướng có tính cách xã hội là kinh tế hiệp thông. Năm 1991 chị Chiara đến Brasil, nơi cũng có một trung tâm kiểu mẩu rất đẹp tên là Araceli. Ngay từ đầu, những thành viên Focolarê sống tinh thần chia sẻ, để mọi sự làm của chung như những kitô hữu đầu tiên. Hoặc những thành viên khác tự nguyện đóng góp phần dư dật. Số tiền chung từ cộng đoàn được chia sẻ cho nhau theo nhu cầu từng người.
Khi đến Brasil, chị Chiara nhận thấy có nhiều người nghèo khó tham gia phong trào, những người sống trong khu nhà tồi tệ. Người thì thiếu một căn nhà ở cho đúng là con người, người khác thì không thể cho con đến trường học. Thiếu thốn về quần áo, thực phẩm; nhiều gia đình chỉ lo đủ cho một bữa ăn trong ngày. Có những người bệnh không thể đến bệnh viện vì thiếu tiền. Và từ đó nẩy sinh một sáng kiến. Người Brasil rất chăm chỉ, thông minh, nhiệt tình và có sức mạnh. Họ nói với nhau: "Ta không thể xây dựng những cơ xưởng thu lợi để phục vụ cho những người nghèo sao?" Họ quy định rõ, số huê lợi của cơ xưởng được chia làm ba phần: một phần để để bảo tồn và phát triển cơ xưởng, một phần khác dành để trực tiếp giúp người nghèo, và phần thứ ba dành cho việc đào tạo người sống tinh thần hiệp thông nầy. Việc làm này đã là một linh ứng, vì sáng kiến này đầu tiên được hình thành cụ thể ở Brasil, sau đó phát triển nhanh chóng đến nhiều quốc gia khác. Vào năm 1995, đã có trên 500 cơ xưởng ở cả châu Âu và châu Mỹ hoạt động theo tinh thần kinh tế hiệp thông, để góp phần xoá đói giảm nghèo.
Bí quyết để xây dựng hiệp nhất
Có lẽ người ta đặt câu hỏi: Do đâu mà phong trào đạt được những thành quả trong việc xây dựng hiệp nhất như thế? Có một bí quyết nào đặc biệt không? Bí quyết chính là tình huynh đệ, lòng yêu thương chính Đức Giêsu đã dạy chúng ta: "Anh em hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến anh em." Thật ra, tình bác ái Kitô giáo không phải là điều xa lạ đối với kitô hữu chúng ta và ai trong chúng ta ít nhiều cũng đã từng cố gắng sống theo giới răn mến Chúa yêu người. Tuy nhiên, tình huynh đệ chân thật như Đức Giêsu mong muốn mang một số những đặc tính riêng, khác với tình yêu thường được quảng bá trong thế giới chúng ta đang sống. Chúng ta thử kiểm điểm lại.
- Tình huynh đệ chân thật hướng tới tất cả mọi người, không phân biệt người có thiện cảm hay không có thiện cảm, người đẹp hay xấu, lớn hay nhỏ, người đồng hương hay ngoại quốc. Tình yêu mến của chúng ta phải có hiệu lực với tất cả mọi người.
- Tình huynh đệ chân thật thực hiện bước trước. Nó không chờ đợi sự yêu thương của người khác, rồi mới đáp trả, nhưng tự nguyện đến với người khác. Cũng như Cha trên trời: Người đã ban Chúa Giêsu đến với chúng ta, Đấng đã chết cho chúng ta, khi chúng ta còn là những người tội lỗi. Ngài đã yêu thương chúng ta trước hết. Tình huynh đệ chân thật như Đức Kitô dạy đòi hỏi phải đi bước trước.
- Tình huynh đệ chân thật cũng có nghĩa là yêu mến người khác như chính mình, thật sự như chính mình. Chúng ta phải hiểu nó sát từng chữ một: người khác là tôi, tôi là người khác. Tôi phải yêu mến họ như tôi yêu chính tôi và làm điều tốt cho họ, như tôi đã làm điều đó cho tôi.
- Tình huynh đệ chân thật thúc đẩy ta hoà mình làm một với người khác, đau khổ với người đau khổ, cũng như vui mừng với người vui. Nếu như bạn thăm một người bệnh, bạn sẽ không nghĩ gì khác hơn: Bạn phải đau khổ với người đó; sống những gì người đó đang trải qua, tự lồng mình vào hoàn cảnh người đó. Điều này không phải là một sự yêu mến theo cảm xúc, nhưng nó liên quan đến những hành động cụ thể.
- Tình huynh đệ chân thật đưa chúng ta đến việc yêu mến Chúa Giêsu nơi người khác. Chúa Giêsu hiện diện nơi mỗi người mà chúng ta gặp gỡ. Trong trình thuật về ngày phán xét, Ngài xem điều ta làm tốt hay xấu cho người khác, là làm cho chính Ngài.
- Sự yêu thương mà Chúa Giêsu đem vào thế giới, phải trở nên hỗ tương và dẫn đến cộng đồng. Chúng ta phải yêu thương lẫn nhau, để qua đó hình thành sự hiệp nhất, sự hiệp nhất mà Chúa Giêsu đã nói đến trong di chúc, trong lời cầu nguyện của Ngài: "Anh em hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến anh em." Ngài muốn rằng chúng ta yêu thương nhau, như Ba Ngôi Thiên Chúa thực hiện. Cách thế yêu thương đó phải trở nên kiểu mẫu cho tình huynh đệ giữa các kitô hữu với nhau.
- Và điểm cuối là: qua cái chết trên thánh giá Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta rõ rệt hơn hết Tình Yêu là gì. Ngài chỉ cho cho chúng ta rằng tình yêu thường có nghĩa là đau khổ. Nên một với người khác có nghĩa là tự bỏ mình đi và nghĩ đến người khác. Tuy nhiên nó cũng mang lại niềm vui lớn lao. Trên thánh giá, Đức Giêsu đã phải kêu lên: "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?" (Mt 27,46) và qua đó Ngài đã đặt nền móng cho tình huynh đệ, để tái lập sự hiệp nhất loài người với Thiên Chúa và loài người giữa nhau. Chính vì loài người chúng ta đã xa lìa Thiên Chúa và chia rẽ giữa nhau, cho nên Con Thiên Chúa đã đón nhận nỗi đau khổ phải chia lìa Chúa Cha, Đấng Người biết là luôn hiệp nhất với Người (xem Ga 10,30). Tuy nhiên, Người không dừng lại ở đau khổ nầy. Qua lời cầu "Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha" (Lc 23,46), Người bày tỏ lại niềm tin tưởng phó thác vào Chúa Cha và tái lập sự hiệp nhất của loài người với Thiên Chúa và sự hiệp nhất giữa nhau. Đó là mầu nhiệm của Đức Giêsu bị bỏ rơi và sống lại: Khi chúng ta xem Người là mẫu gương, thì chúng ta tìm thấy con đường để lướt thắng những chia rẽ và có thể đối thoại với mọi người.
Xây dựng một thế giới hiệp nhất: Một ảo tưởng chăng?
Nhìn vào hoàn cảnh của thế giới hiện nay, có thể chúng nghĩ đó chỉ là một ước mơ xa vời; vâng, một ảo tưởng. Nhưng ấn tượng này sẽ trở thành tương đối khi chúng ta suy tư về lời Đức Thánh Cha nói với các bạn trẻ cách đây vài năm: "Đây thực là một viễn tượng biểu lộ từ nhiếu dấu chỉ của thời đại chúng ta: một thế giới hiệp nhất. Đó là ước vọng lớn lao nhất của con người ngày nay... đồng thời cũng là thách đố lớn lao nhất của tương lai. Người ta nhận định được rằng chúng ta đang tiến nhanh đến sự hiệp nhất". Một hạt giống được gieo xuống lòng đất, với thời gian sẽ nẩy sinh hoa trái. Có lẽ chúng ta mường tượng được: nếu như càng có nhiều người xác tín với lý tưởng xây dựng một thế giới hiệp nhất, trung thành sống tình huynh đệ theo niềm tin tôn giáo hoặc theo lương tâm con người, thì sẽ xuất hiện một thế giới, trong đó người ta sống với nhau như là anh chị em và hiệp nhất với nhau hơn, cũng như cùng chung dấn thân đóng góp xây dựng cho tình huynh đệ đại đồng.
Biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001 thắm thoát đã qua một năm. Toà Tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới ở Nữu Ước đã sụp đổ. Một biểu tượng của quốc gia hùng mạnh nhất thế giới bị tàn phá, hàng ngàn mạng sống bị chôn vùi trong đống gạch khổng lồ. Không chỉ Hoa Kỳ, mà cả thế giới đã bàng hoàng chứng kiến một quang cảnh đổ nát, chết chóc chưa từng thấy. Cũng trong niềm đau đớn kinh hoàng ấy, đã xảy ra một hiện tượng lạ thường: thành phố Nữu Ước chứng kiến một cuộc chạy đua chưa từng có về tình liên đới và tình hiệp nhất. Con người không còn dửng dưng với nhau nữa, nhưng làn sóng giúp đỡ lan tràn, mỗi người đều sẵn sàng dấn thân làm một cái gì đó, để giúp đỡ những người bị nạn, để góp phần xoa dịu một nỗi thống khổ của nạn nhân. Những người ở xa cũng góp phần bằng lời cầu nguyện, bằng điện văn chia buồn, bằng việc hỗ trợ. Hoa Kỳ, một quốc gia đa chủng tộc, đa văn hóa, đa tôn giáo, đang nêu lên cho thế giới một mẩu mực cho tình liên đới, tình hiệp nhất. Qua biến cố nầy, Hoa Kỳ khám phá ngay tức khắc tình huynh đệ đại đồng là đều cần thiết tuyệt đối ở mọi nơi.
Cũng trong hoàn cảnh đổ nát của Thế Chiến thứ hai, chị Chiara Lubich và một nhóm thiếu nữ trẻ tuổi từ 15 đến 23 ở Trento, miền bắc nước Italia, đã khám phá lại giá trị của niềm tin. Họ chứng kiến mọi "mộng ước bình thường" của người trẻ đã bị chiến tranh làm tiêu tan. Người thì mong chờ lập một mái ấm gia đình, nhưng người hôn phu đã bỏ mình trong trận chiến; một cô khác xây một ngôi nhà chuẩn bị cho tương lai, nhưng bom đạn đã phá tan ngôi nhà; cô khác nữa đang theo học môn Triết ở Đại Học, thì các thứ trường học đều phải đóng cửa vì chiến tranh. Đứng trước cảnh điêu tàn đổ nát họ tự hỏi xem còn lý tưởng nào mà không bị bom đạn phá hủy chăng. Được soi sáng bên trong, họ thấy ngay câu trả lời. Vâng, có một lý tưởng như thế: Thiên Chúa, Thiên Chúa tồn tại muôn đời. Một sức mạnh siêu nhiên thúc đẩy họ chọn Thiên Chúa làm lý tưởng cho cuộc đời. Và họ tha thiết nguyện xin Chúa cho họ khám phá càng sớm càng hay cách thế nhờ đó Thiên Chúa thực sự trở nên lý tưởng của họ. Trong hoàn cảnh chiến tranh, mỗi khi có tiếng còi báo động, nhóm thiếu nữ này phải chạy vào hầm trú, có khi đến 12 lần trong một ngày. Trong hầm chỉ có ánh nến. Như thường lệ, họ đọc Phúc Âm, đó là gia sản duy nhất và là tất cả của họ. Có lần họ mở đến đoạn Chúa Giêsu nói đến di chúc của Người, nói về sự hiệp nhất, trong Phúc âm thánh Gioan. Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha "Xin cho tất cả nên một" (Ga 17,20), một lời cầu nguyện dài và khó hiểu. Nhưng nhóm thiếu nữ nầy cảm thấy đã hiểu được chút ít. Và họ đã cảm nghiệm một điều chắc chắn: Họ sinh ra đời để thực hiện đoạn Phúc Âm nầy, nghĩa là để thực hiện sự hiệp nhất trong thế giới. Lý tưởng xây dựng một thế giới hiệp nhất đã trở thành mục tiêu của thế hệ mới trong phong trào Focolarê. Từ đó đã khởi đầu một công trình rộng lớn, gây cảm hứng cho hoạt động và cuộc sống của mọi người nam nữ, thuộc nhiều chủng tộc, văn hóa và ngôn ngữ khác nhau. Những người thuộc rất nhiều tầng lớp xã hội khác nhau cùng dấn thân để trở thành hạt giống xây dựng một thế giới hiệp nhất.
Linh ứng của Chúa Thánh Thần
Đầu thế kỷ thứ 20, đặc biệt ở Âu châu, đã nẩy sinh nhiều phong trào và cộng đoàn tu đức, và không chỉ trong Giáo Hội Công giáo mà thôi. Phần lớn những phong trào nầy do giáo dân thành lập và thành viên đa số là giáo dân, cho nên họ dấn thân trong mọi tầng lớp xã hội và nhạy cảm trước những vấn đề xã hội. Cách đây 4 năm, trong một cuộc gặp gỡ ở Roma, Đức Thánh Cha đã đưa ra ánh sáng những đặc sủng riêng biệt của họ, cho thấy họ thể hiện cụ thể một Giáo Hội đổi mới do Công Đồng Vaticanô II. đề xướng và trở thành tác nhân của việc "Tân Phúc Âm hóa" mà ĐGH Gioan Phaolô đệ nhị đã ủy thác trước tiên cho giáo dân. Phong trào focolarê nói trên cũng là một trong những công cụ Chúa Thánh Linh dùng để đáp ứng một nhu cầu của thời đại nầy là sự hiệp nhất. Sự hiệp nhất bắt rễ trong cuộc sống Phúc Âm, là quà tặng Đức Giêsu ban cho nhân loại: "Để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con" (Ga 17,21). Vì thế, lý tưởng hiệp nhất lôi cuốn con người trong bất cứ tôn giáo nào. Đức Giêsu đã phá tan bức tường chia cách con người với nhau. Người giải thoát con người khỏi những xiềng xích trói buộc họ, khỏi các hình thức lệ thuộc và nô lệ và tạo nên một cuộc cách mạng ở bình diện hiện hữu, văn hóa và chính trị. Bài viết nầy nhằm ghi lại một số kinh nghiệm cụ thể của phong trào Focolarê trong tiến trình góp phần xây dựng một thế giới hiệp nhất. Thành viên của phong trào phần lớn là kitô hữu, họ là những người một lúc nào đó được đánh động bởi thực tại "Thiên Chúa là Tình Yêu"; họ chọn Ngài làm mục đích cho cuộc sống của họ và dành cho Ngài chỗ trước hết trong cuộc sống. Họ biết được rằng họ được Ngài yêu thương, Đấng - như trong Phúc Âm nói - thậm chí đếm từng sợi tóc ờ trên đầu chúng ta, và họ muốn đáp lại Tình yêu của Ngài và mang nó vào thế giới, với ý thức rằng toàn bộ lề luật Kitô giáo được tóm lại trong tình yêu thương, tình huynh đệ.
Xây dựng hiệp nhất ở bình diện đại kết
Trong quá trình mở rộng sự hiệp nhất trên thế giới, thành viên phong trào focolarê đi đến gặp gỡ nhiều kitô hữu không thuộc giáo hội Công giáo. Lúc ban đầu, họ không hiểu gì về đại kết. Những người nhiều tuổi nhất trong thành viên Focolarê đầu tiên khi đó khoảng 23 đến 25 tuổi, những người khác khoảng từ 15 đến 19. Và trong một thời gian dài, họ tưởng đặc sủng này chỉ dành cho giáo hội Công giáo, để đem cuộc sống mới đến trong giáo xứ, địa phận cũng như trong những thành phần khác nhau của xã hội. Vào năm 1960, chị Chiara Lubich được mời đến nước Đức để nói chuyện trước các nữ tu thuộc giáo hội Tin lành. Tình cờ cũng có ba mục sư Tin lành thuộc Giáo Hội Luterô đến tham dự. Những thành viên focolarê đã thuật lại sự nhiệt tình của họ khi sống Lời Chúa, mỗi tháng chọn một câu để sống và sau đó chia sẻ cho nhau về những kinh nghiệm sống lời Chúa của họ. Những người Tin Lành nghe xong, họ hoàn toàn ngạc nhiên và nói: "Cái gì? Những người Công giáo cũng sống Lời Chúa cách tích cực như vậy sao?" Có lẽ họ nghĩ chỉ có người Tin lành là những người duy nhất sống như thế. Sau đó, các bạn Tin Lành mời thành viên focolarê kể lại kinh nghiệm của họ ở trong các xứ đạo và trong những cộng đoàn Tin lành. Họ đã kể và nhiều người được tràn đầy tình yêu mới đối với Thiên Chúa và đối với Phúc Âm và họ cũng muốn sống lời Chúa như thành viên focolarê, nghĩa là mỗi tháng chọn một câu từ trong Phúc Âm, thực hiện nó bằng hành động cụ thể, để cuộc sống được đánh dấu bởi lời này và sau đó thuật lại kinh nghiệm sống lời Kinh thánh đó cho nhau nghe. Qua đó, tín hữu Công giáo khám phá ra họ có rất nhiều cái chung với những kitô hữu Tin lành này: thí dụ như bí tích Rửa tội, Cựu Ước và Tân Ước. Dĩ nhiên còn những khác biệt trong nhiều vấn đề, tuy nhiên điều quan trọng nhất là họ có thể sống Lời Chúa chung. Họ đã vui mừng và nói rằng: "Chúng ta hãy nên dựa vào nhau như thể một gia đình, chúng ta cùng sống chung là những người kitô hữu. Rồi trước sau gì những trở ngại sẽ sụp đổ." Những quan hệ giữa nhóm Công giáo và Tin lành trở nên sâu đậm hơn, nên họ đã quyết định với đức giám mục Công giáo Josef Stimpfle và đức giám mục Tin lành Dr. Dietzfelbinger mở một trung tâm ở gần Augsburg (miền nam Đức), nơi đó những người Công giáo và Tin lành Luterô sống chung với nhau trong tình yêu hiệp thông, để làm chứng cho sự hiệp nhất. Chính trong đất nước đã từng có chia rẽ tôn giáo nầy, nhóm người nầy đã chứng tỏ có nhiều yếu tố làm họ hiệp nhất được với nhau. Trung tâm đại kết này thật sự là một chứng từ mạnh mẽ cho tất cả những người đến tham quan, một chứng từ tình huynh đệ giữa các kitô hữu thuộc nhiều giáo hội khác nhau.
Một trong những dịp gặp gỡ ở Rôma giữa người Công giáo và Tin lành trong một không khí rất thân tình, cũng có ba tín hữu thuộc Anh giáo. Họ ngạc nhiên nhận định: "Có thể nào như thế được? Chúng tôi chưa từng gặp một bầu khí hài hoà giữa người Công giáo và Tin lành như vậy. Ước gì có thể tổ chức một cuộc gặp gỡ tương tự như vậy cho những người Anh giáo của chúng tôi." Năm sau đó họ trở lại Rôma với một nhóm gồm 100 tín hữu Anh giáo. Họ đã quen biết những người bạn Công giáo và Tin lành. Và họ mời chị Chiara Lubich đến Anh quốc, để tiếp xúc với vị lãnh đạo của họ, lúc đó là Đức Giám Mục Michael Ramsey - "Chị hãy tường thuật cho ngài lý tưởng của chị và hỏi xem chúng ta có thể thực hiện cái gì đó tương tự ngay ở Anh quốc chăng." Chị Chiara đã đi đến đó; Đức Cha Ramsey đã đón tiếp chị với cảm tình nồng hậu, và chị đã kể cho ông nghe về lý tưởng hiệp nhất. Câu trả lời của Đức Cha: "Tôi nhận ra ở đây bàn tay của Thiên Chúa, Bà có thể đến đây khi nào Bà muốn, và hãy phát triển lý tưởng của Bà trong toàn nước Anh." Rất vui mừng chị Chiara trở về từ cuộc viếng thăm này, và như thường lệ chị đã tường thuật lại cho Đức Thánh Cha tất cả.
Vào năm 1967, chị Chiara Lubich nhận được điện thoại cho hay Đức Thượng Phụ Athenagoras muốn gặp chị ở Istanbul. Đức Athenagoras thật sự là một con người đặc biệt, một cá nhân có đặc sủng hiếm có. Chị Chiara đã chia sẻ với Ngài về tinh thần hiệp nhất, về Chúa Giêsu chịu đóng đinh và bị bỏ rơi, về Mẹ Maria. Ngài lập tức hiểu được lý tưởng hiệp nhất của Focolarê. Sau đó, chị Chiara Lubich đã đến Istanbul tất cả 8 lần. Người kế vị Đức Thượng Phụ, Đức Dimitrios I. và Đức Bartholomaeus I. đã tiếp theo đường hướng của ông. Qua ba vị giáo chủ này linh đạo hiệp nhất focolarê đã đến với Chính Thống giáo.
Hiện nay có khoảng 50 ngàn kitô hữu thuộc 300 giáo hội tham gia phong trào. Những mối quan hệ này có hiệu quả như thế nào? Những thành kiến có từ hàng trăm năm được giảm đi. Linh đạo hiệp nhất đã thúc đẩy một sự đổi mới trong cuộc sống cá nhân và cộng đoàn của kitô hữu thuộc nhiều Giáo Hội và đem đến một luồng gió mới trong các cộng đoàn. Đức Hồng Y Bea đã từng nói: "Hãy cùng nhau sống Phúc Âm, các bạn sẽ đến gần Chúa Giêsu và qua đó gần sự hiệp nhất hơn."
Xây dựng hiệp nhất ở bình diện liên tôn
Tuy nhiên công cuộc xây dựng hiệp nhất của phong trào focolarê không giới hạn ở những người kitô hữu. Vì thành viên focolarê hiện diện ở hầu hết các nước trên thế giới, cho nên họ đã thực hiện cuộc đối thoại với những người thuộc các tôn giáo khác. Chẳng hạn, họ có rất nhiều tiếp xúc với những tín đồ thuộc Do thái giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Thần Đạo, Đạo Sikh, v.v... cũng như với những người thuộc các tôn giáo truyền thống. Việc đối thoại này có một nền tảng rõ rệt: ta phải hoà mình nên một với người khác, tìm cách hiểu người đó, nhận chân những giá trị của người đó. Thái độ đối thoại không chỉ là cởi mở và tôn trọng, nhưng còn đòi hỏi mỗi người phải dọn trống tâm hồn để tiếp nhận người khác, để hiểu người khác. Có người nói: "Hiểu tôn giáo của người khác đòi hỏi phải luồn vào trong da của người đó, phải nhìn thế giới từ cái nhìn của người đó, thí dụ, phải hiểu đối với người đó việc là một tín hữu Ấn giáo mang ý nghĩa như thế nào." Phải luôn đặt câu hỏi: mỗi sự kiện đối với tín hữu Ấn giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Do thái giáo... có ý nghĩa gì? Điều này thật quan trọng, không thấu hiểu thì không đi đến đối thoại được.
Với Do thái giáo và Hồi giáo, trong nhiều phương việc đối thoại được dễ dàng hơn, vì chúng ta có chung niềm tin vào một Thiên Chúa. Và ngay họ cũng nói về tình yêu, đương nhiên không luôn là tình yêu như chúng ta hiểu, nghĩa là tham dự vào chính cuộc sống thần linh, vào Tình yêu của Thiên Chúa, như tình yêu ấy được sống trong Thiên Chúa Ba Ngôi. Tuy nhiên, đối với họ tình yêu tha nhân rất quan trọng; họ nói nhiều đến việc muốn điều tốt cho người khác hay lòng thương xót. Năm 1997, chị Chiara là một người da trắng đầu tiên và là một phụ nữ được bước chân vào giáo đường Hồi giáo tại Harlem ở Hoa kỳ để chia sẻ về niềm tin của chị. Đây là một sự kiện đặc biệt trong mối liên hệ giữa Kitô giáo và Hồi giáo. Ở cấp địa phương vẫn thường có những cuộc gặp gỡ liên tôn định kỳ. Chẳng hạn, ở Munich từ 5 năm nay, tín hữu các đạo Bahai, Hồi giáo, Công giáo, Tin lành và Chính Thống gặp nhau 6 tuần một lần, để thảo luận về các vấn đề tôn giáo từ quan điểm riêng của mỗi tôn giáo. Nhờ những cuộc gặp gỡ định kỳ nầy, giữa họ đã nẩy sinh mối tương quan đầy tin tưởng và cởi mở. Cộng tác làm việc chung với tín đồ các tôn giáo khác là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng sự hiệp nhất trên thế giới.
Một tiếp xúc liên tôn quan trọng của phong trào focolarê là cuộc gặp gỡ với thế giới Phật giáo. Cách đây trên 20 năm, chị Chiara Lubich được mời đến Nhật Bản, nơi có nhiều phong trào Phật giáo mới và rất được mộ mến. Một trong những phong trào lớn đó là Rissho-Kosei-kai. Ở đó, chị đã chia sẻ về niềm tin của chị trong một ngôi đền thờ lớn và rất đẹp, với một tượng Phật khổng lồ. Chị nói về Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Giêsu và Mẹ Maria, về nhân sinh quan của chị. Sau đó, có rất nhiều cuộc gặp gỡ với các thành viên của phong trào này cũng có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, và chúng tôi thường xuyên làm việc với nhau. Thật sự có thể nói rằng những anh chị em Phật tử này ngày càng chú ý và cởi mở cho những giá trị của Phúc Âm. Đối lại, tín hữu kitô đã rất ngạc nhiên khi nhận ra có rất nhiều giá trị thiêng liêng và nhân bản quý báu được tìm thấy nơi anh chị em Phật tử.
Sự gặp gỡ bất ngờ nhất với Phật giáo xảy ra cách đây nhiều năm trong cuộc gặp gỡ với những đại diện cao cấp của Phật giáo Thái Lan: với nhà sư Ajahn Tong và một vị tu sĩ có chức vị cao là Luce Ardente (Vì tên của ông đối với người Tây phương rất khó đọc, nên tạm gọi ông là "Luce Ardente"). Họ có rất nhiều đệ tử ở quê hương của họ cũng như du học ở các nước khác. Sau đó, hai vị sư nầy đến Italia để làm quen nhiều hơn với phong trào focolarê. Họ đã là khách trong một trung tâm kiểu mẫu, nơi các thành viên của phong trào thuộc nhiều ơn gọi khác nhau sống chung ở đó. Họ làm việc và cầu nguyện chung, đào sâu linh đạo hiệp nhất, cũng như học hỏi về Thần học. Nhưng trên hết, họ cố gắng thực hiện cuộc sống yêu thương, bởi vì họ muốn chỉ cho thấy hình ảnh thế giới sẽ như thế nào, khi tất cả mọi người sống Phúc Âm. Hai vị tu sĩ này đã đến thăm và sống qua kinh nghiệm yêu thương cụ thể này. Ở đây những trở ngại ngăn cản việc đối thoại giữa tín hữu Phật giáo và Kitô giáo đã sụp đổ. Hai người đã chứng kiến nhiều anh chị em đã sống cho người khác; điều đó đã gây ấn tượng mạnh đối với họ. Sau đó họ đã mời chị Chiara đến Thái Lan, để chị chia sẻ kinh nghiệm với tư cách là kitô hữu. Chị đã nói chuyện ngay cả ở một trong những đại học của Phật giáo.
Trong tất cả các tôn giáo đều có khía cạnh của một chân lý duy nhất. Nhiều tôn giáo có một điều gọi là "lề luật vàng", dạy chúng ta đối xử với người khác, như chúng ta muốn được người khác đối xử với mình. "Điều gì bạn không muốn người khác làm cho mình, cũng đừng làm cho người khác" (x. Mt 7,12). Điều đó có nghĩa gì? Yêu thương người khác như chính mình. Tư tưởng "yêu thương người khác như chính mình" có trong rất nhiều tôn giáo. Nếu đó là căn bản chung, thì chúng ta đã có một khởi điểm tốt. Qua đó, người ta có thể tìm tới một cuộc đối thoại, chuyện trò; hoặc chung nhau xây dựng cho hoà bình và lẽ phải. Nếu tất cả mọi người cùng thực hành nguyên tắc đó, thì tình huynh đệ sẽ mở con đường xây dựng hiệp nhất trên thế giới này, và nhiều người sẽ cảm nhận được tình yêu đối với Thiên Chúa.
Xây dựng hiệp nhất ở ngoài phạm vi tôn giáo
Nhưng thực hiện hiệp nhất đến mức đó vẫn chưa đủ. Ngoài những người Công giáo, những kitô hữu thuộc các giáo hội khác nhau, những tín đồ thuộc các tôn giáo khác, cũng có một số đông những người không có niềm tin, những người vô thần hoặc lãnh đạm. Có thể gặp trường hợp trong một cuộc họp mặt, có ai đó hỏi một người: "Anh thuộc cộng đồng tôn giáo nào?" và câu trả lời: "Không thuộc về tôn giáo nào hết." Và những người này cũng tham gia vào phong trào focolarê. Vì, tuy không có niềm tin tôn giáo, họ thường theo đuổi những lý tưởng hoặc giá trị, thí dụ như sự tự do, cuộc sống, nhân quyền, hoặc tình tương thân, và thật ra những giá trị nầy đều mang tính cách Kitô giáo. Vì trong phong trào có nhiều dự án đề xướng mang tính cách xã hội, cho nên những người không tín ngưỡng cũng có cơ hội tham gia, để dấn thân giúp đỡ thế giới một cách cụ thể rõ rệt. Và họ sẵn lòng làm điều đó. Tham gia phong trào focolarê ngày nay có khoảng 75 ngàn người không thuộc tôn giáo nào cả.
Một trong những đề xướng có tính cách xã hội là kinh tế hiệp thông. Năm 1991 chị Chiara đến Brasil, nơi cũng có một trung tâm kiểu mẩu rất đẹp tên là Araceli. Ngay từ đầu, những thành viên Focolarê sống tinh thần chia sẻ, để mọi sự làm của chung như những kitô hữu đầu tiên. Hoặc những thành viên khác tự nguyện đóng góp phần dư dật. Số tiền chung từ cộng đoàn được chia sẻ cho nhau theo nhu cầu từng người.
Khi đến Brasil, chị Chiara nhận thấy có nhiều người nghèo khó tham gia phong trào, những người sống trong khu nhà tồi tệ. Người thì thiếu một căn nhà ở cho đúng là con người, người khác thì không thể cho con đến trường học. Thiếu thốn về quần áo, thực phẩm; nhiều gia đình chỉ lo đủ cho một bữa ăn trong ngày. Có những người bệnh không thể đến bệnh viện vì thiếu tiền. Và từ đó nẩy sinh một sáng kiến. Người Brasil rất chăm chỉ, thông minh, nhiệt tình và có sức mạnh. Họ nói với nhau: "Ta không thể xây dựng những cơ xưởng thu lợi để phục vụ cho những người nghèo sao?" Họ quy định rõ, số huê lợi của cơ xưởng được chia làm ba phần: một phần để để bảo tồn và phát triển cơ xưởng, một phần khác dành để trực tiếp giúp người nghèo, và phần thứ ba dành cho việc đào tạo người sống tinh thần hiệp thông nầy. Việc làm này đã là một linh ứng, vì sáng kiến này đầu tiên được hình thành cụ thể ở Brasil, sau đó phát triển nhanh chóng đến nhiều quốc gia khác. Vào năm 1995, đã có trên 500 cơ xưởng ở cả châu Âu và châu Mỹ hoạt động theo tinh thần kinh tế hiệp thông, để góp phần xoá đói giảm nghèo.
Bí quyết để xây dựng hiệp nhất
Có lẽ người ta đặt câu hỏi: Do đâu mà phong trào đạt được những thành quả trong việc xây dựng hiệp nhất như thế? Có một bí quyết nào đặc biệt không? Bí quyết chính là tình huynh đệ, lòng yêu thương chính Đức Giêsu đã dạy chúng ta: "Anh em hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến anh em." Thật ra, tình bác ái Kitô giáo không phải là điều xa lạ đối với kitô hữu chúng ta và ai trong chúng ta ít nhiều cũng đã từng cố gắng sống theo giới răn mến Chúa yêu người. Tuy nhiên, tình huynh đệ chân thật như Đức Giêsu mong muốn mang một số những đặc tính riêng, khác với tình yêu thường được quảng bá trong thế giới chúng ta đang sống. Chúng ta thử kiểm điểm lại.
- Tình huynh đệ chân thật hướng tới tất cả mọi người, không phân biệt người có thiện cảm hay không có thiện cảm, người đẹp hay xấu, lớn hay nhỏ, người đồng hương hay ngoại quốc. Tình yêu mến của chúng ta phải có hiệu lực với tất cả mọi người.
- Tình huynh đệ chân thật thực hiện bước trước. Nó không chờ đợi sự yêu thương của người khác, rồi mới đáp trả, nhưng tự nguyện đến với người khác. Cũng như Cha trên trời: Người đã ban Chúa Giêsu đến với chúng ta, Đấng đã chết cho chúng ta, khi chúng ta còn là những người tội lỗi. Ngài đã yêu thương chúng ta trước hết. Tình huynh đệ chân thật như Đức Kitô dạy đòi hỏi phải đi bước trước.
- Tình huynh đệ chân thật cũng có nghĩa là yêu mến người khác như chính mình, thật sự như chính mình. Chúng ta phải hiểu nó sát từng chữ một: người khác là tôi, tôi là người khác. Tôi phải yêu mến họ như tôi yêu chính tôi và làm điều tốt cho họ, như tôi đã làm điều đó cho tôi.
- Tình huynh đệ chân thật thúc đẩy ta hoà mình làm một với người khác, đau khổ với người đau khổ, cũng như vui mừng với người vui. Nếu như bạn thăm một người bệnh, bạn sẽ không nghĩ gì khác hơn: Bạn phải đau khổ với người đó; sống những gì người đó đang trải qua, tự lồng mình vào hoàn cảnh người đó. Điều này không phải là một sự yêu mến theo cảm xúc, nhưng nó liên quan đến những hành động cụ thể.
- Tình huynh đệ chân thật đưa chúng ta đến việc yêu mến Chúa Giêsu nơi người khác. Chúa Giêsu hiện diện nơi mỗi người mà chúng ta gặp gỡ. Trong trình thuật về ngày phán xét, Ngài xem điều ta làm tốt hay xấu cho người khác, là làm cho chính Ngài.
- Sự yêu thương mà Chúa Giêsu đem vào thế giới, phải trở nên hỗ tương và dẫn đến cộng đồng. Chúng ta phải yêu thương lẫn nhau, để qua đó hình thành sự hiệp nhất, sự hiệp nhất mà Chúa Giêsu đã nói đến trong di chúc, trong lời cầu nguyện của Ngài: "Anh em hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến anh em." Ngài muốn rằng chúng ta yêu thương nhau, như Ba Ngôi Thiên Chúa thực hiện. Cách thế yêu thương đó phải trở nên kiểu mẫu cho tình huynh đệ giữa các kitô hữu với nhau.
- Và điểm cuối là: qua cái chết trên thánh giá Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta rõ rệt hơn hết Tình Yêu là gì. Ngài chỉ cho cho chúng ta rằng tình yêu thường có nghĩa là đau khổ. Nên một với người khác có nghĩa là tự bỏ mình đi và nghĩ đến người khác. Tuy nhiên nó cũng mang lại niềm vui lớn lao. Trên thánh giá, Đức Giêsu đã phải kêu lên: "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?" (Mt 27,46) và qua đó Ngài đã đặt nền móng cho tình huynh đệ, để tái lập sự hiệp nhất loài người với Thiên Chúa và loài người giữa nhau. Chính vì loài người chúng ta đã xa lìa Thiên Chúa và chia rẽ giữa nhau, cho nên Con Thiên Chúa đã đón nhận nỗi đau khổ phải chia lìa Chúa Cha, Đấng Người biết là luôn hiệp nhất với Người (xem Ga 10,30). Tuy nhiên, Người không dừng lại ở đau khổ nầy. Qua lời cầu "Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha" (Lc 23,46), Người bày tỏ lại niềm tin tưởng phó thác vào Chúa Cha và tái lập sự hiệp nhất của loài người với Thiên Chúa và sự hiệp nhất giữa nhau. Đó là mầu nhiệm của Đức Giêsu bị bỏ rơi và sống lại: Khi chúng ta xem Người là mẫu gương, thì chúng ta tìm thấy con đường để lướt thắng những chia rẽ và có thể đối thoại với mọi người.
Xây dựng một thế giới hiệp nhất: Một ảo tưởng chăng?
Nhìn vào hoàn cảnh của thế giới hiện nay, có thể chúng nghĩ đó chỉ là một ước mơ xa vời; vâng, một ảo tưởng. Nhưng ấn tượng này sẽ trở thành tương đối khi chúng ta suy tư về lời Đức Thánh Cha nói với các bạn trẻ cách đây vài năm: "Đây thực là một viễn tượng biểu lộ từ nhiếu dấu chỉ của thời đại chúng ta: một thế giới hiệp nhất. Đó là ước vọng lớn lao nhất của con người ngày nay... đồng thời cũng là thách đố lớn lao nhất của tương lai. Người ta nhận định được rằng chúng ta đang tiến nhanh đến sự hiệp nhất". Một hạt giống được gieo xuống lòng đất, với thời gian sẽ nẩy sinh hoa trái. Có lẽ chúng ta mường tượng được: nếu như càng có nhiều người xác tín với lý tưởng xây dựng một thế giới hiệp nhất, trung thành sống tình huynh đệ theo niềm tin tôn giáo hoặc theo lương tâm con người, thì sẽ xuất hiện một thế giới, trong đó người ta sống với nhau như là anh chị em và hiệp nhất với nhau hơn, cũng như cùng chung dấn thân đóng góp xây dựng cho tình huynh đệ đại đồng.