LỄ HIỂN LINH: MỖI KITÔ HỮU PHẢI LÀ MỘT SAO

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Khi Thiên Chúa Ngôi Lời sinh ra là một trẻ thơ nằm trong máng cỏ thì thiên sứ đã báo tin vui cho những người chăn chiên có mặt trên cánh đồng Bêlem để họ đến nhìn nhận, thờ lạy, ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa. Đó chính là việc Thiên Chúa hiển linh tức tỏ mình ra cho con người. Nhưng nếu hiển linh theo nghĩa chặt là Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại, tức cho những người chưa biết và tin thờ Chúa, thì câu chuyện ba nhà chiêm tinh Phương Đông (chúng ta còn thường gọi là ba vua) đi tìm “Vua dân Do Thái (tức Hài Nhi Giêsu) mới sinh ra” mới được coi là biểu trưng của việc Thiên Chúa hiển linh. Mừng Lễ Hiển Linh năm nay, chúng ta hãy mở rộng tâm hồn lắng nghe và đón nhận Lời Chúa và đem sứ điệp của Lời ấy vào cuộc sống để Chúa được hiển linh trong và qua cuộc đời của chúng ta.

II. LẮNG NGHE & TÌM HIỂU LỜI CHÚA

2.1 Bài đọc 1: Is 60,1-6: * “Sách Isaia là cuốn sách ngôn sứ lớn nhất. Sách gồm ba phần thuộc ba thời kỳ khác nhau. Isaia 56-66 gọi là Isaia đệ tam, có lẽ là một bộ sưu tập lời rao giảng của nhiều vị ngôn sứ trong thời kỳ từ lúc xây xong đền thờ mới (515 trước CN) cho đến 445 trước CN. Khi Nơkhêmia hoàn tất việc trùng tu tường thành, dân chúng chán nản vì thấy đền thờ mới quá khiêm tốn, đời sống kinh tế chẳng khá gì, đời sống đạo đức cũng chẳng hơn xưa: vẫn đầy áp bức bóc lột, thối nát. Các ngôn sứ củng cố niềm tin của cộng đồng Do Thái hồi hương” (Kinh Thánh trọn bộ, Dẫn nhập Cựu ước, trang 28-29).

* Is 60, 1-6: là một đoạn văn đầy phấn chấn và hoan lạc vì tác giả nói về ngày vinh quang của Thiên Chúa chiếu tỏa trên thành thánh Giêrusalem và trên dân tộc Ítraen nhỏ bé. Đó là ngày Thiên Chúa đến ngự trong đền thờ và giữa lòng dân. Mọi chuyện thay đổi một cách kỳ diệu và Giêrusalem sẽ là trung tâm của hoàn vũ: “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước. Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem, tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi: con trai ngươi từ phương xa tới, con gái ngươi được ẵm bên hông… Nguồn giầu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Epha: tất cả những người từ Sơva đến, đều mang theo vàng với trầm hương và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.”

* Tất cả những điều ngôn sứ nói trên không thể chỉ được hiểu theo nghĩa đen của các từ, các chữ. Vì nếu chỉ được hiểu theo nghĩa đen thì quang cảnh huy hoàng ấy cũng chẳng đáng là bao, so với sự giầu sang, lộng lẫy của các đền đài vua chúa hay phủ tổng thống hay bản doanh của các nhà tài phiệt, các vua dầu lửa ngày nay. Chúng ta phải hiểu những điều ấy theo nghĩa bóng, nghĩa tâm linh.

2.2 Bài đọc 2: Ep 3,2-3a.5-6: * Thánh Phaolô truyền đạt cho các tín hữu E-phêsô một điều cực kỳ quan trọng và bất ngờ: đó là “Trong Đức Kitô và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.” Thánh Phaolô gọi đó là mầu nhiệm của Thiên Chúa và nói rõ hơn: “Mầu nhiệm này Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông đồ và ngôn sứ của Người.”

* Nói là điều cực kỳ quan trọng và bất ngờ, vì đó là điều then chốt của mạc khải Kitô giáo và vì vượt ngoài trí tưởng tượng của người Do Thái đã trở thành các tín hữu đầu tiên. Như vậy thì lịch sử dân Ítraen hay mối tương quan của Thiên Chúa với dân Ítraen chỉ là một giai đoạn của lịch sử nhân loại, chỉ là bước chuẩn bị cho Giao Ước mới giữa Thiên Chúa và loài người, nhờ đó mọi dân tộc trên trái đất này đều trở thành đồng thữa kế với dân riêng của Giavê, mọi người đều có quyền gọi Thiên Chúa là Chúa Tể, là Vua và là Cha.

* 2.3 Bài Tin Mừng: Mt 2,1-12: Là tường thuật của Mátthêu về việc ba nhà chiêm tinh từ Phương Đông tìm đến Giêrusalem để nhìn nhận và bái thờ “Vua dân Do Thái mới sinh ra”. Sở dĩ họ biết được biến cố trọng đại này là vì họ nghiên cứu các hiện tượng của thiên nhiên như là các nhà thiên văn học. Nhưng sở dĩ họ đọc ra dấu hiệu (hay dấu chỉ) là vì họ được Thiên Chúa soi sáng trong lòng: “Đức Vua dân Do Thái mới sinh hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên Phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người”.

* Khi tường thuật câu chuyện trên, Phúc âm Mátthêu làm nổi bật cảnh xôn xao, thắc mắc và lo sợ của vua Hêrôđê và thành Giêrusalem. Phải nhờ đến sự am tường Thánh Kinh Cựu Ước của các thượng tế và kinh sư họ mới biết được nơi Đức Kitô (tức Đấng được xức dầu tấn phong Vua) sinh ra:“Tại Bêlem miền Giuđê, vì trong sách ngôn sứ, có chép rằng: “Phần ngươi, hỡi Bêlem miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ítraen dân Ta sẽ ra đời.”

* Vì ngộ nhận “Vua dân Do Thái mới sinh ra” mà các nhà chiêm tinh đang tìm kiếm là nhân vật sẽ tranh giành ngai vàng với mình nên vua Hêrôđê nhanh chóng biết mình phải xử sự thế nào để tránh hiểm họa sau này: “Bấy giờ vua Hêrôđê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến hỏi cặn kẽ với ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. Rồi vua phái các vị ấy đi Bêlem và dặn rằng: “Xin quí ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người” Thật ra vua Hêrôđê không hề có ý đến bái lạy “Vua dân Do Thái mới sinh ra” mà có ý đồ giết hại “Vua mới sinh ra” ấy. Chính vì thế mà Thiên Chúa đã can thiệp để các nhà chiêm tinh không bị mắc lừa và Hài Nhi Giêsu không bị Hêrôđê ám hại.

* Trở lại với các nhà chiêm tinh: Sau khi từ giã vua Hêrôđê để tiếp tục lên đường tìm kiếm, họ lại được thấy ngôi sao và nhờ ngôi sao dẫn đường ấy, họ đã tới tận nơi Hài Nhi đang ở. Họ gặp Hài Nhi và Mẹ Người là Đức Maria. Họ sấp mình thờ lạy Người và tiến dâng lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược là những vật phẩm quí giá và phù hợp với cương vị vua chúa. Họ hân hoan ra về dưới sự hướng dẫn của Thiên Chúa.

III. ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA

3.1 Thiên Chúa hiển linh là các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” * Đó là ý nghĩa cốt yếu nhất của Lễ Hiển Linh. Nếu ngày hôm nay thánh Phaolô viết lại những điều này thì chắc ngài sẽ không viết: … “cùng thừa kế với người Do Thái……” mà sẽ viết “cùng thừa kế với người Công giáo” vì người Công giáo nói riêng và người Kitô hữu nói chung đã thừa kế gia sản và lịch sử của người Do Thái. Dân riêng (dân Do Thái) đã mở rộng thành Dân Thiên Chúa bao gồm mọi dân tộc trên trái đất này, không phân biệt mầu da, chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, trình độ văn minh hay kỹ nghệ.

* Vậy thì mừng Lễ Hiển Linh một cách “chính thống” nhất là chúng ta phải hướng lòng, hướng suy nghĩ và hành động của mình và của cộng đoàn về những người ngoại, về các dân ngoại. Điều này hết sức phù hợp với tinh thần và đường hướng mục vụ của Năm Truyền Giáo vừa được tôn lên thành Năm Thánh Truyền Giáo của Giáo hội Việt Nam. Trong số 80 triệu người sống trên đất nước này thì chỉ có khoảng 6-7% là người Công giáo và Tin Lành. Tin Mừng đã được cha ông chúng ta tiếp nhận cách đây khoảng 470 năm, một thời gian đã khá dài. Hơn nữa chúng ta còn có thể nói rằng: mảnh đất hình chữ S thân thương này đã thấm ướt máu đào của các thánh và các anh hùng Tử Đạo. Thế nhưng trong số những người Công giáo và Tin Lành Việt Nam hỏi được bao nhiêu phần trăm là các tín đồ xác tín, nhiệt thành, dấn thân? Và trong xã hội ta hiện nay nổi cộm tình trạng gia đình tan vỡ, gia đình rối và tình trạng bỏ đạo, nhất là ở giới trẻ. Bên cạnh đó là các tệ nạn xã hội như đĩ điếm, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, buôn gian bán lận, tham nhũng hối lộ… càng ngày càng lan rộng và làm nhiều người, nhiều gia đình điêu đứng, khốn khổ, nhiều giá trị đạo đức truyền thống dân tộc bị băng hoại. Đó là những thách thức lớn đối với người và cộng đoàn Kitô giáo. Đó là các môi trường và những con người đang trông chờ Chúa đến và đang cần được Người biến đổi và cứu độ.

* Các nhà chiêm tinh Phương Đông đã nhờ ngôi sao lạ của “Vua dân Do Thái mới sinh ra” tức của Hài Nhi Giêsu, mà đến được Bêlem và gặp được Hài Nhi Giêsu cùng Mẹ Người là Bà Maria. Cũng thế hơn 70 triệu người Việt Nam nói riêng và hằng trăm triệu người châu Á nói chung sẽ chỉ nhận ra Đức Giêsu là Cứu Chúa nếu mỗi người Công giáo Việt Nam là một SAO dẫn đường chỉ lối chỉ cho họ. Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II đã hơn một lần nhắc nhở chúng ta là con người thời nay trông chờ (và tin tưởng) các chứng nhân hơn là các thày dạy, vì có nhiều thày dạy lại dạy một đàng mà sống một nẻo, thậm chí sống ngược lại những điều họ giảng dạy, chẳng khác gì các Biệt phái Pharisêu thời Chúa Giêsu. Trong cụ thể, chỉ khi người Kitô hữu sống tinh thần Bát Phúc, sống yêu thương, trách nhiệm, công bình, thanh liêm, hy sinh, phục vụ tha nhân và ích chung thì mới trở thành SAO trên bầu trời và trong cộng đồng con người. Nói cách khác là chỉ khi nào chúng ta để cho Thiên Chúa hiển linh trong tâm hồn và đời sống của mình thì chúng ta mới là SAO của Người.

3.2 Để trở thành SAO: Hãy sửa sai hay tăng cường một lối sống nào đó của bạn để người khác nhìn vào bạn mà nhận ra Chúa. Nói cách khác “Bạn hãy cho thấy mình là người có đức tin. Đức tin được diễn tả qua hành động yêu thương cụ thể, và yêu thương lại làm cho đức tin lớn lên” (Manna năm C).

IV. CẦU NGUYỆN (tùy chọn).