Huấn thị của Thánh bộ “Đời sống thánh hiến và hiệp hội tông đồ."
PHẦN III
ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
ĐẶT LÊN HÀNG ĐẦU
20. Đời sống thánh hiến, giống như tất cả hình thức khác của đời sống ki-tô hữu, tự bản chất là năng động và tất cả những ai được Thánh Khí mời gọi đi theo, phải không ngừng canh tân chính mình trong việc tăng trưởng cho đến tầm vóc viên mãn của Thân thể Đức Ki-tô (x. Ep 4,13). Đời sống ấy đã đi vào hiện hữu nhờ sự thúc đẩy có tính sáng tạo của Thánh Khí, Đấng dẫn dắt các vị sáng lập nam nữ trên con đường Phúc âm, bằng cách làm phát sinh nhiều đoàn sủng đáng ngưỡng mộ khác nhau. Những vị sáng lập này, mở lòng và ngoan ngoãn theo sự hướng dẫn của Thánh Khí, đã bước theo Đức Ki-tô sát hơn, sống tình thân với Người và chia sẻ trọn vẹn sứ mệnh của Người.
Kinh nghiệm về Thánh Khí của họ đòi buộc những người đi theo họ không những bảo tồn, nhưng còn phải đào sâu và phát triển.60 Cả ngày hôm nay nữa, cũng cần mở lòng và ngoan ngoãn với hoạt động của Thánh Khí, một hoạt động luôn mới mẻ và có tính sáng tạo. Chỉ mình Thánh Khí mới giữ cho sống động sự tươi trẻ và tính xác thực của buổi ban đầu, đồng thời truyền cho sự can đảm của tinh thần phụ thuộc lẫn nhau và óc sáng tạo cần thiết để đáp trả các dấu chỉ thời đại.
Như thế chúng ta phải để cho Thánh Khí hướng dẫn nhằm khám phá Thiên Chúa và Lời Người cách luôn mới mẻ, thiết tha yêu mến Thiên Chúa và nhân loại, và hiểu biết đoàn sủng đã được trao ban. Đó là chú tâm vào một linh đạo hiểu theo nghĩa mạnh nhất của từ: cuộc sống theo Thánh Khí. Đời sống thánh hiến hôm nay cần đến một sự tái sinh thiêng liêng, bằng cách thể hiện trong đời sống cụ thể ý nghĩa thiêng liêng và phúc âm của sự thánh hiến bởi phép Thánh tẩy và sự thánh hiến mới mẻ và đặc biệt của nó.
“Đời sống thiêng liêng phải được đặt lên hàng đầu trong chương trình của mọi gia đình đời sống tận hiến, ngõ hầu mọi tu hội và mọi cộng đoàn trở thành những trường học về linh đạo phúc âm chân chính”.61 Chúng ta phải để cho Thánh Khí khai mở nguồn nước hằng sống tuôn trào từ Đức Ki-tô cách vô cùng phong phú. Chính Thánh Khí làm cho chúng ta nhìn nhận Đức Giê-su Na-da-rét là Đức Chúa (x. 1 Cr 12,3), Ngài cho chúng ta nghe được lời mời gọi đi theo Đức Ki-tô và kết hiệp chúng ta trong Người. Ai không có Thánh Khí của Đức Ki-tô thì không thuộc về Đức Ki-tô (x. Rm 8,9). Chính Thánh Khí, khi biến chúng ta thành những người con trong Chúa Con, làm chứng về tình phụ tử của Thiên Chúa, giúp chúng ta ý thức đến tư cách là nghĩa tử và cho phép chúng ta dám gọi Thiên Chúa là “Abba, Cha ơi” (Rm 8,15). Chính Thánh Khí đổ tràn tình yêu và làm nảy sinh sự hiệp thông. Quả thực đời sống thánh hiến cần đến một nỗ lực mới mẻ sống thánh thiện: đó là, trong sự giản dị của đời sống hằng ngày, ta nhắm đến tính triệt để của Bài giảng trên Núi 62 và tình yêu có tính đòi hỏi, thể hiện qua mối tương quan với Chúa, qua đời sống hiệp thông và qua việc phục vụ mọi người nam nữ. Chính một sự mới mẻ bên trong đó, hoàn toàn được tràn đầy sinh khí nhờ sức mạnh của Thánh Thần, và hướng về Chúa Cha, khi tìm kiếm Nước Thiên Chúa, sẽ cho phép người thánh hiến xuất phát lại từ Đức Ki-tô và trở nên chứng nhân cho tình yêu của Người.
Lời mời gọi quay trở về những nguồn cội và chọn lựa riêng của mình trong linh đạo mở ra những con đường hướng về tương lai. Trước hết, nó đòi buộc phải sống trọn vẹn ý nghĩa thần học của các lời khuyên phúc âm khởi đi từ mẫu gương là đời sống của Thiên Chúa Ba ngôi, theo lời dạy của tông huấn Đời sống thánh hiến, 63 và có cơ hội đối chất với những nguồn mạch của linh đạo và các văn bản pháp quy riêng, những văn bản này luôn mở ngõ cho những giải thích mới mẻ và đòi hỏi hơn. Ý thức năng động về linh đạo này đem lại cơ hội để phát triển, vào giai đoạn này của lịch sử Giáo hội, một nền linh đạo sâu sắc hơn, có tính Giáo hội và cộng đồng hơn, đòi hỏi và trưởng thành hơn trong việc giúp nhau sống thánh thiện; cuối cùng, một nền linh đạo có thiên hướng lớn hơn để trở thành một chương trình huấn luyện và mục vụ về sự thánh thiện giữa lòng đời sống thánh hiến và trong sự chiếu tỏa nhằm lợi ích của toàn thể Dân Chúa. Chúa Thánh Thần là linh hồn và linh hoạt viên của đời sống thiêng liêng ki-tô giáo; vì lý do đó, chúng ta phải tin vào hoạt động của Thánh Khí, một hoạt động khởi đi từ nơi sâu thẳm của tâm hồn, biểu lộ qua sự hiệp thông và phát triển trong sứ vụ.
Xuất phát lại từ Đức Ki-tô
21. Vì thế cần gắn bó ngày càng mật thiết hơn với Đức Ki-tô, trung tâm của đời sống thánh hiến và lại một lần nữa đi lại con đường hoán cải và canh tân, giống như kinh nghiệm đầu tiên của các tông đồ, trước và sau biến cố phục sinh, đó là xuất phát lại từ Đức Ki-tô. Vâng, ta phải xuất phát lại từ Đức Ki-tô bởi vì chính từ nơi Người mà các môn đệ đầu tiên đã khởi hành tại Ga-li-lê; từ nơi Người mà suốt giòng lịch sử, những người nam nữ thuộc mọi cấp bậc và văn hoá, được Chúa Thánh Thần hiến thánh theo ơn gọi của họ, đã khởi hành; vì Người, họ đã từ bỏ gia đình và quê hương, theo Người cách vô điều kiện, chuẩn bị sẵn sàng để loan báo Nước Trời và làm điều lành cho mọi người (x. Cv 10,38).
Ý thức đến sự nghèo khó và yếu đuối của mình và sự cao cả của lời mời gọi thường dẫn họ đến việc lập lại những lời của tông đồ Phê-rô: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5,8). Nhưng ơn huệ của Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn sự yếu đuối con người. Quả thế, chính Đức Ki-tô hiện diện giữa cộng đoàn những kẻ suốt bao thế kỷ, tụ họp nhân danh Người, Người đã dạy dỗ họ về chính mình và về Thánh Khí, Người hướng họ về Chúa Cha, Người hướng dẫn họ trên các nẻo đường của trần gian để gặp gỡ các anh em, chị em, Người biến họ thành khí cụ tình yêu và người xây dựng Nước Trời trong sự thông hiệp với những ơn gọi khác trong Giáo hội.
Những người thánh hiến có thể và phải xuất phát lại từ Đức Ki-tô bởi vì chính Người đã đến với họ trước và đồng hành với họ trên đường (x. Lc 24,13-22). Cuộc sống của họ là lời loan báo chỗ đứng ưu việt của ân sủng.64 Không có Đức Ki-tô, họ không thể làm được gì (x. Ga 15,5); tuy vậy, trong Người là Đấng ban sức mạnh, họ có thể làm mọi sự (x. Pl 4,13).
22. Xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa là loan báo rằng đời sống thánh hiến là một cách đặc biệt đi theo Đức Ki-tô, “một ký ức sống động về lối sống và hành động của Đức Giê-su, Ngôi Lời nhập thể trong tương quan với Chúa Cha và với anh em Người”.65 Điều đó bao hàm một sự hiệp thông tình yêu đặc biệt với Đức Ki-tô, Đấng đã trở nên trung tâm của đời sống họ và nguồn mạch liên tục của mọi sáng kiến. Như tông huấn Đời sống thánh hiến nhắc nhở chúng ta, đó là một kinh nghiệm chia sẻ, “một ơn đặc biệt là sống trong tình thân thiết”.66 Đó là “trở nên một với Người, mang cùng những tâm tình, cùng một lối sống”,67 và đó là một cuộc sống “bị Đức Ki-tô chiếm hữu”,68 “được bàn tay Đức Ki-tô chạm đến, được tiếng nói của Người nhắn nhủ, được ân sủng của Người nâng đỡ”.69
Toàn thể đời sống thánh hiến chỉ có thể hiểu được từ khởi điểm này: các lời khuyên phúc âm có một ý nghĩa trong mức độ chúng giúp gìn giữ và tạo thuận lợi cho tình yêu đối với Chúa trong sự ngoan ngoãn hoàn toàn đối với thánh ý Người; đời sống cộng đoàn được thúc đẩy nhờ Đấng đã quy tụ những người khác chung quanh mình và có mục tiêu là vui hưởng sự hiện diện thường hằng của Người; sứ mệnh là lệnh truyền của Người dẫn dắt ta tìm kiếm khuôn mặt của Người trong những khuôn mặt của những người mà ta được sai đến để chia sẻ với họ kinh nghiệm về Đức Ki-tô.
Đó là những ý hướng của những vị sáng lập các cộng đoàn khác nhau và các tu hội đời sống thánh hiến. Đó là những lý tưởng đã thúc đẩy các thế hệ những người nam nữ thánh hiến.
Xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa tìm lại một lần nữa tình yêu ban đầu của ta, tia sáng lôi cuốn làm ta đứng lên đi theo Người. Bước đầu là tình yêu của Thiên Chúa. Bước tiếp mới là sự đáp trả đầy lòng yêu mến đối với tình yêu Thiên Chúa. Nếu “chúng ta yêu mến” đó là “Người đã yêu chúng ta trước” (1 Ga 4,10.19). Điều đó có nghĩa là nhìn nhận Người yêu ta với cái ý thức sâu đậm đã làm cho thánh Phao-lô thốt lên: “Đức Ki-tô đã yêu tôi và đã hiến mạng sống cho tôi” (Gl 2,20).
Chỉ khi ý thức mình được yêu thương vô cùng mới có thể giúp chúng ta vượt thắng mọi khó khăn riêng tư hay do cơ cấu. Người thánh hiến không thể có tính sáng tạo, có khả năng canh tân tu hội và mở ra những con đường mục vụ mới nếu họ không cảm thấy được yêu mến với tình yêu ấy. Chính tình yêu ấy làm cho họ trở nên mạnh mẽ, có thể dám làm mọi sự.
Các lời khấn mà ta đã tuyên hứa để sống các lời khuyên phúc âm đem lại cho lời đáp trả tình yêu tất cả tính triệt để của nó. Lời khấn khiết tịnh mở rộng con tim cho đến chiều kích của con tim Đức Ki-tô và làm cho nó có thể yêu mến như Người đã yêu. Lời khấn nghèo khó giải thoát ta khỏi nô lệ các sự vật và các nhu cầu giả tạo đang lôi cuốn xã hội tiêu dùng và dẫn ta đến việc tái khám phá Đức Ki-tô, kho tàng duy nhất đáng để ta tìm kiếm. Lời khấn vâng phục đặt cuộc sống hoàn toàn trong bàn tay Đức Ki-tô ngõ hầu Người có thể sử dụng theo kế hoạch của Thiên Chúa và biến nó trở nên một tuyệt tác. Đức can đảm cần cho việc bước theo Đức Ki-tô cách quảng đại và vui tươi.
Chiêm ngưỡng khuôn mặt của Đức Ki-tô
23. Con đường mà đời sống thánh hiến được mời gọi đi theo khi khởi đầu ngàn năm mới được hướng dẫn bởi việc chiêm ngưỡng Đức Ki-tô, cái nhìn chúng ta hơn bao giờ hết, chăm chú vào khuôn mặt của Đức Chúa.70 Nhưng ta chiêm ngưỡng cách cụ thể khuôn mặt Đức Ki-tô ở đâu? Có vô vàn sự hiện diện cần được khám phá ra theo những cách thức luôn luôn mới mẻ.
Đức Ki-tô thực sự hiện diện trong Lời của Người và trong các bí tích, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể. Đức Ki-tô sống trong Giáo hội, Người làm cho mình hiện diện trong cộng đoàn những người tụ họp vì danh Người. Người đứng trước mặt chúng ta trong mọi người, đồng hoá cách đặc biệt với những người bé nhỏ, người nghèo, người đau khổ và người đang thiếu thốn nhất. Người gặp gỡ chúng ta trong mọi biến cố vui buồn, trong thử thách hay trong niềm vui, trong đau khổ hay trong bệnh tật.
Thánh thiện là hoa quả của cuộc gặp gỡ với Người trong nhiều cách thế hiện diện qua đó chúng ta có thể khám phá khuôn mặt của Người như là Con Thiên Chúa, một khuôn mặt đau khổ và đồng thời khuôn mặt của Đấng phục sinh. Như Người đã làm cho mình hiện diện trong cuộc sống hằng ngày, Người vẫn còn hiện diện trong cuộc sống hằng ngày của ngày hôm nay, nơi Người tiếp tục tỏ bày khuôn mặt của Người. Muốn nhận ra Người thì cần đến một cái nhìn đức tin, cái nhìn có được nhờ đọc Lời Chúa, nhờ cầu nguyện và trên hết nhờ thực thi bác ái bởi vì Mầu nhiệm chỉ có thể hiểu biết trọn vẹn nhờ tình yêu.
Chúng ta có thể nhắc lại một vài nơi chốn đặc biệt mà ta có thể chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Ki-tô, để canh tân việc dấn thân vào đời sống theo Thánh Khí. Đó là bằng cách đi theo những con đường của một linh đạo được sống, một dấn thân ưu tiên trong thời đại này, bằng cách nắm lấy cơ hội đọc lại trong đời sống, trong những kinh nghiệm hằng ngày, những phong phú thiêng liêng của đoàn sủng riêng, qua việc tiếp xúc lại với những nguồn mạch làm nảy sinh, nhờ kinh nghiệm về Thánh Khí của các vị sáng lập, tia sáng của đời sống mới và những công việc mới, cách đọc lại Tin mừng riêng biệt được tìm thấy trong mọi đoàn sủng.
Lời Thiên Chúa
24. Đức Gio-an Phao-lô II nhắc nhở các người thánh hiến rằng sống linh đạo trước tiên có nghĩa là xuất phát lại từ ngôi vị Đức Ki-tô, Thiên Chúa thật và người thật, hiện diện trong Lời của Người, “nguồn mạch đầu tiên của mọi linh đạo”.71 Thánh thiện không thể có được nếu không lắng nghe lời Thiên Chúa. Trong Novo Millennio Ineunte, chúng ta đọc: “Đặc biệt cần thiết là việc nghe Lời Chúa phải trở nên một sự gặp gỡ ban sự sống… cho phép rút ra từ bản văn Kinh Thánh Lời Hằng Sống, là lời chất vấn, hướng dẫn và hình thành cuộc sống chúng ta”. 72 Quả thế, chính nơi đó mà Thầy mặc khải chính mình và giáo dục tâm trí và con tim: chính nơi đó mà cái nhìn đức tin nên trưởng thành, bằng cách học biết nhìn thực tại và các biến cố qua con mắt của Thiên Chúa, đến mức có được “tư tưởng của Đức Ki-tô” (1 Cr 2,16).
Chính Chúa Thánh Thần soi sáng Lời Chúa với ánh sáng mới cho các vị sáng lập. Mọi đoàn sủng và mọi luật lệ xuất phát từ đó và tìm cách trở nên một sự diễn tả của Lời Chúa. Tiếp nối các vị sáng lập, các môn đệ của họ ngày hôm nay được mời gọi đón nhận và gìn giữ trong lòng Lời Chúa để nó trở nên chiếc đèn soi bước chân đi và ánh sáng rọi soi con đường của họ (x. Tv 118,105). Như thế Chúa Thánh Thần sẽ có thể dẫn họ đến chân lý toàn vẹn (x. Ga 16,13).
Lời Thiên Chúa là của ăn cho đời sống, cho việc cầu nguyện và cho cuộc hành trình hằng ngày, nguyên lý hiệp nhất cộng đoàn nên một lòng một ý, cảm hứng cho việc canh tân của thường huấn và những sáng kiến tông đồ. Công đồng Vatican II đã chỉ rõ rằng nguyên tắc canh tân quan trọng đầu tiên là trở về với Tin mừng.73
Trong các cộng đoàn và trong các nhóm người thánh hiến, cũng như trong toàn thể Giáo hội, một sự tiếp xúc sống động và trực tiếp hơn với Lời Chúa đã phát triển trong những năm gần đây. Đó là một con đường cần phải tiếp tục bước đi với một năng động lớn hơn. Đức Giáo hoàng đã nói: “Anh chị em đừng mệt mỏi suy niệm Kinh Thánh và nhất là Tin mừng để Lời Chúa có thể ghi khắc trên anh chị em những nét đặc trưng của Ngôi Lời nhập thể”.74
Đời sống cộng đoàn cũng khuyến khích tái khám phá chiều kích Giáo hội của Lời Chúa: hãy đón nhận, suy niệm, cùng sống Lời Chúa, thông truyền những kinh nghiệm trổ sinh từ đó và như thế tiến tới một nền linh đạo hiệp thông đích thực.
Trong bối cảnh đó thật là thích hợp khi nhắc đến sự cần thiết phải thường xuyên quy chiếu về Luật dòng và Hiến chương “đó là bản đồ cho toàn thể lộ trình của người môn đệ tương ứng với một đoàn sủng riêng đã được Giáo hội chuẩn nhận”.75 Con đường đi theo đó chuyển dịch lối giải thích Tin mừng riêng do các vị Sáng lập trao ban, xem đó như là kết quả của sự thúc đẩy riêng của Thánh Khí và nó giúp các thành viên của một tu hội sống cách cụ thể theo Lời Thiên Chúa.
Một khi đã được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa, được nên mới mẻ, tự do và phù hợp với Tin mừng, các người thánh hiến nam nữ có thể trở nên những tôi tớ đích thực của Lời trong công việc truyền giáo. Đó là cách họ thực hiện một ưu tiên cho Giáo hội vào lúc khởi đầu ngàn năm mới: “Chúng ta phải thắp sáng lên trong chúng ta động lực của những khởi đầu mới và cho phép chúng ta tràn ngập sự hăng say của việc rao giảng tông đồ tiếp theo sau Lễ Hiện Xuống”.76
Cầu nguyện và chiêm ngưỡng
25. Cầu nguyện và chiêm ngưỡng tạo nên bầu khí cho việc đón nhận Lời Chúa và đồng thời phát sinh từ việc lắng nghe Lời. Nếu không có đời sống nội tâm là tình yêu, tình yêu lôi kéo Ngôi Lời, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần về với mình, thì không thể có được một cái nhìn đức tin (x. Ga 14,23). Kết cục là cuộc sống không còn có ý nghĩa, khuôn mặt của anh em chị em bị che khuất và ta không thể nhận ra khuôn mặt của Thiên Chúa trong họ, các biến cố lịch sử vẫn luôn khó hiểu và thiếu niềm hi vọng, sứ vụ tông đồ và bác ái biến thành những hoạt động chẳng đi đến đâu.
Mọi ơn gọi đời sống thánh hiến đều phát sinh từ chiêm ngưỡng, từ những giây phút hiệp thông sâu xa và từ một mối tương quan bằng hữu sâu sắc với Đức Ki-tô, từ vẻ đẹp và ánh sáng mà chúng ta thấy chiếu tỏa trên khuôn mặt Người. Từ đó ước muốn luôn ở với Chúa – và bước theo Người – nên vững mạnh: “Chúng con ở đây thật là đẹp” (Mt 17,4). Mọi ơn gọi phải không ngừng tăng trưởng trong sự thân mật này với Đức Ki-tô. Đức Gio-an Phao-lô II nhắn nhủ với các người thánh hiến: “Vì thế nhiệm vụ đầu tiên của các con không thể là gì khác ngoài chiêm ngưỡng. Mọi thực tại của đời sống thánh hiến được sinh ra và phục hồi mỗi ngày bằng việc chiêm ngưỡng không ngừng khuôn mặt Đức Ki-tô”.77
Các đan sĩ và các nữ tu kín cũng như các ẩn sĩ dành nhiều thời giờ để ca ngợi Thiên Chúa cũng như cho việc cầu nguyện thinh lặng kéo dài. Các thành viên của tu hội đời, cũng như những trinh nữ thánh hiến trong thế gian, dâng lên Thiên Chúa niềm vui và nỗi buồn, hi vọng và khẩn cầu cho mọi người và chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Ki-tô mà họ nhận ra nơi khuôn mặt của anh em, chị em, trong các biến cố lịch sử, trong việc tông đồ và công việc mỗi ngày. Các tu sĩ nam nữ dấn thân trong việc giáo dục, chăm sóc người bệnh, phục vụ người nghèo, gặp được khuôn mặt Người nơi đó. Đối với các nhà truyền giáo và các thành viên của hiệp hội tông đồ, việc loan báo Tin mừng được sống theo mẫu gương của thánh Phao-lô, như sự thờ phượng đích thực (x. Rm1,6). Toàn thể Giáo hội vui mừng và hưởng lợi từ nhiều hình thức cầu nguyện và nhiều cách thức trong đó một khuôn mặt duy nhất của Đức Ki-tô được chiêm ngưỡng.
Đồng thời đáng lưu ý rằng, đã nhiều năm qua, Phụng vụ các Giờ kinh và việc cử hành Thánh lễ đã chiếm một chỗ đứng trung tâm trong đời sống của mọi hình thức cộng đoàn và huynh đệ đoàn, một lần nữa đem lại cho các cộng đoàn ấy một sức sống mang chiều kích kinh thánh và giáo hội. Chúng cũng tạo thuận lợi cho việc tài bồi lẫn nhau và có thể trở thành một chứng tá để nên “một ngôi nhà và một trường học của sự hiệp thông” 78 trước mặt Thiên Chúa và cùng với Thiên Chúa. Một đời sống thiêng liêng đích thực đòi hỏi mỗi người, trong mọi ơn gọi khác nhau, dành riêng thường xuyên, mỗi ngày, những thời gian thích hợp để tiến sâu vào việc đàm thoại trong thinh lặng với Người, Đấng mà họ biết rằng họ được yêu mến, để chia sẻ chính cuộc sống họ với Người và để đón nhận những soi sáng hầu tiếp tục cuộc hành trình mỗi ngày. Đó là một sự thao luyện đòi hỏi lòng trung thành, bởi vì chúng ta thường bị tấn công bởi sự tha hoá và sự phóng túng đến từ xã hội hôm nay, đặc biệt từ các phương tiện truyền thông. Đôi khi sự trung thành với đời sống cầu nguyện riêng tư và phụng vụ sẽ đòi hỏi một nỗ lực thực sự để không bị nuốt chửng trong chủ nghĩa hoạt động vô độ. Nếu không thì sẽ không mang lại hoa trái. “Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy” (Ga 15,4).
Bí tích Thánh thể, nơi chốn đặc trưng để gặp gỡ Chúa
26. Dành cho đời sống thiêng liêng một chỗ đứng ưu tiên có nghĩa là xuất phát lại từ chỗ đứng trung tâm của việc cử hành Thánh lễ. Nơi đó, một lần nữa, Người lại hiện diện giữa các môn đệ, giải thích Kinh Thánh, sưởi ấm cõi lòng và soi sáng tâm trí, mở đôi mắt và cho ta nhận ra Người (x. Lc 24,13-35). Lời mời gọi của đức Gio-an Phao-lô II gởi đến các người thánh hiến thật đánh động: “Anh chị em rất thân mến, hãy gặp gỡ và chiêm ngưỡng Người cách đặc biệt trong bí tích Thánh Thể mà ta cử hành và thờ phượng mỗi ngày như nguồn mạch và chóp đỉnh của cuộc sống và hoạt động tông đồ”.79 Trong Tông huấn Vita Consecrata ngài đã mời gọi tham dự bí tích Thánh Thể và chuyên cần chầu Thánh Thể lâu giờ mỗi ngày. 80 Bí tích Thánh Thể, tưởng niệm hi tế của Chúa, trung tâm đời sống Giáo hội và mọi cộng đoàn, biến đổi cuộc sống của ta, dự phóng của đời sống cộng đoàn và sứ vụ tông đồ thành của lễ được đổi mới. Chúng ta tất cả đều cần đến Thánh thể của ăn đàng (viaticum) hằng ngày là gặp gỡ với Chúa để tháp nhập cuộc sống mỗi ngày vào thời gian của Thiên Chúa, mà cuộc cử hành tưởng niệm sự phục sinh của Chúa làm cho hiện hiện.
Nơi đó sự thân tình trọn vẹn với Đức Ki-tô được thực hiện, bằng cách trở nên một với Người, nên đồng hình đồng dạng với Người, điều mà những người thánh hiến được kêu mời do ơn gọi.81 Quả thế, trong bí tích Thánh Thể, Đức Giê-su liên kết chúng ta với Người trong chính của lễ vượt qua của Người dâng lên Chúa Cha. Chúng ta dâng hiến và được dâng hiến. Sự thánh hiến tu trì tự nó mặc lấy một cấu trúc của Thánh Thể, đó là sự dâng hiến trọn vẹn bản thân được liên kết với hi tế Thánh Thể.
Trong bí tích Thánh Thể, mọi hình thức cầu nguyện quy tụ lại: Lời của Thiên Chúa được loan báo và đón nhận, mối tương quan với Thiên Chúa, với anh chị em, với mọi người nam nữ bị chất vấn. Đó là bí tích của tình con thảo, của hiệp thông và của sứ vụ. Bí tích Thánh Thể, bí tích của sự hiệp nhất với Đức Ki-tô, đồng thời là bí tích của sự hiệp nhất giáo hội và hiệp nhất cộng đoàn đối với người thánh hiến. Rõ ràng đó là “Nguồn mạch của đời sống thiêng liêng đối với cá nhân cũng như đối với cộng đoàn”.82
Để sản sinh đầy đủ những hoa trái đáng chờ mong của sự hiệp thông và canh tân, có những điều kiện cơ bản không thể thiếu, đặc biệt là sự tha thứ lẫn nhau và dấn thân yêu mến lẫn nhau theo giáo huấn của Chúa; cần có sự hoà giải trọn vẹn trước khi dâng của lễ nơi bàn thờ (x. Mt 5,23). Bí tích hiệp nhất không thể được cử hành đang khi vẫn dửng dưng với người khác. Mặt khác, cần phải nhớ rằng những điều kiện cần thiết ấy cũng là hoa trái và dấu chỉ của một Thánh lễ được cử hành nghiêm chỉnh bởi vì chính khi hiệp thông với Đức Giê-su Thánh Thể mà chúng ta có khả năng yêu mến và tha thứ. Hơn thế nữa, mọi cuộc cử hành phải trở thành cơ hội để canh tân lời cam kết dâng hiến mạng sống ta cho người khác qua việc đón nhận và phục vụ. Vì thế, lời hứa của Đức Ki-tô “ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,20), sẽ hiện thực cách đầy đủ nhất với cuộc cử hành Thánh Thể, và khi tụ họp chung quanh Thánh Thể, cộng đoàn sẽ được canh tân mỗi ngày.
Chính khi đáp ứng những điều kiện ấy mà cộng đoàn những người thánh hiến đang sống mầu nhiệm Vượt qua, canh tân mỗi ngày trong bí tích Thánh Thể, trở nên một chứng tá của sự hiệp thông và dấu chỉ tiên tri về tình liên đới trong một xã hội chia rẽ và bị tổn thương. Quả thế, linh đạo hiệp thông, cần thiết biết bao để thiết lập cuộc đối thoại bác ái đang cần đến trong thế giới hôm nay, được sinh ra từ bí tích Thánh Thể.
Khuôn mặt Đức Ki-tô đang gặp thử thách
27. Sống đời sống thiêng liêng bằng cách xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa là luôn xuất phát từ biểu lộ lớn nhất của tình yêu của Người – và bí tích Thánh Thể làm sống lại mầu nhiệm của giây phút đó – khi trên Thánh giá Đức Giê-su trao ban cuộc sống của Người như quà tặng lớn lao nhất. Những người đã được mời gọi sống các lời khuyên phúc âm qua việc tuyên khấn phải thường xuyên chiêm ngưỡng khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh.84 Người là nguồn mạch từ đó chúng ta học biết tình yêu là gì, Thiên Chúa và nhân loại phải được yêu như thế nào, nguồn mạch của mọi đoàn sủng, bản tổng hợp của mọi đoàn sủng. 85 Sự thánh hiến, một hi tế toàn diện và một lễ vật hoàn hảo, là con đường đã được Thánh Khí dề nghị cho họ để sống lại mầu nhiệm Đức Ki-tô chịu đóng đinh, Đấng đã đi vào trần gian để hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người (x. Mt 20,28; Mc 10,45) và để đáp lại tình yêu vô biên của Người.
Lịch sử đời sống thánh hiến đã biểu lộ sự đồng hình đồng dạng đó trong nhiều hình thức khổ chế, “chúng đã và tiếp tục là con đường đích thực dẫn đến sự thánh thiện. Khổ chế… rất cần thiết để người thánh hiến trung thành với ơn gọi của mình và bước theo Đức Giê-su trên con đường thánh giá”.86 Ngày hôm nay, những người thánh hiến, trong khi duy trì kinh nghiệm của bao thế kỷ, được mời gọi tìm kiếm những hình thức phù hợp với thời đại chúng ta. Những hình thức bảo đảm sự quảng đại của việc phục vụ và nâng đỡ những mệt nhọc của công việc tông đồ. Ngày hôm nay, thánh giá mà họ mang mỗi ngày (x. Lc 9,23), chẳng hạn như sự già cỗi của tu hội, những cơ cấu không thích ứng và không biết chắc gì về tương lai, có thể mang một giá trị tập thể.
Đối diện với biết bao đau khổ cá nhân, cộng đoàn và xã hội, ta có thể nghe thấy tiếng kêu của Đức Ki-tô trên thánh giá: “Sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34), được vang vọng lại trong tâm hồn của những cá nhân hay của toàn thể cộng đoàn. Trong tiếng kêu ấy hướng vè Chúa Cha, Đức Giê-su làm cho ta hiểu rằng tình liên đới của Người đối với nhân loại triệt để đến độ nó thấm nhập, chia sẻ và đảm nhận mọi khía cạnh tiêu cực dù cho đến chết, hoa quả của tội lỗi. “Để đem con người về lại gương mặt Chúa Cha, Chúa Giêsu không những mang lấy gương mặt con người, nhưng Người còn chất lên mình "gương mặt" của sự tội”.87
Xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa là nhìn nhận rằng tội lỗi vẫn hiện diện trong con tim và đời sống của mọi người, và khám phá trong khuôn mặt đau khổ của Đức Ki-tô của lễ dâng hiến giao hoà nhân loại với Thiên Chúa.
Suốt giòng lịch sử Giáo hội, những người thánh hiến nam nữ đã chiêm ngưỡng khuôn mặt đau khổ cả ở bên ngoài họ nữa. Họ nhận ra khuôn mặt ấy nơi người bệnh, người bị tù đày, người nghèo và người tội lỗi. Cuộc chiến đấu của họ trước tiên là chống lại tội lỗi và những hậu quả tai hại của nó; lời loan báo của Đức Giê-su: “Hãy hoán cải và tin vào Tin mừng” (Mc 1,15) đã thúc đẩy họ đến với người khác và đem niềm hi vọng của đời sống mới đến nơi thất vọng và cái chết ngự trị. Việc phục vụ của họ đã giúp nhiều người nam nữ cảm nghiệm được vòng tay thương xót của Thiên Chúa Cha trong bí tích Hoà giải. Cả ngày hôm nay nữa, cần đề nghị cách mạnh dạn thừa tác vụ hoà giải ấy (x. 2 Cr 5,18) mà Đức Giê-su Ki-tô đã giao phó cho Giáo hội. Đó là mầu nhiệm của lòng sốt sắng đạo đức (mysterium pietatis) 88 mà người thánh hiến nam nữ được kêu gọi kinh nghiệm qua bí tích Hoà giải.
Ngày hôm nay những khuôn mặt mới đang xuất hiện, trên đó ta phải nhận ra, yêu mến và phục vụ khuôn mặt Đức Ki-tô, nơi mà Người làm cho mình hiện diện; đó là những tình trạng nghèo đói mới về phương diện vật chất, luân lý và tinh thần được sản sinh bởi xã hội đương thời. Tiếng kêu của Đức Giê-su trên thánh giá mặc khải rằng Người đã mang lấy mọi sự dữ trên bản thân để cứu chuộc nó. Ơn gọi của những người thánh hiến tiếp tục ơn gọi của Đức Giê-su và giống như Người họ mang vào thân mình đau khổ và tội lỗi của trần gian, bằng cách thiêu đốt chúng trong tình yêu.
Linh đạo hiệp thông
28. Nếu “đời sống thiêng liêng phải đặt lên hàng đầu trong chương trình của các gia đình đời sống thánh hiến”89 trước tiên đó phải là một linh đạo hiệp thông phù hợp với thời đại hiện nay. “Biến Giáo hội thành ngôi nhà và trường học của sự hiệp thông: đó là thách đố lớn mà chúng ta đối diện trong thiên niên kỷ đang khởi đầu, nếu chúng ta muốn trung thành với kế hoạch của Thiên Chúa và đáp trả những khát vọng sâu xa nhất của thế giới”.90
Toàn thể Giáo hội mong chờ một đóng góp minh bạch từ phía đời sống thánh hiến bởi vì ơn gọi đặc biệt của bậc sống ấy là sống hiệp thông trong tình yêu. Trong Vita Consecrata chúng ta đọc: “Những người thánh hiến được yêu cầu trở thành những chuyên viên thực sự về hiệp thông và thực hành linh đạo hiệp thông như những chứng nhân và những người kiến tạo kế hoạch hiệp thông, đỉnh cao của lịch sử nhân loại theo ý muốn của Thiên Chúa”.91
Hơn thế nữa, chúng ta được nhắc nhở rằng một trong các nhiệm vụ của đời sống thánh hiến hôm nay là “khai triển linh đạo hiệp thông, trước tiên trong chính cộng đoàn của họ, kế đến trong cộng đồng Giáo hội, và vượt cả biên giới này nữa, bằng cách kiên trì theo đuổi cuộc đối thoại bác ái, nhất là tại những nơi hiện đang bị xâu xé bởi sự hận thù chủng tộc hay nạn bạo lực điên rồ”.92 Đó là một nhiệm vụ cần đến những con người thiêng liêng được Thiên Chúa nắn đúc bên trong bằng sự hiệp thông tràn đầy tình yêu và lòng thương xót, và những cộng đoàn trưởng thành nơi đó linh đạo hiệp thông là luật sống.
29. Nhưng linh đạo hiệp thông là gì? Với những lời sắc bén, có khả năng canh tân những mối tương quan và các chương trình, đức Gio-an Phao-lô II dạy: “Một linh đạo hiệp thông hệ tại trước tiên là một cái nhìn của tâm hồn hướng về mầu nhiệm Ba Ngôi đang ngự trong chúng ta và chúng ta cũng phải có khả năng thấy ánh sáng của Người sáng chói trên gương mặt của anh chị em xung quanh chúng ta. Một linh đạo hiệp thông cũng có nghĩa là một khả năng chú ý đến anh chị em chúng ta trong đức tin, trong sự hiệp nhất sâu xa của Thân Thể mầu Nhiệm và vì thế như "những chi thể của tôi"...” Một vài hậu quả về phương diện cảm xúc và hành động xuất phát từ nguyên tắc này với luận lý đáng thuyết phục: chia sẻ niềm vui và những đau khổ của anh chị em chúng ta; nhạy cảm trước những ước muốn và chú ý đến các nhu cầu của họ; tặng ban cho họ tình bạn sâu sắc và chân chính. Linh đạo hiệp thông cũng bao hàm khả năng nhìn thấy những gì tích cực nơi người khác, đón nhận và khen ngợi điều đó như là một hồng ân Thiên Chúa ban, và biết dành một chỗ cho người khác, bằng cách mang gánh nặng cho nhau. Trừ phi chúng ta đi theo con đường thiêng liêng này, những cơ cấu bên ngoài của hiệp thông sẽ sinh rất ít kết quả.93
Linh đạo hiệp thông, xuất hiện như là phản ảnh của bầu khí thiêng liêng của Giáo hội vào lúc khởi đầu thiên niên kỷ thứ ba, là một nhiệm vụ tích cực và có tính cách nêu gương sáng của đời sống thánh hiến ở mọi cấp bậc. Đó là con đường vương giả cho tương lai của cuộc sống và chứng tá. Sự thánh thiện và sứ mệnh đi qua cộng đoàn, bởi vì Đức Kitô làm cho Người hiện diện trong và qua cộng đoàn. Anh em và chị em trở nên những Bí tích của Đức Kitô và của việc gặp gỡ với Thiên Chúa, triển vọng cụ thể, và hơn thế nữa, sự cần thiết không thể bỏ qua của việc thực thi giới luật yêu thương lẫn nhau và thể hiện hiệp thông của Ba Ngôi.
Trong những năm gần đây, các cộng đoàn và nhiều hình thức huynh đoàn khác nhau của những người thánh hiến được xem như những nơi chốn sống tình hiệp thông, nơi đó các mối tương quan có vẻ bớt hình thức hơn, nơi đó việc chấp nhận và hiểu biết lẫn nhau được tạo điều kiện thuận lợi hơn. Người ta cũng khám phá lại giá trị thần thiêng và nhân bản của việc quảng đại sống chung với nhau trong tình bằng hữu và chia sẻ cả đến những giây phút nghỉ ngơi và giải trí chung với nhau như những môn đệ chung quanh Đức Kitô là vị Thầy.
Hơn thế nữa có một sự hiệp thông mật thiết hơn giữa các cộng đoàn khác nhau của cùng một tu hội: những cộng đoàn đa văn hoá và quốc tế, được mời gọi nên “chứng nhân cho cảm thức về sự hiệp thông giữa các dân tộc, màu da, và các nền văn hoá”,94 trong nhiều lĩnh vực đã là một thực tại tích cực, nơi đó người ta kinh nghiệm được sự hiểu biết lẫn nhau, lòng kính trọng, sự quý mến và việc làm phong phú lẫn cho nhau. Chúng tỏ ra là những nơi đào tạo cho sự hoà nhập và hội nhập văn hoá và đồng thời một chứng tá cho tính phổ quát của sứ điệp ki-tô giáo.
Tông huấn Vita Consecrata, khi trình bày hình thức sống này như một dấu chỉ của hiệp thông trong Giáo hội, đã nhấn mạnh đến tất cả sự phong phú và những đòi hỏi của đời sống cộng đoàn. Gần đây Thánh bộ đã ban hành tài liệu Congregavit nos in unum Christi amor, về đời sống cộng đoàn. Mọi cộng đoàn cần quay trở lại cách định kỳ những tài liệu này để lượng giá cuộc hành trình đức tin của mình và những tiến bộ trong huynh đệ đoàn.
Hiệp thông giữa các đoàn sủng cũ và mới
30. Sự hiệp thông mà những người thánh hiến được mời gọi sống, vượt khỏi ranh giới gia đình tu sĩ hoặc Tu hội của mình. Khi nới rộng sự hiệp thông với những Tu hội và những hình thức khác của sự thánh hiến, họ có thể truyền bá sự hiệp thông, tái khám phá gốc rễ Tin mừng chung và cùng nhau hiểu thấu rõ ràng hơn vẻ đẹp của căn tính riêng của mình trong số các đặc sủng khác nhau. Họ phải ganh đua trong sự quý trọng lẫn nhau (x. Rm 12,10), bằng cách phấn đấu có được ân huệ lớn hơn là đức ái (x. 1 Cr 12,31).
Vì thế gặp gỡ và liên đới giữa các tu hội là điều đáng được khuyến khích, ý thức rằng “hiệp thông liên kết chặt chẽ với khả năng của cộng đồng Kitô hữu đón nhận tất cả những hồng ân của Thánh Khí. Sự hiệp nhất Giáo hội không phải là sự đồng dạng, nhưng là một sự pha trộn hữu cơ những khác biệt chính đáng. Đó là thực tại của nhiều thành phần nối kết trong một thân thể, Thân Thể duy nhất của Đức Kitô (x. 1 Cr 12, 12)”.95
Đó có thể là khởi đầu cùng nhau tìm kiếm một đường lối chung để phục vụ Giáo hội. Những yếu tố bên ngoài, chẳng hạn bổn phận thích nghi với những đòi buộc của quốc gia và những yếu tố nội bộ của Tu hội chẳng hạn như sự giảm sút con số thành viên, đã dẫn đến việc phối hợp các nỗ lực trong lãnh vực huấn luyện, quản lý các tài sản, giáo dục và truyền giáo. Ngay trong những hoàn cảnh ấy chúng ta có thể tìm thấy lời mời gọi của Thánh Khí sống hiệp thông mật thiết hơn nữa. Các Hội nghị Bề trên Thượng cấp và các hội nghị của các Tu hội đời cần được nâng đỡ ở mọi bình diện trong công việc này.
Ta không thể đối diện tương lai trong sự cô lập. Chúng ta cảm thấy nhu cầu trở nên giáo hội, cùng sống cuộc phiêu lưu của Thánh Khí và của việc bước theo Kitô, bằng cách thông truyền kinh nghiệm sống Tin mừng, bằng cách yêu mến cộng đoàn và gia đình tu sĩ của người khác như của chính mình. Niềm vui và nỗi buồn, quan tâm và thành công thuộc về mọi người và có thể được chia sẻ.
Đối thoại và hiệp thông cũng cần thiết trong vấn đề liên quan đến các hình thức mới của đời sống Tin mừng. Vita Consecrata nhắc nhở chúng ta: những hiệp hội sống Tin mừng mới này “không thay thế những tu hội đã có từ trước đến nay; các định chế này vẫn giữ một chỗ cao mà truyền thống đã dành cho chúng… Các tu hội cổ điển, trong số đó nhiều tu hội đã trải qua những thử thách rất đau đớn mà vẫn can đảm chịu đựng qua các thời đại, có thể được nên phong phú nhờ đối thoại và trao đổi ân huệ với các tu hội mới chào đời trong thời đại chúng ta”.96
Cuối cùng, một sự phong phú mới mẻ có thể nảy sinh từ cuộc gặp gỡ và hiệp thông với đoàn sủng của các phong trào giáo hội. Các phong trào thường có thể trao ban một mẫu gương về sự tươi trẻ của Tin mừng và đoàn sủng, chẳng hạn như những khởi xướng quảng đại và có tính sáng tạo trong việc phúc âm hoá. Trái lại, các phong trào cũng như những hình thức sống Tin mừng mới có thể học hỏi rất nhiều từ lòng trung thành, chứng tá tươi vui và thuyết phục của đời sống thánh hiến với một gia sản thiêng liêng rất phong phú, nhiều kho tàng kinh nghiệm và khôn ngoan và nhiều dấn thân tông đồ và truyền giáo đa dạng.
Thánh bộ chúng tôi đã đưa ra những tiêu chuẩn và hướng dẫn vẫn còn có hiệu lực về việc tháp nhập các tu sĩ nam nữ vào các phong trào Giáo hội.97 Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh nơi đây là mối tương quan giữa hiểu biết và cộng tác, quý trọng và chia sẻ phải thiết lập không chỉ giữa các cá nhân, mà còn giữa các Tu hội, các phong trào giáo hội, và các hình thức mới của đời sống thánh hiến nhằm tăng trưởng đời sống trong Thánh Khí và chu toàn sứ mệnh duy nhất của Giáo hội. Đó là những đoàn sủng phát sinh từ sự thúc đẩy của Thánh Khí, để sống Tin mừng cách viên mãn trên trần gian, và cùng nhau thực hiện chương trình cứu rỗi mọi người của Thiên Chúa. Linh đạo hiệp thông được thực hiện cách chính xác trong sự đối thoại rộng lớn này của tình huynh đệ phúc âm giữa mọi thành phần của Dân Thiên Chúa.98
Hiệp thông với giáo dân
31. Kinh nghiệm hiệp thông giữa các người thánh hiến dẫn đến một sự hiệp thông mở rộng hơn với mọi thành phần khác của Giáo hội. Lệnh truyền yêu thương người khác, được sống bên trong khuôn viên cộng đoàn, đòi buộc phải chuyển từ bình diện cá nhân đến bình diện những thực tại khác nhau trong Giáo Hội. Chỉ trong một khoa Giáo hội học hội nhập, nơi mà nhiều ơn gọi khác nhau tập trung lại như một đoàn dân của Thiên Chúa, mà ơn gọi đời sống thánh hiến có thể tìm thấy căn tính riêng của mình như là một dấu chỉ và chứng tá. Ngày nay người ta càng càng càng khám phá lại rằng đoàn sủng của các Đấng sáng lập nam cũng như nữ, được nảy sinh bởi Thánh Khí vì lợi ích của mọi người, một lần nữa phải được đặt ở trung tâm của Giáo Hội, hướng mở đến sự hiệp thông và sự tham dự của toàn dân Thiên Chúa.
Trong chiều hướng đó, chúng ta có thể thấy rằng một kiểu thức mới của hiệp thông và cộng tác giữa các ơn gọi và những bậc sống khác nhau, đặc biệt là giữa những người thánh hiến và giáo dân đang khởi đầu.99 Các hội dòng đan tu và chiêm ngưỡng có thể trao ban cho người giáo dân một mối tương quan chủ yếu thiêng liêng và một không gian cần thiết cho việc thinh lặng và cầu nguyện. Các tu hội dấn thân trong việc tông đồ có thể giúp họ tham gia vào các hình thức cộng tác mục vụ. Các thành viên của các tu hội đời, giáo dân hoặc giáo sĩ, liên kết với những tín hữu ở bình diện của cuộc sống hằng ngày. 100
Hiện tượng mới mẻ được kinh nghiệm trong những ngày này đó là một số giáo dân xin được tham dự vào đoàn sủng của các tu hội. Điều này làm nảy sinh những bước khởi đầu đáng quan tâm và những hình thức tổ chức các hiệp hội mới. Chúng ta đang kinh nghiệm một sự nở rộ lại những cơ chế cũ, chẳng hạn Dòng Ba hay Dòng Tại thế và sự sinh ra những hiệp hội giáo dân và những phong trào mới nối kết với những gia đình tu sĩ và những tu hội đời. Nếu đôi khi trong thời gian gần đây, có sự cộng tác dưới hình thức thay thế vì con số những người thánh hiến cần thiết để điều hành các hoạt động sút giảm, giờ đây đang gia tăng nhu cầu chia sẻ trách nhiệm, không chỉ trong việc chu toàn các công việc của tu hội, nhưng nhất là trong khát vọng chia sẻ những khía cạnh và những thời gian đặc biệt của linh đạo và sứ mệnh của tu hội. Vì thế ta cần đến một sự huấn luyện tương xứng cho cả những người thánh hiến lẫn giáo dân để bảo đảm một sự cộng tác làm phong phú lẫn cho nhau.
Nếu trong quá khứ, việc thành lập, bồi dưỡng về mặt thiêng liêng và điều hành các nhóm giáo dân thường là nhiệm vụ của các tu sĩ, ngày nay, nhờ việc huấn luyện giáo dân ngày càng gia tăng, có thể có một sự tương trợ lẫn nhau nhằm cổ võ một sự hiểu biết về đặc điểm riêng và vẻ đẹp của mỗi bậc sống. Sự hiệp thông và tương trợ trong Giáo hội không bao giờ chỉ là một chiều. Trong bầu khí mới này của hiệp thông giáo hội, các linh mục, tu sĩ và giáo dân, thay vì không biết gì lẫn nhau hoặc đến với nhau chỉ vì một hoạt động chung, lại một lần nữa có thể tìm lại mối tương quan đúng đắn của tình hiệp thông và một kinh nghiệm đổi mới về tình huynh đệ tin mừng và về sự quý trọng hỗ tương các đoàn sủng trong một sự bổ túc đầy lòng kính trọng đối với các khác biệt.
Năng động giáo hội này sẽ giúp ích cho việc canh tân và xác định căn tính của đời sống thánh hiến. Khi sự hiểu biết về đoàn sủng được đào sâu, người ta luôn khám phá ra những cách thức thực hiện mới mẻ.
Hiệp thông với các giám mục
32. Trong mối tương quan hiệp thông giáo hội với mọi ơn gọi và bậc sống, một khía cạnh rất đặc biệt là sự hiệp nhất với các giám mục. Khát vọng xây dựng một linh đạo hiệp thông sẽ là hão huyền nếu không có một mối tương quan tích cực và thân thiết với các giám mục, trước tiên với Đức Giáo hoàng, trung tâm hiệp nhất của Giáo hội và với huấn quyền của ngài.
Đó là việc áp dụng cụ thể cái cảm thức với Giáo hội của mọi tín hữu, 101 đặc biệt chiếu sáng nơi các vị sáng lập nam nữ của đời sống thánh hiến và trở thành nhiệm vụ liên quan đến đoàn sủng của tất cả các Tu hội. Không thể chiêm ngưỡng khuôn mặt của Thiên Chúa mà không thấy khuôn mặt ấy toả sáng nơi khuôn mặt của Giáo hội. Yêu mến Đức Kitô là yêu mến Giáo hội qua những con người và những định chế.
Ngày hôm nay, hơn bao giờ hết, đối diện với những lực ly tâm tái diễn và gieo rắc sự ngờ vực đối với những nguyên tắc nền tảng của đức tin công giáo và luân lý, những người thánh hiến và những định chế của họ được mời gọi làm chứng cho sự hiệp nhất không bao giờ bất đồng với huấn quyền của Giáo hội, bằng cách trở nên những phát ngôn viên xác tín và vui tươi trước mặt mọi người.
Quả là thích hợp khi nhấn mạnh điều mà Đức Giáo hoàng đã khẳng định trong Vita Consecrata: “Một khía cạnh nổi bật của sự hiệp thông với Giáo hội là gắn bó bằng cả trí tuệ và con tim với huấn quyền (của Đức Giáo hoàng và) của các giám mục; tất cả những người thánh hiến, đặc biệt những ai dấn thân trong công việc nghiên cứu thần học, trong việc giảng dạy, trong việc xuất bản sách vở, trong huấn giáo, trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, phải nghiêm chỉnh thi hành và minh chứng rõ ràng điều này trước mặt Dân Thiên Chúa”.102 Đồng thời phải nhìn nhận rằng nhiều nhà thần học là tu sĩ và nhiều trung tâm nghiên cứu được điều hành bởi các Tu hội Đời sống thánh hiến. Họ chu toàn trách nhiệm này trong thế giới văn hoá cách đáng ca ngợi. Với sự quan tâm đầy lòng tin tưởng, Giáo hội chú ý dến sự dấn thân về mặt trí thức của họ khi đối diện với những vấn đề tế nhị hàng đầu mà huấn quyền phải đối diện.103
Các tài liệu của Giáo hội trong các thập niên vừa qua đã thường xuyên nhắc lại quy định của Công đồng là mời gọi các giám mục biện phân các đoàn sủng khác nhau trong chương trình mục vụ chung. Đồng thời khuyến khích những người thánh hiến trình bày và đưa ra cách rõ ràng và tin tưởng các đề nghị hiện diện và hoạt động phù hợp với ơn gọi riêng của mình.
Điều này cũng đúng, một cách nào đó, trong mối tương quan với các linh mục của giáo phận. Phần đông các tu sĩ cộng tác hằng ngày với các linh mục trong việc mục vụ. Vì thế cần đưa ra những sáng kiến nhằm gia tăng sự hiểu biết và quý trọng lẫn nhau.
Chỉ bằng cách sống phù hợp với linh đạo hiệp thông và với giáo huấn vạch ra trong Novo Millennio Ineunte mà người ta có thể nhận ra ơn huệ của Chúa Thánh Thần ban cho Giáo hội qua các đoàn sủng của đời sống thánh hiến. Sự chung sống trong đời sống Giáo hội giữa các yếu tố thuộc đoàn sủng và các yếu tố thuộc phẩm trật mà Đức Gio-an Phao-lô II thường đề cập đến khi nói với các phong trào mới của Giáo hội 104 cũng đúng, một cách đặc biệt, đối với đời sống thánh hiến. Lòng yếu mến và sự phục vụ trong Giáo hội phải được sống trong một sự trao đổi lẫn nhau của tình bác ái hỗ tương.
PHẦN III
ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
ĐẶT LÊN HÀNG ĐẦU
20. Đời sống thánh hiến, giống như tất cả hình thức khác của đời sống ki-tô hữu, tự bản chất là năng động và tất cả những ai được Thánh Khí mời gọi đi theo, phải không ngừng canh tân chính mình trong việc tăng trưởng cho đến tầm vóc viên mãn của Thân thể Đức Ki-tô (x. Ep 4,13). Đời sống ấy đã đi vào hiện hữu nhờ sự thúc đẩy có tính sáng tạo của Thánh Khí, Đấng dẫn dắt các vị sáng lập nam nữ trên con đường Phúc âm, bằng cách làm phát sinh nhiều đoàn sủng đáng ngưỡng mộ khác nhau. Những vị sáng lập này, mở lòng và ngoan ngoãn theo sự hướng dẫn của Thánh Khí, đã bước theo Đức Ki-tô sát hơn, sống tình thân với Người và chia sẻ trọn vẹn sứ mệnh của Người.
Kinh nghiệm về Thánh Khí của họ đòi buộc những người đi theo họ không những bảo tồn, nhưng còn phải đào sâu và phát triển.60 Cả ngày hôm nay nữa, cũng cần mở lòng và ngoan ngoãn với hoạt động của Thánh Khí, một hoạt động luôn mới mẻ và có tính sáng tạo. Chỉ mình Thánh Khí mới giữ cho sống động sự tươi trẻ và tính xác thực của buổi ban đầu, đồng thời truyền cho sự can đảm của tinh thần phụ thuộc lẫn nhau và óc sáng tạo cần thiết để đáp trả các dấu chỉ thời đại.
Như thế chúng ta phải để cho Thánh Khí hướng dẫn nhằm khám phá Thiên Chúa và Lời Người cách luôn mới mẻ, thiết tha yêu mến Thiên Chúa và nhân loại, và hiểu biết đoàn sủng đã được trao ban. Đó là chú tâm vào một linh đạo hiểu theo nghĩa mạnh nhất của từ: cuộc sống theo Thánh Khí. Đời sống thánh hiến hôm nay cần đến một sự tái sinh thiêng liêng, bằng cách thể hiện trong đời sống cụ thể ý nghĩa thiêng liêng và phúc âm của sự thánh hiến bởi phép Thánh tẩy và sự thánh hiến mới mẻ và đặc biệt của nó.
“Đời sống thiêng liêng phải được đặt lên hàng đầu trong chương trình của mọi gia đình đời sống tận hiến, ngõ hầu mọi tu hội và mọi cộng đoàn trở thành những trường học về linh đạo phúc âm chân chính”.61 Chúng ta phải để cho Thánh Khí khai mở nguồn nước hằng sống tuôn trào từ Đức Ki-tô cách vô cùng phong phú. Chính Thánh Khí làm cho chúng ta nhìn nhận Đức Giê-su Na-da-rét là Đức Chúa (x. 1 Cr 12,3), Ngài cho chúng ta nghe được lời mời gọi đi theo Đức Ki-tô và kết hiệp chúng ta trong Người. Ai không có Thánh Khí của Đức Ki-tô thì không thuộc về Đức Ki-tô (x. Rm 8,9). Chính Thánh Khí, khi biến chúng ta thành những người con trong Chúa Con, làm chứng về tình phụ tử của Thiên Chúa, giúp chúng ta ý thức đến tư cách là nghĩa tử và cho phép chúng ta dám gọi Thiên Chúa là “Abba, Cha ơi” (Rm 8,15). Chính Thánh Khí đổ tràn tình yêu và làm nảy sinh sự hiệp thông. Quả thực đời sống thánh hiến cần đến một nỗ lực mới mẻ sống thánh thiện: đó là, trong sự giản dị của đời sống hằng ngày, ta nhắm đến tính triệt để của Bài giảng trên Núi 62 và tình yêu có tính đòi hỏi, thể hiện qua mối tương quan với Chúa, qua đời sống hiệp thông và qua việc phục vụ mọi người nam nữ. Chính một sự mới mẻ bên trong đó, hoàn toàn được tràn đầy sinh khí nhờ sức mạnh của Thánh Thần, và hướng về Chúa Cha, khi tìm kiếm Nước Thiên Chúa, sẽ cho phép người thánh hiến xuất phát lại từ Đức Ki-tô và trở nên chứng nhân cho tình yêu của Người.
Lời mời gọi quay trở về những nguồn cội và chọn lựa riêng của mình trong linh đạo mở ra những con đường hướng về tương lai. Trước hết, nó đòi buộc phải sống trọn vẹn ý nghĩa thần học của các lời khuyên phúc âm khởi đi từ mẫu gương là đời sống của Thiên Chúa Ba ngôi, theo lời dạy của tông huấn Đời sống thánh hiến, 63 và có cơ hội đối chất với những nguồn mạch của linh đạo và các văn bản pháp quy riêng, những văn bản này luôn mở ngõ cho những giải thích mới mẻ và đòi hỏi hơn. Ý thức năng động về linh đạo này đem lại cơ hội để phát triển, vào giai đoạn này của lịch sử Giáo hội, một nền linh đạo sâu sắc hơn, có tính Giáo hội và cộng đồng hơn, đòi hỏi và trưởng thành hơn trong việc giúp nhau sống thánh thiện; cuối cùng, một nền linh đạo có thiên hướng lớn hơn để trở thành một chương trình huấn luyện và mục vụ về sự thánh thiện giữa lòng đời sống thánh hiến và trong sự chiếu tỏa nhằm lợi ích của toàn thể Dân Chúa. Chúa Thánh Thần là linh hồn và linh hoạt viên của đời sống thiêng liêng ki-tô giáo; vì lý do đó, chúng ta phải tin vào hoạt động của Thánh Khí, một hoạt động khởi đi từ nơi sâu thẳm của tâm hồn, biểu lộ qua sự hiệp thông và phát triển trong sứ vụ.
Xuất phát lại từ Đức Ki-tô
21. Vì thế cần gắn bó ngày càng mật thiết hơn với Đức Ki-tô, trung tâm của đời sống thánh hiến và lại một lần nữa đi lại con đường hoán cải và canh tân, giống như kinh nghiệm đầu tiên của các tông đồ, trước và sau biến cố phục sinh, đó là xuất phát lại từ Đức Ki-tô. Vâng, ta phải xuất phát lại từ Đức Ki-tô bởi vì chính từ nơi Người mà các môn đệ đầu tiên đã khởi hành tại Ga-li-lê; từ nơi Người mà suốt giòng lịch sử, những người nam nữ thuộc mọi cấp bậc và văn hoá, được Chúa Thánh Thần hiến thánh theo ơn gọi của họ, đã khởi hành; vì Người, họ đã từ bỏ gia đình và quê hương, theo Người cách vô điều kiện, chuẩn bị sẵn sàng để loan báo Nước Trời và làm điều lành cho mọi người (x. Cv 10,38).
Ý thức đến sự nghèo khó và yếu đuối của mình và sự cao cả của lời mời gọi thường dẫn họ đến việc lập lại những lời của tông đồ Phê-rô: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” (Lc 5,8). Nhưng ơn huệ của Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn sự yếu đuối con người. Quả thế, chính Đức Ki-tô hiện diện giữa cộng đoàn những kẻ suốt bao thế kỷ, tụ họp nhân danh Người, Người đã dạy dỗ họ về chính mình và về Thánh Khí, Người hướng họ về Chúa Cha, Người hướng dẫn họ trên các nẻo đường của trần gian để gặp gỡ các anh em, chị em, Người biến họ thành khí cụ tình yêu và người xây dựng Nước Trời trong sự thông hiệp với những ơn gọi khác trong Giáo hội.
Những người thánh hiến có thể và phải xuất phát lại từ Đức Ki-tô bởi vì chính Người đã đến với họ trước và đồng hành với họ trên đường (x. Lc 24,13-22). Cuộc sống của họ là lời loan báo chỗ đứng ưu việt của ân sủng.64 Không có Đức Ki-tô, họ không thể làm được gì (x. Ga 15,5); tuy vậy, trong Người là Đấng ban sức mạnh, họ có thể làm mọi sự (x. Pl 4,13).
22. Xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa là loan báo rằng đời sống thánh hiến là một cách đặc biệt đi theo Đức Ki-tô, “một ký ức sống động về lối sống và hành động của Đức Giê-su, Ngôi Lời nhập thể trong tương quan với Chúa Cha và với anh em Người”.65 Điều đó bao hàm một sự hiệp thông tình yêu đặc biệt với Đức Ki-tô, Đấng đã trở nên trung tâm của đời sống họ và nguồn mạch liên tục của mọi sáng kiến. Như tông huấn Đời sống thánh hiến nhắc nhở chúng ta, đó là một kinh nghiệm chia sẻ, “một ơn đặc biệt là sống trong tình thân thiết”.66 Đó là “trở nên một với Người, mang cùng những tâm tình, cùng một lối sống”,67 và đó là một cuộc sống “bị Đức Ki-tô chiếm hữu”,68 “được bàn tay Đức Ki-tô chạm đến, được tiếng nói của Người nhắn nhủ, được ân sủng của Người nâng đỡ”.69
Toàn thể đời sống thánh hiến chỉ có thể hiểu được từ khởi điểm này: các lời khuyên phúc âm có một ý nghĩa trong mức độ chúng giúp gìn giữ và tạo thuận lợi cho tình yêu đối với Chúa trong sự ngoan ngoãn hoàn toàn đối với thánh ý Người; đời sống cộng đoàn được thúc đẩy nhờ Đấng đã quy tụ những người khác chung quanh mình và có mục tiêu là vui hưởng sự hiện diện thường hằng của Người; sứ mệnh là lệnh truyền của Người dẫn dắt ta tìm kiếm khuôn mặt của Người trong những khuôn mặt của những người mà ta được sai đến để chia sẻ với họ kinh nghiệm về Đức Ki-tô.
Đó là những ý hướng của những vị sáng lập các cộng đoàn khác nhau và các tu hội đời sống thánh hiến. Đó là những lý tưởng đã thúc đẩy các thế hệ những người nam nữ thánh hiến.
Xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa tìm lại một lần nữa tình yêu ban đầu của ta, tia sáng lôi cuốn làm ta đứng lên đi theo Người. Bước đầu là tình yêu của Thiên Chúa. Bước tiếp mới là sự đáp trả đầy lòng yêu mến đối với tình yêu Thiên Chúa. Nếu “chúng ta yêu mến” đó là “Người đã yêu chúng ta trước” (1 Ga 4,10.19). Điều đó có nghĩa là nhìn nhận Người yêu ta với cái ý thức sâu đậm đã làm cho thánh Phao-lô thốt lên: “Đức Ki-tô đã yêu tôi và đã hiến mạng sống cho tôi” (Gl 2,20).
Chỉ khi ý thức mình được yêu thương vô cùng mới có thể giúp chúng ta vượt thắng mọi khó khăn riêng tư hay do cơ cấu. Người thánh hiến không thể có tính sáng tạo, có khả năng canh tân tu hội và mở ra những con đường mục vụ mới nếu họ không cảm thấy được yêu mến với tình yêu ấy. Chính tình yêu ấy làm cho họ trở nên mạnh mẽ, có thể dám làm mọi sự.
Các lời khấn mà ta đã tuyên hứa để sống các lời khuyên phúc âm đem lại cho lời đáp trả tình yêu tất cả tính triệt để của nó. Lời khấn khiết tịnh mở rộng con tim cho đến chiều kích của con tim Đức Ki-tô và làm cho nó có thể yêu mến như Người đã yêu. Lời khấn nghèo khó giải thoát ta khỏi nô lệ các sự vật và các nhu cầu giả tạo đang lôi cuốn xã hội tiêu dùng và dẫn ta đến việc tái khám phá Đức Ki-tô, kho tàng duy nhất đáng để ta tìm kiếm. Lời khấn vâng phục đặt cuộc sống hoàn toàn trong bàn tay Đức Ki-tô ngõ hầu Người có thể sử dụng theo kế hoạch của Thiên Chúa và biến nó trở nên một tuyệt tác. Đức can đảm cần cho việc bước theo Đức Ki-tô cách quảng đại và vui tươi.
Chiêm ngưỡng khuôn mặt của Đức Ki-tô
23. Con đường mà đời sống thánh hiến được mời gọi đi theo khi khởi đầu ngàn năm mới được hướng dẫn bởi việc chiêm ngưỡng Đức Ki-tô, cái nhìn chúng ta hơn bao giờ hết, chăm chú vào khuôn mặt của Đức Chúa.70 Nhưng ta chiêm ngưỡng cách cụ thể khuôn mặt Đức Ki-tô ở đâu? Có vô vàn sự hiện diện cần được khám phá ra theo những cách thức luôn luôn mới mẻ.
Đức Ki-tô thực sự hiện diện trong Lời của Người và trong các bí tích, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể. Đức Ki-tô sống trong Giáo hội, Người làm cho mình hiện diện trong cộng đoàn những người tụ họp vì danh Người. Người đứng trước mặt chúng ta trong mọi người, đồng hoá cách đặc biệt với những người bé nhỏ, người nghèo, người đau khổ và người đang thiếu thốn nhất. Người gặp gỡ chúng ta trong mọi biến cố vui buồn, trong thử thách hay trong niềm vui, trong đau khổ hay trong bệnh tật.
Thánh thiện là hoa quả của cuộc gặp gỡ với Người trong nhiều cách thế hiện diện qua đó chúng ta có thể khám phá khuôn mặt của Người như là Con Thiên Chúa, một khuôn mặt đau khổ và đồng thời khuôn mặt của Đấng phục sinh. Như Người đã làm cho mình hiện diện trong cuộc sống hằng ngày, Người vẫn còn hiện diện trong cuộc sống hằng ngày của ngày hôm nay, nơi Người tiếp tục tỏ bày khuôn mặt của Người. Muốn nhận ra Người thì cần đến một cái nhìn đức tin, cái nhìn có được nhờ đọc Lời Chúa, nhờ cầu nguyện và trên hết nhờ thực thi bác ái bởi vì Mầu nhiệm chỉ có thể hiểu biết trọn vẹn nhờ tình yêu.
Chúng ta có thể nhắc lại một vài nơi chốn đặc biệt mà ta có thể chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Ki-tô, để canh tân việc dấn thân vào đời sống theo Thánh Khí. Đó là bằng cách đi theo những con đường của một linh đạo được sống, một dấn thân ưu tiên trong thời đại này, bằng cách nắm lấy cơ hội đọc lại trong đời sống, trong những kinh nghiệm hằng ngày, những phong phú thiêng liêng của đoàn sủng riêng, qua việc tiếp xúc lại với những nguồn mạch làm nảy sinh, nhờ kinh nghiệm về Thánh Khí của các vị sáng lập, tia sáng của đời sống mới và những công việc mới, cách đọc lại Tin mừng riêng biệt được tìm thấy trong mọi đoàn sủng.
Lời Thiên Chúa
24. Đức Gio-an Phao-lô II nhắc nhở các người thánh hiến rằng sống linh đạo trước tiên có nghĩa là xuất phát lại từ ngôi vị Đức Ki-tô, Thiên Chúa thật và người thật, hiện diện trong Lời của Người, “nguồn mạch đầu tiên của mọi linh đạo”.71 Thánh thiện không thể có được nếu không lắng nghe lời Thiên Chúa. Trong Novo Millennio Ineunte, chúng ta đọc: “Đặc biệt cần thiết là việc nghe Lời Chúa phải trở nên một sự gặp gỡ ban sự sống… cho phép rút ra từ bản văn Kinh Thánh Lời Hằng Sống, là lời chất vấn, hướng dẫn và hình thành cuộc sống chúng ta”. 72 Quả thế, chính nơi đó mà Thầy mặc khải chính mình và giáo dục tâm trí và con tim: chính nơi đó mà cái nhìn đức tin nên trưởng thành, bằng cách học biết nhìn thực tại và các biến cố qua con mắt của Thiên Chúa, đến mức có được “tư tưởng của Đức Ki-tô” (1 Cr 2,16).
Chính Chúa Thánh Thần soi sáng Lời Chúa với ánh sáng mới cho các vị sáng lập. Mọi đoàn sủng và mọi luật lệ xuất phát từ đó và tìm cách trở nên một sự diễn tả của Lời Chúa. Tiếp nối các vị sáng lập, các môn đệ của họ ngày hôm nay được mời gọi đón nhận và gìn giữ trong lòng Lời Chúa để nó trở nên chiếc đèn soi bước chân đi và ánh sáng rọi soi con đường của họ (x. Tv 118,105). Như thế Chúa Thánh Thần sẽ có thể dẫn họ đến chân lý toàn vẹn (x. Ga 16,13).
Lời Thiên Chúa là của ăn cho đời sống, cho việc cầu nguyện và cho cuộc hành trình hằng ngày, nguyên lý hiệp nhất cộng đoàn nên một lòng một ý, cảm hứng cho việc canh tân của thường huấn và những sáng kiến tông đồ. Công đồng Vatican II đã chỉ rõ rằng nguyên tắc canh tân quan trọng đầu tiên là trở về với Tin mừng.73
Trong các cộng đoàn và trong các nhóm người thánh hiến, cũng như trong toàn thể Giáo hội, một sự tiếp xúc sống động và trực tiếp hơn với Lời Chúa đã phát triển trong những năm gần đây. Đó là một con đường cần phải tiếp tục bước đi với một năng động lớn hơn. Đức Giáo hoàng đã nói: “Anh chị em đừng mệt mỏi suy niệm Kinh Thánh và nhất là Tin mừng để Lời Chúa có thể ghi khắc trên anh chị em những nét đặc trưng của Ngôi Lời nhập thể”.74
Đời sống cộng đoàn cũng khuyến khích tái khám phá chiều kích Giáo hội của Lời Chúa: hãy đón nhận, suy niệm, cùng sống Lời Chúa, thông truyền những kinh nghiệm trổ sinh từ đó và như thế tiến tới một nền linh đạo hiệp thông đích thực.
Trong bối cảnh đó thật là thích hợp khi nhắc đến sự cần thiết phải thường xuyên quy chiếu về Luật dòng và Hiến chương “đó là bản đồ cho toàn thể lộ trình của người môn đệ tương ứng với một đoàn sủng riêng đã được Giáo hội chuẩn nhận”.75 Con đường đi theo đó chuyển dịch lối giải thích Tin mừng riêng do các vị Sáng lập trao ban, xem đó như là kết quả của sự thúc đẩy riêng của Thánh Khí và nó giúp các thành viên của một tu hội sống cách cụ thể theo Lời Thiên Chúa.
Một khi đã được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa, được nên mới mẻ, tự do và phù hợp với Tin mừng, các người thánh hiến nam nữ có thể trở nên những tôi tớ đích thực của Lời trong công việc truyền giáo. Đó là cách họ thực hiện một ưu tiên cho Giáo hội vào lúc khởi đầu ngàn năm mới: “Chúng ta phải thắp sáng lên trong chúng ta động lực của những khởi đầu mới và cho phép chúng ta tràn ngập sự hăng say của việc rao giảng tông đồ tiếp theo sau Lễ Hiện Xuống”.76
Cầu nguyện và chiêm ngưỡng
25. Cầu nguyện và chiêm ngưỡng tạo nên bầu khí cho việc đón nhận Lời Chúa và đồng thời phát sinh từ việc lắng nghe Lời. Nếu không có đời sống nội tâm là tình yêu, tình yêu lôi kéo Ngôi Lời, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần về với mình, thì không thể có được một cái nhìn đức tin (x. Ga 14,23). Kết cục là cuộc sống không còn có ý nghĩa, khuôn mặt của anh em chị em bị che khuất và ta không thể nhận ra khuôn mặt của Thiên Chúa trong họ, các biến cố lịch sử vẫn luôn khó hiểu và thiếu niềm hi vọng, sứ vụ tông đồ và bác ái biến thành những hoạt động chẳng đi đến đâu.
Mọi ơn gọi đời sống thánh hiến đều phát sinh từ chiêm ngưỡng, từ những giây phút hiệp thông sâu xa và từ một mối tương quan bằng hữu sâu sắc với Đức Ki-tô, từ vẻ đẹp và ánh sáng mà chúng ta thấy chiếu tỏa trên khuôn mặt Người. Từ đó ước muốn luôn ở với Chúa – và bước theo Người – nên vững mạnh: “Chúng con ở đây thật là đẹp” (Mt 17,4). Mọi ơn gọi phải không ngừng tăng trưởng trong sự thân mật này với Đức Ki-tô. Đức Gio-an Phao-lô II nhắn nhủ với các người thánh hiến: “Vì thế nhiệm vụ đầu tiên của các con không thể là gì khác ngoài chiêm ngưỡng. Mọi thực tại của đời sống thánh hiến được sinh ra và phục hồi mỗi ngày bằng việc chiêm ngưỡng không ngừng khuôn mặt Đức Ki-tô”.77
Các đan sĩ và các nữ tu kín cũng như các ẩn sĩ dành nhiều thời giờ để ca ngợi Thiên Chúa cũng như cho việc cầu nguyện thinh lặng kéo dài. Các thành viên của tu hội đời, cũng như những trinh nữ thánh hiến trong thế gian, dâng lên Thiên Chúa niềm vui và nỗi buồn, hi vọng và khẩn cầu cho mọi người và chiêm ngưỡng khuôn mặt Đức Ki-tô mà họ nhận ra nơi khuôn mặt của anh em, chị em, trong các biến cố lịch sử, trong việc tông đồ và công việc mỗi ngày. Các tu sĩ nam nữ dấn thân trong việc giáo dục, chăm sóc người bệnh, phục vụ người nghèo, gặp được khuôn mặt Người nơi đó. Đối với các nhà truyền giáo và các thành viên của hiệp hội tông đồ, việc loan báo Tin mừng được sống theo mẫu gương của thánh Phao-lô, như sự thờ phượng đích thực (x. Rm1,6). Toàn thể Giáo hội vui mừng và hưởng lợi từ nhiều hình thức cầu nguyện và nhiều cách thức trong đó một khuôn mặt duy nhất của Đức Ki-tô được chiêm ngưỡng.
Đồng thời đáng lưu ý rằng, đã nhiều năm qua, Phụng vụ các Giờ kinh và việc cử hành Thánh lễ đã chiếm một chỗ đứng trung tâm trong đời sống của mọi hình thức cộng đoàn và huynh đệ đoàn, một lần nữa đem lại cho các cộng đoàn ấy một sức sống mang chiều kích kinh thánh và giáo hội. Chúng cũng tạo thuận lợi cho việc tài bồi lẫn nhau và có thể trở thành một chứng tá để nên “một ngôi nhà và một trường học của sự hiệp thông” 78 trước mặt Thiên Chúa và cùng với Thiên Chúa. Một đời sống thiêng liêng đích thực đòi hỏi mỗi người, trong mọi ơn gọi khác nhau, dành riêng thường xuyên, mỗi ngày, những thời gian thích hợp để tiến sâu vào việc đàm thoại trong thinh lặng với Người, Đấng mà họ biết rằng họ được yêu mến, để chia sẻ chính cuộc sống họ với Người và để đón nhận những soi sáng hầu tiếp tục cuộc hành trình mỗi ngày. Đó là một sự thao luyện đòi hỏi lòng trung thành, bởi vì chúng ta thường bị tấn công bởi sự tha hoá và sự phóng túng đến từ xã hội hôm nay, đặc biệt từ các phương tiện truyền thông. Đôi khi sự trung thành với đời sống cầu nguyện riêng tư và phụng vụ sẽ đòi hỏi một nỗ lực thực sự để không bị nuốt chửng trong chủ nghĩa hoạt động vô độ. Nếu không thì sẽ không mang lại hoa trái. “Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy” (Ga 15,4).
Bí tích Thánh thể, nơi chốn đặc trưng để gặp gỡ Chúa
26. Dành cho đời sống thiêng liêng một chỗ đứng ưu tiên có nghĩa là xuất phát lại từ chỗ đứng trung tâm của việc cử hành Thánh lễ. Nơi đó, một lần nữa, Người lại hiện diện giữa các môn đệ, giải thích Kinh Thánh, sưởi ấm cõi lòng và soi sáng tâm trí, mở đôi mắt và cho ta nhận ra Người (x. Lc 24,13-35). Lời mời gọi của đức Gio-an Phao-lô II gởi đến các người thánh hiến thật đánh động: “Anh chị em rất thân mến, hãy gặp gỡ và chiêm ngưỡng Người cách đặc biệt trong bí tích Thánh Thể mà ta cử hành và thờ phượng mỗi ngày như nguồn mạch và chóp đỉnh của cuộc sống và hoạt động tông đồ”.79 Trong Tông huấn Vita Consecrata ngài đã mời gọi tham dự bí tích Thánh Thể và chuyên cần chầu Thánh Thể lâu giờ mỗi ngày. 80 Bí tích Thánh Thể, tưởng niệm hi tế của Chúa, trung tâm đời sống Giáo hội và mọi cộng đoàn, biến đổi cuộc sống của ta, dự phóng của đời sống cộng đoàn và sứ vụ tông đồ thành của lễ được đổi mới. Chúng ta tất cả đều cần đến Thánh thể của ăn đàng (viaticum) hằng ngày là gặp gỡ với Chúa để tháp nhập cuộc sống mỗi ngày vào thời gian của Thiên Chúa, mà cuộc cử hành tưởng niệm sự phục sinh của Chúa làm cho hiện hiện.
Nơi đó sự thân tình trọn vẹn với Đức Ki-tô được thực hiện, bằng cách trở nên một với Người, nên đồng hình đồng dạng với Người, điều mà những người thánh hiến được kêu mời do ơn gọi.81 Quả thế, trong bí tích Thánh Thể, Đức Giê-su liên kết chúng ta với Người trong chính của lễ vượt qua của Người dâng lên Chúa Cha. Chúng ta dâng hiến và được dâng hiến. Sự thánh hiến tu trì tự nó mặc lấy một cấu trúc của Thánh Thể, đó là sự dâng hiến trọn vẹn bản thân được liên kết với hi tế Thánh Thể.
Trong bí tích Thánh Thể, mọi hình thức cầu nguyện quy tụ lại: Lời của Thiên Chúa được loan báo và đón nhận, mối tương quan với Thiên Chúa, với anh chị em, với mọi người nam nữ bị chất vấn. Đó là bí tích của tình con thảo, của hiệp thông và của sứ vụ. Bí tích Thánh Thể, bí tích của sự hiệp nhất với Đức Ki-tô, đồng thời là bí tích của sự hiệp nhất giáo hội và hiệp nhất cộng đoàn đối với người thánh hiến. Rõ ràng đó là “Nguồn mạch của đời sống thiêng liêng đối với cá nhân cũng như đối với cộng đoàn”.82
Để sản sinh đầy đủ những hoa trái đáng chờ mong của sự hiệp thông và canh tân, có những điều kiện cơ bản không thể thiếu, đặc biệt là sự tha thứ lẫn nhau và dấn thân yêu mến lẫn nhau theo giáo huấn của Chúa; cần có sự hoà giải trọn vẹn trước khi dâng của lễ nơi bàn thờ (x. Mt 5,23). Bí tích hiệp nhất không thể được cử hành đang khi vẫn dửng dưng với người khác. Mặt khác, cần phải nhớ rằng những điều kiện cần thiết ấy cũng là hoa trái và dấu chỉ của một Thánh lễ được cử hành nghiêm chỉnh bởi vì chính khi hiệp thông với Đức Giê-su Thánh Thể mà chúng ta có khả năng yêu mến và tha thứ. Hơn thế nữa, mọi cuộc cử hành phải trở thành cơ hội để canh tân lời cam kết dâng hiến mạng sống ta cho người khác qua việc đón nhận và phục vụ. Vì thế, lời hứa của Đức Ki-tô “ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,20), sẽ hiện thực cách đầy đủ nhất với cuộc cử hành Thánh Thể, và khi tụ họp chung quanh Thánh Thể, cộng đoàn sẽ được canh tân mỗi ngày.
Chính khi đáp ứng những điều kiện ấy mà cộng đoàn những người thánh hiến đang sống mầu nhiệm Vượt qua, canh tân mỗi ngày trong bí tích Thánh Thể, trở nên một chứng tá của sự hiệp thông và dấu chỉ tiên tri về tình liên đới trong một xã hội chia rẽ và bị tổn thương. Quả thế, linh đạo hiệp thông, cần thiết biết bao để thiết lập cuộc đối thoại bác ái đang cần đến trong thế giới hôm nay, được sinh ra từ bí tích Thánh Thể.
Khuôn mặt Đức Ki-tô đang gặp thử thách
27. Sống đời sống thiêng liêng bằng cách xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa là luôn xuất phát từ biểu lộ lớn nhất của tình yêu của Người – và bí tích Thánh Thể làm sống lại mầu nhiệm của giây phút đó – khi trên Thánh giá Đức Giê-su trao ban cuộc sống của Người như quà tặng lớn lao nhất. Những người đã được mời gọi sống các lời khuyên phúc âm qua việc tuyên khấn phải thường xuyên chiêm ngưỡng khuôn mặt của Đấng chịu đóng đinh.84 Người là nguồn mạch từ đó chúng ta học biết tình yêu là gì, Thiên Chúa và nhân loại phải được yêu như thế nào, nguồn mạch của mọi đoàn sủng, bản tổng hợp của mọi đoàn sủng. 85 Sự thánh hiến, một hi tế toàn diện và một lễ vật hoàn hảo, là con đường đã được Thánh Khí dề nghị cho họ để sống lại mầu nhiệm Đức Ki-tô chịu đóng đinh, Đấng đã đi vào trần gian để hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người (x. Mt 20,28; Mc 10,45) và để đáp lại tình yêu vô biên của Người.
Lịch sử đời sống thánh hiến đã biểu lộ sự đồng hình đồng dạng đó trong nhiều hình thức khổ chế, “chúng đã và tiếp tục là con đường đích thực dẫn đến sự thánh thiện. Khổ chế… rất cần thiết để người thánh hiến trung thành với ơn gọi của mình và bước theo Đức Giê-su trên con đường thánh giá”.86 Ngày hôm nay, những người thánh hiến, trong khi duy trì kinh nghiệm của bao thế kỷ, được mời gọi tìm kiếm những hình thức phù hợp với thời đại chúng ta. Những hình thức bảo đảm sự quảng đại của việc phục vụ và nâng đỡ những mệt nhọc của công việc tông đồ. Ngày hôm nay, thánh giá mà họ mang mỗi ngày (x. Lc 9,23), chẳng hạn như sự già cỗi của tu hội, những cơ cấu không thích ứng và không biết chắc gì về tương lai, có thể mang một giá trị tập thể.
Đối diện với biết bao đau khổ cá nhân, cộng đoàn và xã hội, ta có thể nghe thấy tiếng kêu của Đức Ki-tô trên thánh giá: “Sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34), được vang vọng lại trong tâm hồn của những cá nhân hay của toàn thể cộng đoàn. Trong tiếng kêu ấy hướng vè Chúa Cha, Đức Giê-su làm cho ta hiểu rằng tình liên đới của Người đối với nhân loại triệt để đến độ nó thấm nhập, chia sẻ và đảm nhận mọi khía cạnh tiêu cực dù cho đến chết, hoa quả của tội lỗi. “Để đem con người về lại gương mặt Chúa Cha, Chúa Giêsu không những mang lấy gương mặt con người, nhưng Người còn chất lên mình "gương mặt" của sự tội”.87
Xuất phát lại từ Đức Ki-tô có nghĩa là nhìn nhận rằng tội lỗi vẫn hiện diện trong con tim và đời sống của mọi người, và khám phá trong khuôn mặt đau khổ của Đức Ki-tô của lễ dâng hiến giao hoà nhân loại với Thiên Chúa.
Suốt giòng lịch sử Giáo hội, những người thánh hiến nam nữ đã chiêm ngưỡng khuôn mặt đau khổ cả ở bên ngoài họ nữa. Họ nhận ra khuôn mặt ấy nơi người bệnh, người bị tù đày, người nghèo và người tội lỗi. Cuộc chiến đấu của họ trước tiên là chống lại tội lỗi và những hậu quả tai hại của nó; lời loan báo của Đức Giê-su: “Hãy hoán cải và tin vào Tin mừng” (Mc 1,15) đã thúc đẩy họ đến với người khác và đem niềm hi vọng của đời sống mới đến nơi thất vọng và cái chết ngự trị. Việc phục vụ của họ đã giúp nhiều người nam nữ cảm nghiệm được vòng tay thương xót của Thiên Chúa Cha trong bí tích Hoà giải. Cả ngày hôm nay nữa, cần đề nghị cách mạnh dạn thừa tác vụ hoà giải ấy (x. 2 Cr 5,18) mà Đức Giê-su Ki-tô đã giao phó cho Giáo hội. Đó là mầu nhiệm của lòng sốt sắng đạo đức (mysterium pietatis) 88 mà người thánh hiến nam nữ được kêu gọi kinh nghiệm qua bí tích Hoà giải.
Ngày hôm nay những khuôn mặt mới đang xuất hiện, trên đó ta phải nhận ra, yêu mến và phục vụ khuôn mặt Đức Ki-tô, nơi mà Người làm cho mình hiện diện; đó là những tình trạng nghèo đói mới về phương diện vật chất, luân lý và tinh thần được sản sinh bởi xã hội đương thời. Tiếng kêu của Đức Giê-su trên thánh giá mặc khải rằng Người đã mang lấy mọi sự dữ trên bản thân để cứu chuộc nó. Ơn gọi của những người thánh hiến tiếp tục ơn gọi của Đức Giê-su và giống như Người họ mang vào thân mình đau khổ và tội lỗi của trần gian, bằng cách thiêu đốt chúng trong tình yêu.
Linh đạo hiệp thông
28. Nếu “đời sống thiêng liêng phải đặt lên hàng đầu trong chương trình của các gia đình đời sống thánh hiến”89 trước tiên đó phải là một linh đạo hiệp thông phù hợp với thời đại hiện nay. “Biến Giáo hội thành ngôi nhà và trường học của sự hiệp thông: đó là thách đố lớn mà chúng ta đối diện trong thiên niên kỷ đang khởi đầu, nếu chúng ta muốn trung thành với kế hoạch của Thiên Chúa và đáp trả những khát vọng sâu xa nhất của thế giới”.90
Toàn thể Giáo hội mong chờ một đóng góp minh bạch từ phía đời sống thánh hiến bởi vì ơn gọi đặc biệt của bậc sống ấy là sống hiệp thông trong tình yêu. Trong Vita Consecrata chúng ta đọc: “Những người thánh hiến được yêu cầu trở thành những chuyên viên thực sự về hiệp thông và thực hành linh đạo hiệp thông như những chứng nhân và những người kiến tạo kế hoạch hiệp thông, đỉnh cao của lịch sử nhân loại theo ý muốn của Thiên Chúa”.91
Hơn thế nữa, chúng ta được nhắc nhở rằng một trong các nhiệm vụ của đời sống thánh hiến hôm nay là “khai triển linh đạo hiệp thông, trước tiên trong chính cộng đoàn của họ, kế đến trong cộng đồng Giáo hội, và vượt cả biên giới này nữa, bằng cách kiên trì theo đuổi cuộc đối thoại bác ái, nhất là tại những nơi hiện đang bị xâu xé bởi sự hận thù chủng tộc hay nạn bạo lực điên rồ”.92 Đó là một nhiệm vụ cần đến những con người thiêng liêng được Thiên Chúa nắn đúc bên trong bằng sự hiệp thông tràn đầy tình yêu và lòng thương xót, và những cộng đoàn trưởng thành nơi đó linh đạo hiệp thông là luật sống.
29. Nhưng linh đạo hiệp thông là gì? Với những lời sắc bén, có khả năng canh tân những mối tương quan và các chương trình, đức Gio-an Phao-lô II dạy: “Một linh đạo hiệp thông hệ tại trước tiên là một cái nhìn của tâm hồn hướng về mầu nhiệm Ba Ngôi đang ngự trong chúng ta và chúng ta cũng phải có khả năng thấy ánh sáng của Người sáng chói trên gương mặt của anh chị em xung quanh chúng ta. Một linh đạo hiệp thông cũng có nghĩa là một khả năng chú ý đến anh chị em chúng ta trong đức tin, trong sự hiệp nhất sâu xa của Thân Thể mầu Nhiệm và vì thế như "những chi thể của tôi"...” Một vài hậu quả về phương diện cảm xúc và hành động xuất phát từ nguyên tắc này với luận lý đáng thuyết phục: chia sẻ niềm vui và những đau khổ của anh chị em chúng ta; nhạy cảm trước những ước muốn và chú ý đến các nhu cầu của họ; tặng ban cho họ tình bạn sâu sắc và chân chính. Linh đạo hiệp thông cũng bao hàm khả năng nhìn thấy những gì tích cực nơi người khác, đón nhận và khen ngợi điều đó như là một hồng ân Thiên Chúa ban, và biết dành một chỗ cho người khác, bằng cách mang gánh nặng cho nhau. Trừ phi chúng ta đi theo con đường thiêng liêng này, những cơ cấu bên ngoài của hiệp thông sẽ sinh rất ít kết quả.93
Linh đạo hiệp thông, xuất hiện như là phản ảnh của bầu khí thiêng liêng của Giáo hội vào lúc khởi đầu thiên niên kỷ thứ ba, là một nhiệm vụ tích cực và có tính cách nêu gương sáng của đời sống thánh hiến ở mọi cấp bậc. Đó là con đường vương giả cho tương lai của cuộc sống và chứng tá. Sự thánh thiện và sứ mệnh đi qua cộng đoàn, bởi vì Đức Kitô làm cho Người hiện diện trong và qua cộng đoàn. Anh em và chị em trở nên những Bí tích của Đức Kitô và của việc gặp gỡ với Thiên Chúa, triển vọng cụ thể, và hơn thế nữa, sự cần thiết không thể bỏ qua của việc thực thi giới luật yêu thương lẫn nhau và thể hiện hiệp thông của Ba Ngôi.
Trong những năm gần đây, các cộng đoàn và nhiều hình thức huynh đoàn khác nhau của những người thánh hiến được xem như những nơi chốn sống tình hiệp thông, nơi đó các mối tương quan có vẻ bớt hình thức hơn, nơi đó việc chấp nhận và hiểu biết lẫn nhau được tạo điều kiện thuận lợi hơn. Người ta cũng khám phá lại giá trị thần thiêng và nhân bản của việc quảng đại sống chung với nhau trong tình bằng hữu và chia sẻ cả đến những giây phút nghỉ ngơi và giải trí chung với nhau như những môn đệ chung quanh Đức Kitô là vị Thầy.
Hơn thế nữa có một sự hiệp thông mật thiết hơn giữa các cộng đoàn khác nhau của cùng một tu hội: những cộng đoàn đa văn hoá và quốc tế, được mời gọi nên “chứng nhân cho cảm thức về sự hiệp thông giữa các dân tộc, màu da, và các nền văn hoá”,94 trong nhiều lĩnh vực đã là một thực tại tích cực, nơi đó người ta kinh nghiệm được sự hiểu biết lẫn nhau, lòng kính trọng, sự quý mến và việc làm phong phú lẫn cho nhau. Chúng tỏ ra là những nơi đào tạo cho sự hoà nhập và hội nhập văn hoá và đồng thời một chứng tá cho tính phổ quát của sứ điệp ki-tô giáo.
Tông huấn Vita Consecrata, khi trình bày hình thức sống này như một dấu chỉ của hiệp thông trong Giáo hội, đã nhấn mạnh đến tất cả sự phong phú và những đòi hỏi của đời sống cộng đoàn. Gần đây Thánh bộ đã ban hành tài liệu Congregavit nos in unum Christi amor, về đời sống cộng đoàn. Mọi cộng đoàn cần quay trở lại cách định kỳ những tài liệu này để lượng giá cuộc hành trình đức tin của mình và những tiến bộ trong huynh đệ đoàn.
Hiệp thông giữa các đoàn sủng cũ và mới
30. Sự hiệp thông mà những người thánh hiến được mời gọi sống, vượt khỏi ranh giới gia đình tu sĩ hoặc Tu hội của mình. Khi nới rộng sự hiệp thông với những Tu hội và những hình thức khác của sự thánh hiến, họ có thể truyền bá sự hiệp thông, tái khám phá gốc rễ Tin mừng chung và cùng nhau hiểu thấu rõ ràng hơn vẻ đẹp của căn tính riêng của mình trong số các đặc sủng khác nhau. Họ phải ganh đua trong sự quý trọng lẫn nhau (x. Rm 12,10), bằng cách phấn đấu có được ân huệ lớn hơn là đức ái (x. 1 Cr 12,31).
Vì thế gặp gỡ và liên đới giữa các tu hội là điều đáng được khuyến khích, ý thức rằng “hiệp thông liên kết chặt chẽ với khả năng của cộng đồng Kitô hữu đón nhận tất cả những hồng ân của Thánh Khí. Sự hiệp nhất Giáo hội không phải là sự đồng dạng, nhưng là một sự pha trộn hữu cơ những khác biệt chính đáng. Đó là thực tại của nhiều thành phần nối kết trong một thân thể, Thân Thể duy nhất của Đức Kitô (x. 1 Cr 12, 12)”.95
Đó có thể là khởi đầu cùng nhau tìm kiếm một đường lối chung để phục vụ Giáo hội. Những yếu tố bên ngoài, chẳng hạn bổn phận thích nghi với những đòi buộc của quốc gia và những yếu tố nội bộ của Tu hội chẳng hạn như sự giảm sút con số thành viên, đã dẫn đến việc phối hợp các nỗ lực trong lãnh vực huấn luyện, quản lý các tài sản, giáo dục và truyền giáo. Ngay trong những hoàn cảnh ấy chúng ta có thể tìm thấy lời mời gọi của Thánh Khí sống hiệp thông mật thiết hơn nữa. Các Hội nghị Bề trên Thượng cấp và các hội nghị của các Tu hội đời cần được nâng đỡ ở mọi bình diện trong công việc này.
Ta không thể đối diện tương lai trong sự cô lập. Chúng ta cảm thấy nhu cầu trở nên giáo hội, cùng sống cuộc phiêu lưu của Thánh Khí và của việc bước theo Kitô, bằng cách thông truyền kinh nghiệm sống Tin mừng, bằng cách yêu mến cộng đoàn và gia đình tu sĩ của người khác như của chính mình. Niềm vui và nỗi buồn, quan tâm và thành công thuộc về mọi người và có thể được chia sẻ.
Đối thoại và hiệp thông cũng cần thiết trong vấn đề liên quan đến các hình thức mới của đời sống Tin mừng. Vita Consecrata nhắc nhở chúng ta: những hiệp hội sống Tin mừng mới này “không thay thế những tu hội đã có từ trước đến nay; các định chế này vẫn giữ một chỗ cao mà truyền thống đã dành cho chúng… Các tu hội cổ điển, trong số đó nhiều tu hội đã trải qua những thử thách rất đau đớn mà vẫn can đảm chịu đựng qua các thời đại, có thể được nên phong phú nhờ đối thoại và trao đổi ân huệ với các tu hội mới chào đời trong thời đại chúng ta”.96
Cuối cùng, một sự phong phú mới mẻ có thể nảy sinh từ cuộc gặp gỡ và hiệp thông với đoàn sủng của các phong trào giáo hội. Các phong trào thường có thể trao ban một mẫu gương về sự tươi trẻ của Tin mừng và đoàn sủng, chẳng hạn như những khởi xướng quảng đại và có tính sáng tạo trong việc phúc âm hoá. Trái lại, các phong trào cũng như những hình thức sống Tin mừng mới có thể học hỏi rất nhiều từ lòng trung thành, chứng tá tươi vui và thuyết phục của đời sống thánh hiến với một gia sản thiêng liêng rất phong phú, nhiều kho tàng kinh nghiệm và khôn ngoan và nhiều dấn thân tông đồ và truyền giáo đa dạng.
Thánh bộ chúng tôi đã đưa ra những tiêu chuẩn và hướng dẫn vẫn còn có hiệu lực về việc tháp nhập các tu sĩ nam nữ vào các phong trào Giáo hội.97 Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh nơi đây là mối tương quan giữa hiểu biết và cộng tác, quý trọng và chia sẻ phải thiết lập không chỉ giữa các cá nhân, mà còn giữa các Tu hội, các phong trào giáo hội, và các hình thức mới của đời sống thánh hiến nhằm tăng trưởng đời sống trong Thánh Khí và chu toàn sứ mệnh duy nhất của Giáo hội. Đó là những đoàn sủng phát sinh từ sự thúc đẩy của Thánh Khí, để sống Tin mừng cách viên mãn trên trần gian, và cùng nhau thực hiện chương trình cứu rỗi mọi người của Thiên Chúa. Linh đạo hiệp thông được thực hiện cách chính xác trong sự đối thoại rộng lớn này của tình huynh đệ phúc âm giữa mọi thành phần của Dân Thiên Chúa.98
Hiệp thông với giáo dân
31. Kinh nghiệm hiệp thông giữa các người thánh hiến dẫn đến một sự hiệp thông mở rộng hơn với mọi thành phần khác của Giáo hội. Lệnh truyền yêu thương người khác, được sống bên trong khuôn viên cộng đoàn, đòi buộc phải chuyển từ bình diện cá nhân đến bình diện những thực tại khác nhau trong Giáo Hội. Chỉ trong một khoa Giáo hội học hội nhập, nơi mà nhiều ơn gọi khác nhau tập trung lại như một đoàn dân của Thiên Chúa, mà ơn gọi đời sống thánh hiến có thể tìm thấy căn tính riêng của mình như là một dấu chỉ và chứng tá. Ngày nay người ta càng càng càng khám phá lại rằng đoàn sủng của các Đấng sáng lập nam cũng như nữ, được nảy sinh bởi Thánh Khí vì lợi ích của mọi người, một lần nữa phải được đặt ở trung tâm của Giáo Hội, hướng mở đến sự hiệp thông và sự tham dự của toàn dân Thiên Chúa.
Trong chiều hướng đó, chúng ta có thể thấy rằng một kiểu thức mới của hiệp thông và cộng tác giữa các ơn gọi và những bậc sống khác nhau, đặc biệt là giữa những người thánh hiến và giáo dân đang khởi đầu.99 Các hội dòng đan tu và chiêm ngưỡng có thể trao ban cho người giáo dân một mối tương quan chủ yếu thiêng liêng và một không gian cần thiết cho việc thinh lặng và cầu nguyện. Các tu hội dấn thân trong việc tông đồ có thể giúp họ tham gia vào các hình thức cộng tác mục vụ. Các thành viên của các tu hội đời, giáo dân hoặc giáo sĩ, liên kết với những tín hữu ở bình diện của cuộc sống hằng ngày. 100
Hiện tượng mới mẻ được kinh nghiệm trong những ngày này đó là một số giáo dân xin được tham dự vào đoàn sủng của các tu hội. Điều này làm nảy sinh những bước khởi đầu đáng quan tâm và những hình thức tổ chức các hiệp hội mới. Chúng ta đang kinh nghiệm một sự nở rộ lại những cơ chế cũ, chẳng hạn Dòng Ba hay Dòng Tại thế và sự sinh ra những hiệp hội giáo dân và những phong trào mới nối kết với những gia đình tu sĩ và những tu hội đời. Nếu đôi khi trong thời gian gần đây, có sự cộng tác dưới hình thức thay thế vì con số những người thánh hiến cần thiết để điều hành các hoạt động sút giảm, giờ đây đang gia tăng nhu cầu chia sẻ trách nhiệm, không chỉ trong việc chu toàn các công việc của tu hội, nhưng nhất là trong khát vọng chia sẻ những khía cạnh và những thời gian đặc biệt của linh đạo và sứ mệnh của tu hội. Vì thế ta cần đến một sự huấn luyện tương xứng cho cả những người thánh hiến lẫn giáo dân để bảo đảm một sự cộng tác làm phong phú lẫn cho nhau.
Nếu trong quá khứ, việc thành lập, bồi dưỡng về mặt thiêng liêng và điều hành các nhóm giáo dân thường là nhiệm vụ của các tu sĩ, ngày nay, nhờ việc huấn luyện giáo dân ngày càng gia tăng, có thể có một sự tương trợ lẫn nhau nhằm cổ võ một sự hiểu biết về đặc điểm riêng và vẻ đẹp của mỗi bậc sống. Sự hiệp thông và tương trợ trong Giáo hội không bao giờ chỉ là một chiều. Trong bầu khí mới này của hiệp thông giáo hội, các linh mục, tu sĩ và giáo dân, thay vì không biết gì lẫn nhau hoặc đến với nhau chỉ vì một hoạt động chung, lại một lần nữa có thể tìm lại mối tương quan đúng đắn của tình hiệp thông và một kinh nghiệm đổi mới về tình huynh đệ tin mừng và về sự quý trọng hỗ tương các đoàn sủng trong một sự bổ túc đầy lòng kính trọng đối với các khác biệt.
Năng động giáo hội này sẽ giúp ích cho việc canh tân và xác định căn tính của đời sống thánh hiến. Khi sự hiểu biết về đoàn sủng được đào sâu, người ta luôn khám phá ra những cách thức thực hiện mới mẻ.
Hiệp thông với các giám mục
32. Trong mối tương quan hiệp thông giáo hội với mọi ơn gọi và bậc sống, một khía cạnh rất đặc biệt là sự hiệp nhất với các giám mục. Khát vọng xây dựng một linh đạo hiệp thông sẽ là hão huyền nếu không có một mối tương quan tích cực và thân thiết với các giám mục, trước tiên với Đức Giáo hoàng, trung tâm hiệp nhất của Giáo hội và với huấn quyền của ngài.
Đó là việc áp dụng cụ thể cái cảm thức với Giáo hội của mọi tín hữu, 101 đặc biệt chiếu sáng nơi các vị sáng lập nam nữ của đời sống thánh hiến và trở thành nhiệm vụ liên quan đến đoàn sủng của tất cả các Tu hội. Không thể chiêm ngưỡng khuôn mặt của Thiên Chúa mà không thấy khuôn mặt ấy toả sáng nơi khuôn mặt của Giáo hội. Yêu mến Đức Kitô là yêu mến Giáo hội qua những con người và những định chế.
Ngày hôm nay, hơn bao giờ hết, đối diện với những lực ly tâm tái diễn và gieo rắc sự ngờ vực đối với những nguyên tắc nền tảng của đức tin công giáo và luân lý, những người thánh hiến và những định chế của họ được mời gọi làm chứng cho sự hiệp nhất không bao giờ bất đồng với huấn quyền của Giáo hội, bằng cách trở nên những phát ngôn viên xác tín và vui tươi trước mặt mọi người.
Quả là thích hợp khi nhấn mạnh điều mà Đức Giáo hoàng đã khẳng định trong Vita Consecrata: “Một khía cạnh nổi bật của sự hiệp thông với Giáo hội là gắn bó bằng cả trí tuệ và con tim với huấn quyền (của Đức Giáo hoàng và) của các giám mục; tất cả những người thánh hiến, đặc biệt những ai dấn thân trong công việc nghiên cứu thần học, trong việc giảng dạy, trong việc xuất bản sách vở, trong huấn giáo, trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, phải nghiêm chỉnh thi hành và minh chứng rõ ràng điều này trước mặt Dân Thiên Chúa”.102 Đồng thời phải nhìn nhận rằng nhiều nhà thần học là tu sĩ và nhiều trung tâm nghiên cứu được điều hành bởi các Tu hội Đời sống thánh hiến. Họ chu toàn trách nhiệm này trong thế giới văn hoá cách đáng ca ngợi. Với sự quan tâm đầy lòng tin tưởng, Giáo hội chú ý dến sự dấn thân về mặt trí thức của họ khi đối diện với những vấn đề tế nhị hàng đầu mà huấn quyền phải đối diện.103
Các tài liệu của Giáo hội trong các thập niên vừa qua đã thường xuyên nhắc lại quy định của Công đồng là mời gọi các giám mục biện phân các đoàn sủng khác nhau trong chương trình mục vụ chung. Đồng thời khuyến khích những người thánh hiến trình bày và đưa ra cách rõ ràng và tin tưởng các đề nghị hiện diện và hoạt động phù hợp với ơn gọi riêng của mình.
Điều này cũng đúng, một cách nào đó, trong mối tương quan với các linh mục của giáo phận. Phần đông các tu sĩ cộng tác hằng ngày với các linh mục trong việc mục vụ. Vì thế cần đưa ra những sáng kiến nhằm gia tăng sự hiểu biết và quý trọng lẫn nhau.
Chỉ bằng cách sống phù hợp với linh đạo hiệp thông và với giáo huấn vạch ra trong Novo Millennio Ineunte mà người ta có thể nhận ra ơn huệ của Chúa Thánh Thần ban cho Giáo hội qua các đoàn sủng của đời sống thánh hiến. Sự chung sống trong đời sống Giáo hội giữa các yếu tố thuộc đoàn sủng và các yếu tố thuộc phẩm trật mà Đức Gio-an Phao-lô II thường đề cập đến khi nói với các phong trào mới của Giáo hội 104 cũng đúng, một cách đặc biệt, đối với đời sống thánh hiến. Lòng yếu mến và sự phục vụ trong Giáo hội phải được sống trong một sự trao đổi lẫn nhau của tình bác ái hỗ tương.