Chúa Nhật 4C Mùa Vọng

Lc 1,39-45

Thưa quý vị,

Trước khi bước vào suy niệm Phúc Âm, chúng ta dành ra ít phút để có thể lượng giá tốt hơn nội dung Tin Mừng của bài đọc: Ngay từ khởi thuỷ Phúc Âm, thánh Luca đã đưa nhân loại vào thế giới các phụ nữ. Xin so sánh với các tác giả khác: Thánh Matthêu, gia phả Chúa Giêsu, truy nguyên lên đến tổ phụ Abraham qua dòng tộc thánh Giuse, thánh Marcô kể chuyện ông Gioan Tẩy Giả, thánh Gioan với lời tựa cao siêu về Ngôi Lời, còn thánh Luca, chuyện hai vợ chồng già Dacaria và Elisabeth. Dacaria là một thầy tư tế, Elisabeth “son sẻ”, không sinh đẻ được.

Câu chuyện của hai vị thường bị bỏ qua, có lẽ vì thiên thần Gabriel phạt ông Dacaria câm miệng và Gioan Tẩy Giả chỉ giữ vai trò phụ: Làm tiền hô cho Chúa Giêsu. Người ta ít khi chú ý đến những điều phụ thuộc. Số phận của gia đình ông Dacaria là như vậy. Tuy nhiên, bà Elisabeth lại được nhắc rõ tên. Nhiều phụ nữ trong Phúc Âm không có tên. Họ chỉ được thuật lại như mẹ, con gái, vợ hoặc người đàn bà, các bà. Nghĩa là liên hệ với phái mày râu. Căn cước của họ lệ thuộc vào đàn ông, không có cá tính riêng. Đó là não trạng của thời bấy giờ, mẹ vợ ông Phêrô chỉ được gọi bằng tên “nhạc mẫu” của ông mà thôi. Thậm chí đàn bà còn được coi như không có linh hồn. Tuy nhiên bà Elisabeth lại có một cái tên. Tên trong Kinh Thánh mang ý nghĩa hoặc cả một sứ mệnh. Elisabeth nghĩa là: Thiên Chúa là Đấng làm chứng cho tôi hoặc Thiên Chúa là sự tràn đầy của tôi. Hai ý nghĩa đó đều thích hợp để chúng ta cầu nguyện lúc này, ít là từ bây giờ cho đến lễ Giáng Sinh. Xin hãy sốt sắng dùng tên Elisabeth để bộc lộ ước vọng tha thiết của mình được trung thành với một mình Thượng Đế hoặc được kinh nghiệm tình thương hải hà của Ngài trong đêm lễ Giáng Sinh. Hai ý nghĩa đều thích hợp lạ lùng.

Trong Thánh Kinh, tình trạng không con có một bối cảnh đặc biệt (thời ấy người ta chẳng bao giờ nghĩ đàn ông vô sinh). Sứ mệnh chính yếu của phụ nữ là sinh con và con cái là cái phước hạnh lớn nhất Chúa ban cho các bà. Không con là nỗi nhục, là cái khổ suốt đời. Nó ảnh hưởng nặng nề đến số phận, vị trí, an ninh của người phụ nữ. Người ta khinh bỉ, nguyền rủa bà. Không con còn là dấu chỉ hình phạt Chúa giáng xuống người phụ nữ có tội. Như vậy chúng ta thấy bà Elisabeth bất hạnh biết bao. Nhưng ở trong Tin Mừng, thánh Luca đã mô tả hai ông bà là thánh thiện: “Cả hai ông bà đều là người công chính, trước mặt Thiên Chúa, sống đúng theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, không ai chê trách được điều gì” (1.6). Điểm này thật khác thường, bởi Thánh Kinh ít dùng từ công chính hoặc ngay thẳng để mô tả phụ nữ. Chỉ đàn ông mới có từ này mà thôi. Dầu sao bà Elisabeth vẫn có mặc cảm tội lỗi cho đến khi nhận ra mình mang thai: “Ít lâu sau, bà Elisabeth vợ ông có thai, bà ẩn mình năm tháng, bà tự nhủ: Chúa đã làm cho tôi như thế đó, khi Người thương cất nỗi khổ nhục tôi gánh chịu trước mặt người đời” (1,24).

Cuộc thăm viếng diễn ra hết sức bình thường, như sự gặp gỡ giữa hai người phụ nữ họ hàng với nhau. Nhưng ý nghĩa thì đặc biệt, có một không hai trong Thánh Kinh và trong lịch sử nhân loại. Xin nhớ ông Dacaria đã bị thiên thần phạt cấm khẩu trong Đền thánh, khi không tin vợ mình mang thai. Elisabeth khác với chồng, tin ngay hành động tốt lành của Thiên Chúa, bà tạ ơn và lui vào ẩn mình. Có lẽ thánh Luca thiên vị phụ nữ. Ông tường thuật bà Elisabeth mau lẹ đáp trả sự can thiệp bất thường của Thượng Đế hơn chồng. Bà có trực giác chính xác về lòng thương xót của Ngài, muốn cất cho mình gánh nặng dư luận và thất vọng thầm kín. Bà thật bất ngờ trước hoàn cảnh. Nhưng không hề oán trách Thiên Chúa về nỗi khổ nhục đã qua. Trái lại bà nhận ra cánh tay Thiên Chúa, Đấng đã từng giải phóng dân tộc khỏi áp bức bất công. Thiên Chúa mà hai người đàn bà cao rao, ngợi khen là Thiên Chúa yêu thích cứu giúp những kẻ khốn cùng. Đó là Thiên Chúa đã đem Israel ra khỏi Ai Cập và kiếp nô lệ tại Babylon. Đức Maria ngây ngất ca tụng Ngài trong bài Magnificat, bài ca có tính giải phóng cao: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng, Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường, kẻ đói nghèo Chúa ban của dư đầy, người giàu lại đuổi về tay trắng”. Các nhà tranh đấu cho nữ quyền phê bình cuốn các bài đọc ở chỗ không sắp xếp bài ca này cho ngày chúa nhật, mà chỉ một lần ngày trong tuần. Đó là ngày 22/12. Dầu sao thì Hội Thánh đọc nó hằng ngày trong giờ kinh phụng vụ ban chiều. Phần bà Elisabeth sau khi cao rao quyền năng Thiên Chúa đã làm ơn làm phúc cho mình, bà lui vào ở ẩn, chiêm niệm và chờ đợi Đức Maria đến viếng thăm. Thực sư, bà đã lắng nghe Lời Thiên Chúa, giữ nó trong linh hồn mình và suy đi gẫm lại. Một mẫu mực để chúng ta noi theo trong mùa vọng này.

Dacaria bị câm, tiếng phái nam ngừng, nhường chỗ cho câu chuyện hàn huyên của hai người phụ nữ. Đức Maria bước vào nhà bà chị họ, cất tiếng chào. Lập tức niềm vui khôn sánh tràn ngập cả gia đình. Đố ai phân định được rõ ràng: Theo thánh Luca, Đức Thánh Linh hiện diện ở đâu? Nhà ông Dacaria hay trong phòng tiệc ly? Ơ Phúc Âm hay trong công vụ? Tuy nhiên, theo như câu chuyện này, thì Ngài hiện diện hai nơi như nhau. Tuy nhiên ở đây có phần khiêm tốn hơn, dưới mái nhà nhỏ bé của gia đình Dacaria, với hai người phụ nữ, một già một trẻ nghèo khó. Vậy mà nó mang ý nghĩa to lớn cho khắp thế giới. Công bố công việc vĩ đại cho toàn thể loài người: Hai người đàn bà mang thai đã cảm nghiệm rất cụ thể hành động xót thương của Thiên Chúa ban cho nhân loại. Đàn ông, nhất là các vị độc thân, không bao giờ có đặc ân đó. Họ phải cậy nhờ phụ nữ chia sẻ, nhất là các phụ nữ đã từng sinh con. Bởi thiếu kinh nghiệm có khi các ông rơi vào sai lầm, không hiểu thấu tính cao cả của Thiên Chúa và của sự sống. Vậy các ông nên nhờ những phụ nữ đã từng mang thai và sinh con nói cho mình hay điều chi là thực chất khi bà Elisabeth và Đức Maria gặp nhau!

Đàn bà rất hạnh phúc khi được mang thai và được chia phần kinh nghiệm ấy với người khác. Họ cảm thấy rất dễ chịu khi ở bên nhau, cùng nhau hình thành hy vọng và sợ hãi, cùng nhau chia phần các kinh nghiệm thay đổi tâm lý, thể lý. Đức Maria và bà Elisabeth có rất nhiều điều phải hàn huyên với nhau, nhất là về các biến cố vừa xảy ra cho mình. Quả là những việc vĩ đại Thiên Chúa đã thực hiện nơi chính bản thân họ. Cả hai vị đều chưa hết ngỡ ngàng, ngây ngất. Bà Elisabeth hoàn toàn thất vọng về đường con cái, chỉ còn chờ đợi ngày xuống mồ. Đức Maria tuy còn trẻ, nhưng việc mang thai lại ngoại thường, có thể mang đến phỉ nhổ, ném đá, nếu như Giuse không phải là người công chính! Cả hai người phụ nữ đều không dự trù việc này. Họ hoàn toàn chẳng lường trước. Elisabeth hô lớn: “Bởi đâu tôi được Mẹ Đức Chúa đến viếng thăm” (1,43). Bà cao rao thánh danh Chúa đang hiện diện trước mặt và hành động cứu vớt loài người. Lời Chúa hứa khi xưa nay được thực hiện vẹn toàn. Tới ba lần bà loan báo Tin Mừng của Đức Chúa: Thiên Chúa đã làm nơi em bà một điều thật kỳ lạ, trọng đại; cho nhân loại ơn cứu rỗi; và thời viên mãn đã khởi đầu.

Theo như tường thuật của thánh Luca thì hai chị em rất ăn ý và cùng chung tin cậy vào chương trình của Thiên Chúa. Đức Maria ở lại nhà chị mình tới ba tháng, hàn huyên tâm sự rồi mới trở về nhà mình (1,56). Hai người chẳng hề ghen tỵ về địa vị ưu tiên. Ngược lại bà Elisabeth trước, rồi đến Đức Maria công bố ơn huệ của Đức Chúa nơi thân xác mình (1,46-55). Đức tin đã là nguyên lý hợp nhất giữa hai tâm hồn thánh thiện. Họ an ủi, khích lệ, giúp đỡ nhau. Quả là các mẫu gương hạnh phúc trong việc tuân theo thánh ý Chúa. Sử gia Luca liệt kê khá đầy đủ các mẫu đàn bà cộng tác với Thiên Chúa trong chương trình cứu độ: Các phụ nữ giúp đỡ Chúa Giêsu thi hành sứ mệnh của Ngài (8,1-3). Các bà lấy dầu thơm xức xác Chúa (23,56). Các bà báo tin cho Tông đồ Chúa đã sống lại (24,8). Chị em chẳng nên mặc cảm về đóng góp của giới mình. Có một điều chắc chắn là phụ nữ không hề phản bội Chúa Giêsu trong cuộc thương khó của Ngài. Ngược lại còn bênh vực như trường hợp vợ quan Philatô: “Lúc tổng trấn đang ngồi xử án thì bà vợ sai người đến nói với ông: ông đừng nhúng tay vào vụ xử án người công chính này, vì hôm nay, tôi chiêm bao thấy mình phải khổ nhiều vì ông ấy (Mt 27,19). Trực giác của các bà chính xác và tài tình.

Cho nên những người có lương tri tốt đều phải công nhận những đóng góp quý báu của phụ nữ vào cộng đoàn nói riêng và thế giới nói chung. Họ là một nửa nhân loại, công việc họ làm thường âm thầm, đòi hỏi nhiều hy sinh. Nhưng rất căn bản để nâng đỡ sự sống và hạnh phúc. Quý bà luống tuổi càng có công phúc nhiều hơn, tuy tuổi già sức yếu, mảnh mai về thân xác, yếu ớt về tinh thần, nhưng tấm lòng thì lại càng trải rộng. Họ là linh hồn, là cột trụ của nhiều giáo xứ, săn sóc người đau yếu, an ủi trẻ nhỏ dại, dạy dỗ thế hệ tương lai. Các chuyện cổ tích của quý cụ thì tuyệt vời, vừa hấp dẫn vừa khôn ngoan dí dỏm. Suốt đời con trẻ chẳng thể quên. Đó cũng là hạnh phúc của tuổi thơ. Trên bình diện đạo đức, chẳng ai dám phủ nhận phụ nữ là chiếc lò sản xuất các vị thánh. Vị thánh nào cũng phải thú nhận đời sống thiêng liêng của mình phần lớn là từ ảnh hưởng của mẹ, của bà. Cho nên thánh Louis 9 đã phải phát biểu: “Hạnh phúc cho những ai có một bà mẹ thánh thiện”. Thực thế, tôi có ấn tượng rất mạnh khi các bà mẹ mỉm cười nhìn tôi. Nó làm tiêu tan hết mọi lo âu và tinh thần yêu đời lại bừng sáng trong tâm hồn. Các bà dạy chúng ta đừng sợ chết và nhìn xem cuộc đời không quá khắt khe nghiêm nghị. Trong các bà luôn có chút bông đùa về sự sống. Ở Brooklyn, các bà thường nói: “Put up with boloney” (chấp nhận sống với nhảm nhí, tầm phào). Đó chẳng phải là ơn huệ của Thiên Chúa hay sao?

Trường hợp bà Elisabeth, bà vui mừng đón tiếp người em gái họ, tuổi còn trẻ, chưa tới đôi mươi mà đã mang thai! Bà quên cái nguy hiểm của một cô gái độc thân có mang? Bà hồ hởi đón tiếp em và bảo cái bào thai đó là Đức Chúa: “Bởi đâu tôi được Mẹ Đức Chúa đến viếng thăm”. Nhận thức thật lạ lùng, thế gian này chỉ có một không hai. Thánh Luca mô tả bà lúc ấy bằng ngôn từ dành riêng cho các ngôn sứ: “Và bà được tràn đầy Thánh Thần” (1,41). Ngay trong cảnh ngộ bối rối, sợ hãi đối với Maria, bà Elisabeth công bố niềm vui. Cho nên trong bà chúng ta nhớ đến tất cả các phụ nữ lớn tuổi đang an ủi các mẹ trẻ lầm lỡ, các thanh niên nghiện ngập, các cô gái bụi đời, các trẻ em đường phố, các thợ thất nghiệp, các gia đình khổ đau. Các bà chính là chỗ dựa của nhân loại trong những hoàn cảnh khốn cùng. Xin cho các bà luôn nâng đỡ đức tin của thế hệ tương lai, giải thích đúng Lời Chúa và lắng nghe chính xác Tin Mừng cứu độ, lúc này và mãi mãi. Amen.