THỜI ĐIỂM CHỮA BỆNH MẶC CẢM TRONG CHẤT MÁU VIỆT

Về hiện trạng mặc cảm thua kém của người mình, tìm cách đổ tội cho các thế lực xâu xé nước mình thì chỉ đúng một phần. Có bao giờ mình tự hỏi tại sao người mình thông minh như thế, ái quốc như thế, mà lại đi làm tay sai và tôn thờ các thứ chủ nghĩa đâu đâu, để rồi giết nhau tận tình cả gần một thế kỷ không nhỉ?

Xét cho đến cùng là vì căn bệnh mặc cảm đánh mất chủ đạo. Từ cái ngày truyền miệng câu chuyện bị Mã Viện trù yểm: Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt! Mình chẳng còn dám tin vào mình có cái gì chung đáng kể với nhau nữa, nên bất cứ hệ thống tư duy nào cũng có thể xâm nhập và tung hoành một cách dễ dàng, rồi lôi theo vào phía mình biết bao người sẵn sàng xả thân coi nhau như kẻ thù để phân thây, mổ bụng, uống máu nhau! Bây giờ nhìn lại mới thấy cái mặc cảm văn hoá đưa đến hậu quả khủng khiếp biết chừng nào! Chả lẽ cái trụ đồng của Việt tộc bị bẻ gẫy thật rồi sao? Và chả lẽ dòng Giao Chỉ đã mạt vận thật theo với lời yểm của Mã Viện rồi sao?

KHIÊU KHÍCH TỰ ÁI DÂN TỘC

Ðang thời "trật tự mới" (new order) kinh tế toàn cầu và truyền thông thần tốc không còn biên giới mà đi đề cao nét văn hóa Việt thì xem ra lạc lõng, và đôi khi biết đâu chỉ là một hình thức mặc cảm, ra như mình cũng phải có cái gì khác biệt để vuốt ve tự ái dân tộc, mặc dù từ thâm tâm chẳng mấy xác tín!?

Vì thực ra, đà tiến bộ của thế giới ngày nay đã như kết tinh của nhiều nền văn hóa, qua nhiều gạn lọc và góp sức. Nét văn hóa nào mạnh thì thâu hóa được nhiều và giầu thêm. Nét văn hóa nào không cải tiến cho hợp cảm quan thời đại thì bị đào thải liền. Những tiếng như “dân tộc” đôi khi chỉ là chiêu bài thúc đẩy để đánh đấm, để “bế quan tỏa cảng” làm tụt hậu, đôi khi bị bóp méo theo một ý đồ phe phái chủ thuyết hay tham vọng cá nhân và trở thành mất nghĩa. Như đề cao thuốc dân tộc là điều tốt, nhưng cũng có thể vì mặc cảm chưa đủ sức thăng tiến theo tiêu chuẩn khoa học thuốc Tây. Rồi cái gì đến từ phương Tây lại bị coi là ngoại lai, đôi khi chụp mũ là phản dân tộc. Ðang khi mình vẫn mặc sơ mi kiểu Tây, thích quần jean kiểu Mỹ, mê xe Toyota kiểu Nhật. Chả lẽ cứ phải cỡi trâu, để tóc búi tó, mới là yêu dân tộc, mới là đề cao nét văn hóa về nguồn, vì tổ tiên mình vốn cỡi trâu mà. Ðạo Phật, đạo Khổng, đạo Lão, đạo Chúa chả lẽ đều không phải là “dân tộc” vì đến từ Ấn độ, Trung Hoa và Do Thái sao? Hay đạo cứ phải quốc doanh thì mới phải là đạo của dân tộc? Vậy thì đạo nào là đạo của Tây, đạo nào là đạo của Ta; xe nào là xe Mỹ, xe Ấn, xe Tàu, xe Do Thái, xe nào là xe của dân tộc để chở sang bờ tâm linh?

BIẾT ÐÂU NÉT VĂN HÓA VIỆT

Rõ ràng là mỗi dân tộc đều mang những nét văn hóa đặc sắc riêng, phát khởi từ trong máu như một di sản, hãnh diện và tìm kiếm giá trị giầu có theo những chiều kích khác nhau. Dân Ðức, dân Nhật có máu hiếu thắng ta đây phải đè đẹp thiên hạ, nên tiến bộ vênh vang, mê làm quên ngủ quên ăn, miễn là phải hơn, phải thắng. Máu Ý thì trọng nghệ thuật nên xem ra thích ăn nhậu lè phè hưởng đời mà sản sinh những tác phẩm vượt bậc. Máu Mỹ dòng chính Hồng Mao Anglo-Saxon thì ưa thực dụng thu quén cho lợi tức gia tăng. Máu Tàu cũng rất thực tế buôn bán giỏi. Máu Ấn và Tây Tạng lại thích siêu thoát hơn bon chen vật chất v.v. Bên nào hơn, bên nào kém? Ðã đến lúc có thể dung hạp được cả đông tây làm nên nền văn hóa toàn cầu chưa?

Vậy còn máu Việt mang chất gì? Nhiều nhà xã hội và văn hóa Việt thường tìm cách chứng minh một điều: dân mình cũng ngon vì có gốc lớn, văn hóa mình cao tới bốn ngàn năm lẻ, người mình anh hùng yêu nước thắng được những thứ giặc vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại: giặc Mông Cổ, giặc nhà Thanh, giặc Tàu, giặc Tây, giặc Nhật, tiện thể thắng luôn cả giặc siêu cường Mỹ. Bây giờ nó thấy nước mình ngon lành, nó lại phải trở lại ve vãn đòi buôn bán với mình! Vậy là nước mình phải là đỉnh cao, là siêu đẳng, là nôi văn hóa, là điểm đến của thiên niên kỷ mới. Nước mình đẹp đẽ gấm vóc minh châu trời Ðông, cộng đồng Việt Nam hải ngoại chói chang thành tích, không hơn thiên hạ thì ít ra cũng phải bằng! Thôi thì các màn "động viên" được căng bảng đầy đường.

Nhưng phải định rõ nét nào là nét văn hóa căn tính của mình để mà tự tin thì lại là một vấn đề gai góc. Mỗi lần có buổi tụ họp người Việt thì thường có màn mặc áo thụng tế hương, lại thêm cái cổng tam quan cong cong lên một chút. Bọn trẻ nhìn vào chả thấy chi hấp dẫn. Các bà các cô thì phải mặc áo dài mới có dáng dấp Việt. Ai mặc đồ đầm thì ra như không bảo tồn nét văn hóa.

Ngay chuyện ăn mặc, mãi cho thời phong trào Duy Tân khoảng năm 1915-1920, đàn ông con trai có hạng ra đường còn đội nón chóp và mặc áo dài, chân đi giầy hàm ếch. Sau đó thanh niên mới cắt tóc ngắn và mặc áo dài với quần tây trắng, đi giầy tây đánh xi đen bóng rất thời trang. Còn chiếc áo dài phụ nữ dáng dấp ngày nay thì mãi tới năm 1935 mới được họa sĩ Lê Phổ cải tiến, sau đó là kiểu cách tân Le Mur của Nguyễn Cát Tường.

Chiếc áo Bà Ba với chiếc khăn rằn rất tiện dụng và dễ thương của miền Nam mình, cứ tưởng là nét đặc sắc riêng, không ngờ lại phát xuất từ Mã Lai. Sơn Nam trong “Văn Minh Miệt Vườn” đã kể công ông Trương Vĩnh Ký người Cái Mơn thông minh hiền lành được các cố đạo gửi đi du học ở Penang bên Mãi Lai. “Sự liên lạc giữa Cái Mơn và Mã Lai đem cho Miệt Vườn nhiều loại cây mới: măng cụt, bòn bon, chôm chôm. Poulo Penang, nơi ông Trương Vĩnh Ký du học có nhóm người Bà Ba lập rẫy mía. Bà Ba là người Mã Lai lai Trung Hoa (chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba.” (Nhà xuất bản Văn Hóa, trang 43)

Bây giờ nhìn kỹ hơn và so sánh thì thấy chiếc khăn rằn của người miền Nam lại giông giống chiếc khăn rằn mà người Ả Rập Hồi giáo vùng Trung Ðông quấn trên đầu. Thì ra lớp dân Bà Ba ở Mãi Lai đã nhận ảnh hưởng phong tục của Hồi giáo là tôn giáo khá thịnh hành ở đó.

Người mình vẫn tự hào về nôi sinh văn hóa trống đồng. Nhưng trên thực tế trống đồng đã bị chôn theo với trụ đồng khi Mã Viện muốn bẻ gẫy biểu tượng qui tụ của dân mình, chẳng còn thấy dấu vết gì mấy nơi phong tục hiện nay. Chẳng lẽ nét văn hóa lại chỉ như một nuối tiếc quá khứ kiểu người Ai Cập hãnh diện về các Kim Tự Tháp! Ðang khi người ta vẫn còn thấy tục dùng trống đồng như tiêu biểu quyền uy và giầu có làm lễ vật cưới hỏi bên một vài hòn đảo của Nam Dương, và tục múa nhảy chiêng trống cồng vẫn còn sinh động nơi những nhóm người Mường dân thiểu số vùng Hòa Bình và tây bắc Ninh Bình.

BẾ QUAN TỎA CẢNG NHÂN DANH VĂN HÓA

Trong thời gian vua Minh Trị bên Nhật biết thức thời đưa nước Nhật tới tiến bộ theo kịp nền văn minh mới, thì ở bên Việt Nam, vua Minh Mạng lại nhân danh văn hóa dân tộc mà ra lệnh “bế quan tỏa cảng” không muốn giao dịch với “bọn mọi rợ” Tây phương:

“Các người ấy làm mê hoặc lòng dân và bại hoại phong tục. Như thế chẳng phải là cái tai họa lớn cho nước ta sao? Vậy ta nên ngăn cấm điều bậy bạ ấy, để khiến dân ta quay về với chính đạo... Cấm mở cửa biển cho tàu bè bọn mọi rợ vào, chỉ trừ Cửa Hàn.” (trích sắc lệnh năm 1836)

Cấm giao dịch với Tây phương nhưng lại thần phục và lệ thuộc nhà Thanh bên Tàu một cách triệt để, về hầu hết mọi phương diện. Từ văn hóa, tôn giáo đến thi cử. Rập khuôn kiểu Mãn Thanh y nguyên từ cách xây cung điện đến các lăng tẩm. Hệ thống luật pháp và hành chánh như đặt tỉnh, quan lại, phẩm phục triều đình, áo thụng trong các nghi lễ trịnh trọng, cũng giống y như nhà Thanh. Thậm chí ra lệnh cho đàn bà phải mặc quần theo kiểu Tầu, chứ trước đó đâu phải vậy. Vua quan thì có quyền có nhiều thê thiếp mà vẫn được coi là thuần phong mỹ tục theo “chính đạo.”

Nhà Thanh đã dùng luật pháp cứng rắn để cai trị Hán tộc khi chiếm được trọn vẹn Trung Quốc, vì đó là hệ thống bảo vệ ngai vàng vững chãi nhất. Nước mình bước theo, nào ngờ nhà Thanh cũng đang trên đà rơi xuống vực thẳm mà vẫn tưởng mình là trung quốc đỉnh cao loài người.

Rập khuôn văn hóa và đường lối của nhà Thanh mà lại bảo là nét văn hóa dân tộc! Chính những chọn lựa sai lầm này đã làm cho nước Việt thụt lùi lại biết bao trước đà tiến hóa về khoa học và kỹ thuật của nhân loại vào đầu thế kỷ 19. Chứ ít ra biết ngoại giao khéo như Thái Lan thì cũng đâu đến nỗi.

Vua Gia Long rất có thiện cảm với người Tây phương. Có thể nói, nhà Nguyễn xây được cơ đồ cũng nhờ vào sự mở cửa liên hệ này. Thế nhưng tại sao sau khi vua Gia Long băng hà, thì vua Minh Mạng lại “phát hiện” ra tụi Tây là “quân mọi rợ,” để rồi đưa đến sụp đổ nhà Nguyễn và làm cho nước nhà phải cúi mặt thua thiệt như ngày nay?

Câu trả lời được tìm thấy phần nào nơi bức hình vẽ hoàng tử Cảnh được treo trang trọng trong phòng khách chính của Hội Thừa Sai ở Paris bây giờ. Dưới hình vẽ có hàng chữ đề: “Vị hoàng tử nối ngôi của Việt Nam, Nguyễn Cảnh, tám tuổi, vẽ ở Versailles. Sinh năm 1779 và qua đời năm 1801.”

Nhìn bức hình này, ai cũng nhớ lại việc vua Gia Long đã tín cẩn trao hoàng tử nối nghiệp mình cho giám mục Bá Ða Lộc đỡ đầu đưa sang Âu Châu, tạo nhiều thiện cảm liên hệ hỗ trợ rộng của nhiều nước, và có dịp chu du mà mở tầm mắt nhìn những tiến bộ của thế giới, để mai kia lên làm vua thì Việt Nam có cơ may phát triển. Khi lên ngôi, vua Gia Long đặt cả một số quan người Tây trong triều đình. Sách sử Trần Trọng Kim kể tên rõ ba ông quan Tây là Chaigneau, Vannier và Despiau. Chính vua Gia Long đưa và rước người Tây vào Việt Nam nhằm mở rộng phát triển mà, chứ sao một số người cứ mặc cảm cho rằng chơi với Tây là vọng ngoại, là làm cớ cho Tây dòm ngó chiếm nước mình. Như thế, nhà vua còn đi trước cả Minh Trị Thiên Hoàng bên Nhật nữa. Và như vậy thì Việt Nam mình bây giờ đâu đến nỗi!

Thế nhưng sự việc lại xẩy ra khác. Hoàng tử Cảnh đã chết non khi mới được 22 tuổi, kết thúc mà cũng khởi đầu cho một tấn bi kịch tranh chấp giữa hai khuynh hướng: phe bảo thủ nghiêng về ảnh hưởng Tàu, và phe mở cửa cầu tiến nghiêng về Tây phương. Các vị tướng lớn như Nguyễn Văn Thành tổng trấn Hà Nội và Lê Văn Duyệt tổng trấn Gia Ðịnh, thì bênh vực hoàng tử Cảnh mở tới liên hệ với Tây phương để mong phát triển. Ðang khi đó, phần lớn các quan trong triều theo óc thủ cựu ủng hộ hoàng tử Ðảm vì muốn giữ nề nếp có sẵn xem ra an toàn thể chế hơn.

Theo tàli liệu của Discovery, Vietnam, Insight Guide, trang 34, thì hoàng tử Cảnh đã chết vì bị đầu độc. Hoàng tử Ðảm lên ngôi, tức là vua Minh Mạng, đã bị áp lực đi theo hướng Tàu mà không mang tiếng vọng ngoại, ra tay đứt điểm mọi ảnh hưởng còn lại của hoàng tử Cảnh với khuynh hướng mở cửa về hướng Tây, san bằng mộ của Lê Văn Duyệt như một đòn hằn, tìm ra được những con dê tế thần nơi người theo đạo “ngoại lai”, và phóng tay bế quan tỏa cảng cho chắc ăn.

Thế là nhiều khi chỉ vì những tham sân si của một cá nhân, một dòng họ, một phe cánh, mà tạo ra những "chính nghĩa" kéo theo bao người vào vòng máu chảy làm hủy hoại tiềm năng và bẻ quặt hướng đi lịch sử của cả một đất nước.

NÉT VĂN HÓA VIỆT MÀ CHI!

Ðiều bi thảm là chuyện đóng cửa dựng bảng văn hóa mặc áo thụng vái nhau “ở nhà nhất mẹ nhì con” đã không chỉ xảy ra ở thời vua Minh Mạng, mà đã được lặp lại trong lịch sử dưới nhiều dạng thức khác nhau. Cũng nhân danh văn hóa và dân tộc cả đấy chứ. Nhưng nói thế không có nghĩa là lại tìm cách đổ tội và mình được phủi tay. Vì không có tâm thức hiếu thắng của dân Ðức thì không thể có một Hitler.

Vậy thì đâu mới thực sự là nét văn hóa của người mình?! Đâu là trụ đồng biểu tượng tụ điểm tinh thần? Ðó là câu hỏi hệ trọng một mất một còn, làm cho tụt hậu hay phát triển tiến bộ. Và một dân tộc chỉ có thể thâu hóa được tinh hoa thế giới khi tự tin vào một chủ đạo làm nền, làm cột trụ. Nếu không thì ngược lại sẽ bị "tẩu hỏa nhập ma" u mê đi rước các chủ thuyết về hành hạ nhau như đã từng thấy.

Trước hết, nét văn hóa không phải là một thứ đồ cổ cố thủ để khoe mẽ cho bớt tủi, càng không phải là cái con ma để dọa thiên hạ hay thúc đẩy đấm đá nhau, mà phải là một sinh lực khơi cho dòng nhựa chảy tới, mang chất thuyết phục tươi mát sinh hoa kết trái cho sắc dân mình.

Ðưa ra một thí dụ nhỏ: hầu như người Âu Mỹ nào cũng rất thích món chả giò của người Việt. Nhiều người nghiện luôn nước mắm chấm, bưng cả chén lên vừa húp chùm chụp vừa khen rối rít: ngon quá, tuyệt quá! Cả mấy “đấng nhô con” gốc Việt sinh bên Mỹ, thường “ngốn” McDonald và các thứ đồ ăn vặt bên Mỹ, nhưng vớ được chả giò thì khỏi dám chê luôn.

Ấy, nói về nét văn hóa như cái gì xa vời, xưa cũ, thì xem ra dễ bị đào thải lắm, vì nhiều khi chả ăn nhập gì với thực tại cả. Nhưng nếu quan niệm nét văn hóa như một bửu bối, như một cái gì hấp dẫn, tươi mát, ngon lành, ít ra được như món chả giò, thì con cháu chắc chắn sẽ vơ lấy, sẽ khuếch trương, sẽ nối tiếp dài dài. Và người Âu Mỹ thì cứ nhào tới thán phục, thưởng thức.

Võ Ðình trong tập bút ký "Sao Có Tiếng Sóng" đã thấy rõ ngay cả trong lãnh vực làm văn nghệ: “Ở đây không có chuyện “về nguồn” theo kiểu nhắc đi nhắc lại chuyện trống đồng với gươm đá, chuyện “4000 ngàn năm văn hiến có thừa” vv và vv... Ở đây là chuyện làm văn nghệ Việt Nam ở hải ngoại như một công trình đi tới. Và đi tới được cũng vì biết quay lui được. Quay lui để “ngâm mình trong dòng sông tuổi nhỏ”. “Tuổi nhỏ” đó đâu phải là quá khứ. Nó chính là một thực tại miên viễn vậy.”

“Thực tại đó không phải gì khác hơn là một thực tại tuy không có hình mà vẫn có màu sắc, không có dáng mà vẫn có âm thanh, không có thể mà vẫn có đường nét. Ðó là một cái gì cho chúng ta biết rằng có mà không thể tả ra được, biết rằng thật mà không thể nắm lấy được. Cái gì đó mà có mặt thì chúng ta thoải mái, xem như chuyện đương nhiên, mà nếu vắng mặt thì chúng ta thấy thiếu thốn, thèm khát, lo lắng, bất an. Thực tại đó, tôi xin gọi là Việt tính.” (trang 25)

Cái nét Việt tính không phải là một thứ đồ trang sức mầu mè nổ đôm đốp bề ngoài, rằng mình cũng phải có một cái gì khác người. Cũng vẫn ca tụng áo dài tha thướt khác với váy đầm, nhưng mà khổ nỗi thân mình bắt đầu phát triển gồ ghề ra bề ngang, thành thử bộ đầm ở mấy tiệm sang xem ra vẫn có giá hơn! Cũng phải mặc áo thụng tế hương, mà nếu làm không ra trò thì chỉ tổ cho bọn trẻ cười thôi chứ có tạo được tâm hướng bao nhiêu! Vậy thì văn hóa phải là cái nét mang được chất Việt, cái chất đã hình thành đúc nặn ra mình, trong xương thịt và mạch máu mình, tự nhiên làm mình thoải mái tươi tắn lại:

Muốn tắm mát thì lên ngọn sông Ðào

Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh.


Ông Edward Herriot nói đúng đấy: “Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả.”

THỬ KHẢO NGHIỆM CHẤT MÁU VIỆT

Cũng trong tập bút ký trên, Võ Ðình đã khảo nghiệm thật sâu sắc cái nét văn hóa tiềm ẩn trong mạch máu một cách rất chân thực: “Tôi đã lầm tưởng là tôi yêu quê hương và dân tộc tôi qua những danh lam thắng cảnh, qua những áng văn trác tuyệt, những điệu nhạc diễm kiều, những thiên sữ lẫm liệt... Thì ra tôi yêu dân tộc tôi ở chỗ dân tộc tôi nghèo nàn cơ cực. Xơ xác nhọc nhằn bao nhiêu thế kỷ mà quê hương tôi vẫn còn. Nghèo nàn cơ cực suốt tháng mà dân tộc tôi vẫn sống. Sự sống còn này, tôi tin tưởng, có khả năng vượt qua tất cả biến cố, hóa giải tất cả đổi thay. Và cười vào mặt những kẻ như tôi chỉ biết cầm cây cọ trong tay để ca ngợi quê hương dân tộc. Mà quê hương và dân tộc tôi thì cứ sống còn, bất cứ tôi còn đó hay tôi đã đi. Anh phu xe đạp xích lô, chị đàn bà vớt bèo, những người muôn năm cũ...” (trang 236)

Yêu quê hương dân tộc mà lại ở món cà bát dằm nước mắm tỏi do Doãn Quốc Sỹ đãi, ở những cọng rau dền chấm nước ruốc kho tôm ớt của một chị hàng xóm nhà nghèo tỏ tình thương mến ngày về thăm quê. Thì ra sức mạnh và niềm hãnh diện của dân mình nằm ở chỗ ẩn mật quá. Ðó là dòng lực tình. Qua bao oan nghiệt, nghèo khổ, đắng cay, đầy đọa, dân mình kiên trì nhất định bám vào dòng sinh lực này, phát nguyên từ Nguồn Tình Miên Viễn làm nên Ðạo Trời, mà cũng là căn bản của Ðạo Hiếu. Cành cây còn bám vào thân cây, vào gốc rễ, thì còn xanh tươi. Thân cây là ông bà, dòng tộc. Gốc rễ tận cùng phát khởi từ Trời, Nguồn Sức Sống, như ca dao là hơi thở của linh hồn Việt tộc vẫn luôn vang vọng:

Dù ai nói ngược nói xuôi

Ta đây cứ vững đạo Trời khăng khăng.


Ðây chính là chất nhiễm thể di truyền trong máu mỗi người Việt, qua bao ngàn năm, qua bao thế hệ, qua bao thăng trầm, kể cả những lúc bị vùi giập nhất. Chính là chất mầu dung hóa được mọi sự, biến chế được mọi đối nghịch như những dấu nhạc bổng trầm của một bài hát, như những tím xanh đỏ vàng làm nên cầu vồng rực rỡ cuộc đời, như những nhịp điệu vòng lượn của một khúc vũ như được diễn trên những nét nhà mái cong hài hòa nét vuông với nét tròn.

Con mắt thấy này chính là niềm tin của Việt tộc, được kết tụ nơi những truyện thiêng liêng nhất của Việt tộc như Hồng Bàng, Bánh Dầy Bánh Chưng, Trầu Cau, Giếng Việt, Tản Viên Sơn Thánh, Phù Ðổng Thiên Vương, Chử Ðồng Tử... và những bài ca dao mộc mạc trải dài minh triết hình thành tâm hồn Việt Nam qua bao đời.

ÐỐ AI QUÉT SẠCH LÁ RỪNG

Ðó là giọng hát được vang lên trong phim Ba Mùa, một phim khá nổi tiếng do hãng Mỹ thực hiện diễn tả nét đẹp văn hóa Việt, do một người Mỹ gốc Việt là Tony Bùi làm đạo diễn.

Bốn câu truyện trong phim đan dệt với nhau thật tài tình, được gắn lại bằng một chất keo mầu nhiệm qua bài ca dao như cái hồn ẩn mật của dân tộc làm nền:

Ðố ai biết lúa mấy cây

Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng.

Ðố ai quét sạch lá rừng

Ðể ta khuyên gió, gió đừng rung cây.


Bốn câu truyện với sáu bảy nhân vật đều là những cảnh rung cây, như bốn truyện điển hình của cuộc đời Việt nam trong suốt một thế kỷ qua, trong suốt dọc dài lịch sử bi đát của dân mình. Cây cứ bị gió rung hoài, lá cứ rụng mà chẳng ai còn đủ sức quét sạch được lá rừng!

Ông Ðào vốn là một nhà thơ có hồn, đẹp trai, nhà giầu. Vậy mà lại bị bệnh phong cùi phải ẩn tránh mọi người, sống đóng kín thầm lặng trong ngôi nhà ngói giữa một hồ sen lớn. Ông cho thuê nhiều nhân công hái hoa sen đưa lên Sài Gòn bán, trong đó có một cô gái nhà quê rất chơn chất mộc mạc tên là Kiến An. Cô gái quê này có nước da ngăm ngăm, thường mặc áo bà ba với dáng vẻ nghèo túng. Cô lam lũ vất vả như những người đàn bà khác cùng hái sen trong hồ để kiếm sống. Nhưng nét hồn nhiên qua đôi mắt trong sáng diễn tả một tâm hồn thật dễ thương như một đóa sen, cũng là nét đẹp và giầu có của trái tim Việt Nam nhẫn nhục giữa bùn lầy qua bao thời đại. Trong những cần cù mồ hôi nhễ nhãi, bài hát ca dao khác lại vang lên:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.

Nhị vàng bông trắng lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.


Cây đời ông Ðào bị rung quá mạnh phải quị xuống, ngón tay ông bị rụng dần không còn viết thơ được nữa. Vậy mà bỗng một ngày ông thấy yêu đời, cánh thơ mọc lại cho ông vượt ra khỏi bốn bức tường giam hãm mà thênh thang bay lên cõi trời cao, nhờ nghe được giọng hát ca dao của Kiến An từ hồ sen vẳng vào. Thì ra độ rung cây đã bắt gặp được độ rung tim, một thứ tình thương tinh ròng mở cánh sen tỏa hương nhè nhẹ ít gặp được trong xã hội này, với một niềm cảm thông sâu thẳm vượt qua ngôn ngữ. Chất ca dao qua giọng hát Kiến An được mẹ thổi vào hồn, chuyển vào mạch máu qua tiếng ru ngọt mềm từ lúc còn trong nôi, nay bỗng chạm tới độ rung mầu nhiệm cho chất thơ sống lại: mùa rung cây đã trở thành mùa rung tim, khiến cho nhà thơ mong ước được thả hoa sen xuống dòng sông làm đẹp dòng sông cuộc đời.

Cũng một thứ hoa sen và giọng hát ca dao đó, anh chàng Hải đạp xích lô đã mang được trong tim mình. Anh có thể là một nhà giáo lỡ thời phải làm cái nghề kỳ dị này trong một thành phố ngột ngạt chen sống. Lúc ngồi chờ khách thì anh đọc sách. Suốt ngày phải dầm mưa giãi nắng, anh đúng là hiện thân của hai mùa nóng cháy khô và mùa mưa sũng nước. Cây đời anh cũng bị rung mạnh lắm. Vậy mà tim anh có chất hương sen, đi đeo đuổi một bông hoa dại mọc ven đường là cô gái ăn sương vấy bùn tên Lan với loại tình yêu cũng rất khác lạ: loại tình yêu hoa sen với bông trắng nhị vàng. Thứ tình này đã khiến cho cây Lan đang độ rung bật gốc tìm lại dáng nét tình hoa phượng nở hồi còn làm nữ sinh áo trắng thơ ngây.

Trong lúc lam lũ đạp xích lô, Hải thường bắt gặp một anh chàng người Mỹ ngồi thơ thẩn trước khách sạn như tìm kiếm một điều gì. Thì ra anh ta trước đây đã từng là lính GI ở Việt Nam, nay trở lại tìm đứa con gái lai bị bỏ rơi lại. Mãi rồi anh ta cũng tìm thấy. Anh ta mua một bó hoa sen của Kiến An đưa tặng cho đứa con gái với lời tạ tội. Tim anh ta cũng mang được chất tình hoa sen còn biết rung động.

Chen giữa những câu truyện gắn bó với nhau là hình ảnh một đứa bé thường lầm lũi lội dưới mưa. Nó có tên trong phim là Woody, có thể vì tên nó là Mộc, cũng là một loại cây dại mọc bên đường, là đứa con bất hạnh tượng trưng của cả một dân tộc. Nó tội tình gì mà bị xã hội vất ra ngoài đường, sống nghèo khổ với cái thùng đồ bán diêm quẹt và xâu móc chìa khóa? Vậy mà nó vẫn sống hồn nhiên với cặp mắt thật sáng, vẫn ham mê giấc mộng bình thường thả con thuyền giấy trên dòng nước mưa.

TIẾNG HÁT TỰ LÒNG ÐẤT

Truyện “Người Ðàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến” của Doãn Quốc Sỹ ở chương bảy đã diễn tả được cái nét ẩn mật của tộc Việt, vẫn lầm lũi sống còn một cách an nhiên dù biết bao đọa đầy bầm dập.

Kha từ Hà Nội về quê giỗ mẹ, ngủ lại nhà chú thím, ban đêm chợt thức giấc nghe được tiếng sáo diều kêu u u như chung kết lại tất cả những mối sầu của tình quê kẻ còn cũng như người khuất, nghe được tiếng chày mau và đều giã gạo ban đêm của người nhà nghèo lối xóm; và nhịp theo tiếng chày đó, một giọng hát cất lên, giọng hát êm tưởng như theo gió từ xa... xa lắm vẳng lại.

“Bước xuống sân ngẩng nhìn trăng hạ tuần giữa cảnh vắng lặng của cảnh vật, Kha đứng lặng như bị chôn chân xuống đất vì chàng chợt nhớ rằng tiếng hát đó, cũng như tiếng sáo diều kia chàng đã được nghe từ lâu lắm, từ ngày chàng còn nhỏ xíu luôn luôn đòi mẹ ẵm lên lòng. Rồi từ đấy vì được nghe luôn nên chàng không hề lưu ý tới những âm thanh và âm điệu đó, cho đến nay bặt một thời gian sáu bảy năm xa cách, tiếng hát đột nhiên xuất hiện vào giờ này để tự tô đậm nét trường cửu của nó. Tiếng hát giọng đò đưa buồn buồn, chơi vơi, xa vắng. Lời không rõ nhưng cảm giác thì như vậy. Tự như thuở nào đến giờ cứ vào giờ thanh vắng đó là tiếng hát nổi lên, tiếng hát như thoát lên tự lòng đất, kể lể nỗi niềm để vừa xoa dịu vừa làm cho thấm thía thêm những sầu hận của những kẻ chợt thức giấc đón nghe nó... Hình như chàng mỉm cười vì trong cái vô cùng cô đơn ấy chàng thấy rõ chiến tranh tàn phá gây biết bao cảnh đổi đời, nhưng có một cái gì đó mà không gì tàn phá nổi là tiếng sáo diều và nhất là tiếng hát kia, Tiếng Hát Tự Lòng Ðất, tiếng hát sầu dằng dặc, nhưng là tiếng hát của bất tuyệt vỗ về an ủi sự sống làm cho sự sống càng phì nhiêu và bất tuyệt như nó.”

Ðúng vậy. Tiếng hát tự lòng đất cũng chính là giọng hát ca dao của Kiến An trên đầm sen. Nó quyện vào tim ông Ðào mang theo linh dược chữa lành. Nó chợt lay động hồn người xa xứ trong một buổi chiều chơi vơi. Cùng diễn tả một niềm tin, vọng lên từ linh hồn Việt tộc vẫn sinh tồn dai dẳng, vẫn lầm lì gan bướng nhất định ngẩng đầu lên. Nó có sức bật lên tia sáng trong những chao đảo mịt mù. Ðó cũng chính là tiếng hát từ trời cao, khi người mình cứ nhất định tin vào một an bài mầu nhiệm từ Trời vượt qua mọi tính toán và nỗ lực thế nhân, nhất định không phải là duy vật biện chứng rồi, như ca dao vẫn thường tuyên dương:

Non kia ai đắp nên cao

Sông kia ai bới ai đào mà sâu.


ĐI TÌM TRỤ ĐỒNG: BỘ KINH TIN VIỆT ĐẠO

Đạo Người phát khởi từ Đạo Trời. Đạo này nằm sẵn trong máu người Việt từ lâu trước khi đón nhận các tôn giáo khác như Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Thiên Chúa giáo... đến từ Ấn Độ, Trung Hoa, Do Thái...

Thế là các tôn giáo đều có mẫu số chung, điểm gặp gỡ chung nơi trái tim Việt Nam, để tụ lực góp phần tích cực làm nên tinh thần Việt tộc.

Đã đến lúc quá khẩn thiết phải hình thành cho bằng được Bộ Kinh Tin cho Việt Đạo làm điểm tụ tinh thần, làm mẫu số chung. Đó chính là trụ đồng mà Mã Viện không bao giờ bẻ gẫy nổi, vì đã được khắc ghi trong tim mỗi người Việt, đã được chôn sâu trong mạch máu dân mình. Đi tìm Trụ Đồng tức là tìm cách hình thành Bộ Kinh Thiêng Việt Tộc, được chứng minh bằng những khoa học tân kỳ nhất như Uyên Tâm Học, Huyền Thoại Học, Cơ cấu luận ngày nay... Và thể hiện thành một Ðạo Sống theo tinh thần Việt, gọi là Việt Ðạo, trở nên cục nam châm Việt làm mẫu số chung cho mọi tôn giáo, mọi khuynh huớng và có sức thâu hóa đưọc tinh hoa của nhân loại. Vì ngày nay nhiều chuyên viên về những ngành trên đã chứng minh:

“Bộ Truyện Thiêng của một dân tộc là Ðạo Sống của dân tộc đó, mà nếu mất đi thì bất cứ dân tộc nào cũng sẽ sụp đổ khủng khiếp, kể cả những dân tộc văn minh nhất.” (Karl Jung, Collected Works, trang 154)

“Mất bộ truyện thiêng là mất mạch nối vào nguồn tổ tiên, và không còn căn bản gì cho việc hình thành tiền đồ dân tộc. Dân tộc đó quả thực coi như đã mất.” (Wallace Cliff, Jung and Christianity, Crossroad, trang 60)

“Không có bộ truyện thiêng thì không thể thành một dân tộc được, và cũng không được gọi là có văn hóa hay văn minh gì được! Vì bộ truyện thiêng là những diễn tả tinh thần của dân tộc đó ở mức độ cao nhất, và là gia sản thiêng liêng nhất của một dân tộc.” (Laurens Van der Post, Patterns of Renewal, Pendel Hill, trang 9)


Lm. Trần Cao Tường, e-mail andytuong@cox.net

(tiếp theo lần tới: Thời Điểm Đi Tìm Giải Oan Trong Tâm Thức Việt)