TRUYỀN ÐẠO và VĂN HÓA

Nhiệm vụ Truyền Bá Ðức Tin, gắn liền với việc lãnh nhận Phép Bí Tích Rửa tội: Ai đã được Rửa tội, tuyên xưng Ðức Tin vào Chúa Cứu Thế, thì cũng có nghĩa vụ phải thông truyền Ðức Tin ấy cho tha nhân, như lời Chúa dạy:” Hãy đi rao giảng cho mọi dân tộờc, và hãy làm Phép Rửa cho họ: Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần..”( Matt.28:19). Khi ta nhận được một Tin Mừng, thì cũng muốn chia sẻ với người khác. Trong Thánh Lễ bế mạc “ Hội Ngộ Niềm Tin”, tại Roma, năm 2003, Ðức Hồng Y Crescenzio Sepe, Tổng Trưởng Bộ Rao Giảng Tin Mừng, đã giảng thuyết theo lời mời gọi của Ðức Thánh Cha: “RA KHƠI” (Duc in Altum)về nhiệm vụ Truyền Ðạo của các tín hữu Việt nam, ở hải ngoại cũng như tại quê nhà: “Hội Thánh Việt Nam Hải ngoại thân mến, ngày hôm nay Chúa đang mời gọi bạn hãy trở thành nhà Truyền Ðạo, thực hiện một cuộc hành trình kỳ thú trên những nẻo đường của thế giới, nơi bạn đang sinh sống”.. Sau Thánh Lễ, còn màn hoạt cảnh “Sai Ði”, do các thanh thiếu niên trình diễn.

Qua bài giảng thuyết của Ðức Hồng Y, và hoạt cảnh “Sai Ði”, người ta có cảm tưởng: đây là một luồng gió mới đang thổi tới, khai thông cho một hướng đi mới của Hội Thánh Công Giáo Việt Nam. Hiện nay, người tín hữu chú trọng đến việc “giữ Ðạo”, hơn là “truyền Ðạo”, khác với thời kỳ khai sáng Ðạo, dầu bị cấm cách, cầm tù, bị giết, nhưng các vị thừa sai, các linh mục, các tu sĩ, giáo dân vẫn xả thân, len lỏi vào các làng xóm để truyền Ðạo. Sự phân biệt hai ý niệm trên kia là cần thiết, để có thể nhận xét một cách chính xác về các sinh hoạt tôn giáo hiện nay của các Cộng Ðồng Công Giáo Việt, rải rắc khắp nơi. Dĩ nhiên, “giữ Ðạo” một cách nghiêm chỉnh, sốt sáng như: tham dự Thánh Lễ đông đảo, rước kiệu, sinh hoạt hội đoànànghĩa là sống Ðức Tin, làm chứng nhân giữa một thế giới bỏ Ðạo (de-christianized) như tại các nước Aạu-Mỹ tục hóa, đó cũng là một hình thức truyền Ðạo. Nhưng ở đây, chữ “truyền Ðạo” phải được hiểu một cách tích cực hơn, nghĩa là “sai đi” rao giảng Tin Mừng cho những ai chưa được nghe biết Sứ Ðiệp của Ðấng Cứu Thế. Trong trường hợp Cộng đồng Việt, trong cũng như ở ngoài nước, “truyền Ðạo” là đem Tin Mừng trực chỉ đến 80% người đồng hương, chẳng những chưa hiểu biết Chúa Cứu Thế là ai, mà còn thù ghét, hiểu lầm, xuyên tạc, nghi kị Ðạo Chúa. Ðây cũng là mối ưu tư của Tòa Thánh, vì Giáo Hội Việt nam, vẫn còn tuỳ thuộc Thánh Bộ Rao Giảng Tin Mừng, và theo các bản tường trình hằng năm của các địa phận, giáo xứ, thì các con số thống kê về người tân tòng chịu Phép Rửa tội còn quá khiêm tốn.

Bàn về vấn đề truyền Ðạo, cũng nên phân biệt hai khía cạnh khác nhau: “lòng nhiệt thành” muốn mở mang Nước Chúa và “phương cách” hợp thời, hợp hoàn cảnh để rao giảng Tin Mừng được hữu hiệu, đạt được nhiều kết quả. Ðối với nhiều tín hữu, lòng nhiệt thành, ý thức về nghĩa vụ truyền Ðạo rất cao, nhưng lại không biết phải “làm thế nào”, dùng phương thức nào để rao giảng Tin Mừng. Trong Thư Mục Vụ năm 2003 của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam, họp tại Bãi Dâu Vũng Tàu, từ 06-11, tháng 10, 2003( xin coi: DÐGD, số 25, tháng11/2003, trang 29-31), đã nêu lên hai phương thức mới, cụ thể để truyền Ðạo cho các đồng hương. Một là, Ðối Thoại, ” Thăm viếng thân hữu các thành viên tôn giáo bạn; trao đổi với người ngoài công giáo về một đề tài chung; hai là, “thiết lập ban truyền giáo cho mỗi giáo xứ, và “kết nghĩa”giữa một giáo xứ kì cựu với một giáo điểm xa xôi hẻo lánh; mỗi gia đình công giáo nên kết nghĩa với một gia đình ngoài công giáo..

Sau đây, Ðoạn I, xin giới thiệu một phương thức “đối thoại” với 80% đồng hương để đánh tan mọi nghi kị, hiểu lầm, và đem lại tình thân hữu, thông cảm. Ðây chính là phương cách tiếp cận, chia sẻ về các giá trị văn hóa chung của dân tộc. Ðoạn II, làm cách nào để truyển Ðạo cho giới trẻ, cho chính con cháu trong gia đình, để chúng bảo toàn Ðức Tin của tồ tiên, và tinh hoa văn hóa của dân tộc?

I. ÐỐI THOẠI TRÊN BÌNH DIỆN: GIÁ TRỊ VĂN HÓA

ÐẠO THIÊN CHÚA đã du nhập vào Việt nam gần 500 năm, nhưng trong một bối cảnh lịch sử rối ren, loạn lạc, Nam-Bắc phân tranh, thế lực thực dân ngoại lai đang bành trướng, nên đã gây ra nơi các giới đồng hương những mối nghi kị, hiểu lầm, đố kị, vẫn còn dai dẳng kéo dài cho đến ngày nay, khiến cho sự đại đoàn kết dân tộc gặp nhiều trở lực, quốc gia không thể phát triển mạnh được. Khuôn mặt thật của Ðạo Chúa đã bị một số con buôn của chủ nghĩa thực dân làm lem luốc, nên người ta không nhận ra được Tin Mừng của Chúa Cứu Thế. Do đó, cần phải giải gỡ những mối nghi kị, đánh tan những hiểu lầm, xuyên tạc, đồng thời trình bày một cách trung thực cốt tuỷ của Ðạo Thiên Chúa, một Ðạo Mến Chúa, Yêu Người. So sánh những điểm chính yếu của Ðạo với những nét tinh túy của văn hóa dân tộc, để tạo nên niềm thông cảm chung và tình tương thân tương kính. Ðây là những công tác văn hóa quan trọng hơn việc phô trương hiếu thắng(triumphalism) bề ngoài.

1. Tuy không chấp nhận một số quan điểm chính trị sai lầm của một vài cá nhân thừa sai ngoại quốc đã không theo đúng chỉ thị của Hội Thánh trong việc truyền Ðạo, nhưng các sự kiện lịch sử cận đại của Việt nam cũng cho thấy: Nguyên nhân chính khiến nước ta bị thực dân xâm chiếm là vì chính sách sai lầm về ngoại giao:”bế quan tỏa cảng”, vì dân nước loạn lạc, nghèo đói, vì quan lại tham nhũng, thủ cựu, quân ngũ yếu nhược, vũ khí thô sơà,chứ một vài thừa sai ngoại quốc sống chui rúc, len lỏi trong thôn dã, rừng núi, cho dù có làm “làm gián điệp”, “nối giáo cho giặc”, thì cũng không thể nào làm ta mất nước được!

2. Tục ngữ có câu: một con sâu làm rầu nồi canh. Ý nghĩa câu này dạy ta phải bảo toàn tình liên đới, và tiếng tốt cho đoàn thể. Nhưng nếu áp dụng cho cách lập luận “bao đồng”, “vơ đũa cả nắm”, từ một vài sự kiện lẻ tẻ rồi vội “tổng quát hóa”( generalization) thì vừa phản luận lý, vừa thiếu công bằng, gây hiểu lầm, tạo thành kiến, chia rẽ, như vẫn thường xẩy ra trong các cộng đồng. Trong quá khứ, nếu một vài cá nhân thừa sai ngoại quốc, vì quan điểm riêng về chính trị, đã cộng tác với thực dân, nhưng không vì thế mà có thể lý luận “bao quát” rằng Ðạo Chúa là “tả đạo”, là “bán nước”, là “móc mắt trẻ con”.. Ngày nay, trong các tiệm sách vẫn bày bán những sách báo xuyên tạc giáo thuyết của Ðạo Thiên Chúa, bôi nhọ các nhân sĩ công giáo như Cụ Sáu Trần Lục, nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ, nhà bác học Trương Vĩnh Ký. Một người không học, không thông hiểu giáo lý, tín điều, lễ nghi của một đạo giáo, lại tự tiện giải nghĩa theo ý nghĩ của mình, xuyên tạc niềm tin chân chính, gán cho các tín đồ những điều họ không bao giờ tin tưởng, rồi mạt sát, chế nhạo.. Ðây là vi phạm tự do tín ngưỡng, chà đạp nhân phẩm, lương tâm và gây chia rẽ, hận thù giữa các tôn giáo.

3. Cần minh chứng cho đồng hương biết: ngay từ khi mới du nhập vào Việt nam, Ðạo Thiên Chúa đã tìm cách HỘI NHẬP, hòa mình vào văn hóa dân tộc, một cách mạnh mẽ, và phong phú. Ngoài việc sáng tác ra “ờ quốc ngữ, chữ nước ta”, các nhà khảo cổ đã khám phá ra một kho tàng văn hóa rất quí giá về các tác phẩm Hán, Nôm và “quốc ngữ “, do các vị thừa sai và các văn nhân, thi sĩ công giáo sáng tác như: các Kinh, cung sách, vãn, tuồng, truyện, thi ca, tự điển.. Nhờ những tài liệu này còn để lại, người ta có thể hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục, văn học Việt nam vào các thế kỉ 17,18,19. Sự kiện văn hóa này minh chứng:Ðạo Thiên Chúa không phải Ðạo ngoại lai, nhưng ngay từ khi du nhập, đã tìm cách khai thác những giá trị, tinh hoa của văn hóa Việt Nam, để tô điểm cho niềm Tin mới.

4. Trong sách Phúc Âm dụ ngôn: “người đi gieo hột giống,” có thể áp dụng ý nghĩa vào phương cách truyền Ðạo. Muốn cho “Hột Giống Phúc Âm” nẩy mầm sinh hoa kết quả, thì cần phải gieo vào nền đất mầu mỡ, phì nhiêu. Ðó là kĩ thuật trồng tỉa, theo nghĩa bóng, chính là công tác Văn hóa(Culture). Ngày nay, nền văn hóa Aạu-Mỹ đang dần dần bỏ mất những giá trị truyền thống của văn minh Thiên Chúa giáo, để trở thành tục hóa, vô thần,” văn hóa của sự chết” : các thánh đường càng ngày càng thanh vắng, không người lui tới. Trong khi đó, các sinh hoạt tôn giáo của các Cộng Ðồng Công Giáo Việt Nam, tại ngoại quốc hay tại quê nhà vẫn sầm uất, sốt sáng, số tu sĩ nam nữ vẫn đông đảo. Lý do tại đâu? Theo thiển ý, một phần lớn là do nền văn hóa tâm linh của dân tộc Việt Nam. Nền văn hóa đó đã được dạy dỗ ngay từ trong gia đình, từ các lớp vỡ lòng cho đến cấp Ðại học, bằng các câu ca dao, tục ngữ, các áng thơ văn.. đều đề cao :Nhân, Nghĩa,Lễ, Trí, Tín. Ðặc biệt là niềm Tin Chung của dân tộc, dầu theo tôn giáo nào, mọi người đều tin ở một Vị Bề Trên, gọi là “Oạng Trời”, và “Ðạo Hiếu”, tức là Hồn Thiêng bất tử của Tổ Tiên.

5. Nhờ nền văn hóa tâm linh này, mọi người dân Việt dễ nói chuyện, chia sẻ, thông cảm với nhau hơn. Do đó, trong việc giới thiệu Ðạo Thiên Chúa với người đồng hương, điều kiện tiên quyết, thiết tưởng cần phải trao đổi với nhau về niềm Tin Chung, về giá trị tâm linh, đạo đức của văn hóa dân tộc. Khi đã có cảm tình với nhau rồi, mới có thể chia sẻ những điều giống, hay khác nhau, trong các Ðạo giáo. Ðiều đáng lo ngại là ngày nay giới thanh thiếu niên, sinh sống ở ngoại quốc hay ở quê nhà, đang bị ô nhiễm của “văn hóa Sự Chết”, vô thần, vô luân, không còn học biết những giá trị đạo đức của dân tộc nữa! Sau nhiều năm sinh sống ở ngoại quốc, giới tu sĩ trẻ gốc Việt, vì không được đào luyện về ngôn ngữ và văn học Việt nam, nhưng cũng không tìm cách tự học, nên gặp khó khăn trong việc lãnh đạo các Cộng Ðồng Việt Nam. Nhiều cơ hội học hành trong các trường danh tiếng, nhưng không sáng tác được những tác phẩm về thần học, triết học, viết bằng Việt ngữ, để giới thiệu Ðạo Thiên Chúa với đồng hương, không đóng góp được những công trình nghiên cứu để làm phong phú cho kho tàng văn hóa của tổ tiên. Bởi vậy, qua dư luận và báo chí, đa số đồng hương Việt nam vẫn còn xa lạ, hoặc không hiểu biết về cỗi nguồn của nền văn minh Âu-Mỹ là Ðạo Thiên Chúa. Ða số không hiểu biết ý nghĩa của Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) là gì. Tuy việc tham dự các nghi lễ bớt sầm uất, và phong trào tục hóa đang mạnh, nhưng không ai có thể phủ nhận được tinh thần Phúc Aạm đã ăn sâu vào các cơ chế chính trị, luật pháp và hiến pháp của các quốc gia Âu-Mỹ. Các tổ chức Bác Ái, các hội Từ Thiện, tổ chức An Sinh xã hội( Social Security, Trợ cấp “tiền già”, Học bổng..) đều bắt nguồn từ Tinh Thần Phúc Aạm, từ Ðạo Mến Chúa Yêu người. Bởi vậy, trách nhiệm giới thiệu Ðạo, truyền Ðạo cho người đồng hương, thật làợ ưu tiên hàng đầu, để giúp người Việt đánh tan những nghi kị quá khứ, hiểu biết giá trị nền tàng của các quốc gia bảo trợ, và tạo niềm thông cảm, đoàn kết, đem lại an vui, xây dựng tương lai.

Nói tóm lại, ngày nay Hội Thánh đã nhận thấy việc “Ðối Thoại”, chia sẻ Tin Mừng cho 80% đồng hương là khẩn thiết. Các tín hữu Việt nam, không được học hỏi về các đạo giáo khác, nên không biết cách so sánh, đối thoại, tìm hiểu những điều tốt, để tạo niềm thông cảm, tương thân tương kính. Hiện nay. nhiều cặp hôn nhân khác đạo, vì vợ ốchồng không hiểu biết giá trị trong mỗi đạo, nên đời sống gia đình xáo trộn, và gặp nhiều trở ngại trong việc dạy dỗ con cháu.

II. TRUYỀN ÐẠO CHO CON CHÁU : DẠY VIỆT NGỮ

Một nét đặc thù trong văn hóa Việt là: người dân Việt không sống cho hiện tại, mà cho tương lại:”tre già, măng mọc”, “con hơn cha là nhà có phúc”.. Trong cuộc tản cư vĩ đại năm 1975, nhiều gia đình khánh kiệt, nhiều phụ huynh đã mạo hiểm qua rừng vượt biển để đem con cháu đến bến bờ Tự Do, hầu chúng có cơ hội xây dựng sự nghiệp trong tương lai: Giữ vững niềm Tin, và bảo toàn tinh hoa của dân tộc. Mộng ước ấy có thành tựu hay không? Ðó là mấy suy tư sẽ được trình bày sau đây:

1. Sau gần 30 năm định cư tại các nước Aạu-Mỹ, người ta vẫn chưa có thể tiên đoán về tương lai của thế hệ con cháu sẽ ra sao? Hiện nay, rất nhiều câu hỏi tiếp tục đặt ra, gây âu lo thắc mắc, nhưng không có câu trả lời thỏa đáng. Chẳng hạn như: Có cần dạy con cháu Việt ngữ nữa hay không? Con cháu đã thật sự ‘Hội nhập” vào cơ cấu của xã hội đang sinh sống chưa? Hay là chúng mới chỉ có cơ hội học hành, đỗ đạt, để kiếm việc làm tốt, nhưng vẫn sống “bên lề” xã hội. Tỉ lệ lập gia đình với người khác chủng tộc là bao nhiêu? Mỗi người Việt đã làm bạn thân tình với người của các sắc tộc khác chưa? Tại sao người ta gọi là:Viêtnamese-American?( người Nhật, người Trung Hoa đã sinh sống hơn một trăm năm tại Mỹ, nhưng vẫn được phân biệt:”Japanese-American, Chinese-American) mà không chỉ nói “American”? Cộng Ðồng Công giáo được giáo quyền địa phương khuyến khích việc bảo tồn văn hóa dân tộc, được mở lớp dạy Việt ngữ, tại sao L.M.Việt nam lại làm Lễ bằng tiếng Anh? Nếu vậy, cho con cháu đi lễ Mỹ có hợp lý hơn không? Ðó là một ít câu vấn nạn chưa được các vị phụ huynh, các giới chức trong Cộng đồng ngồi lại bàn luận và đồng lòng với nhau để giải quyết ổn thỏa.

2. Nếu theo dõi tình trạng sinh hoạt về tôn giáo trong các Cộng đồng Công giáo tại hải ngoại, đặc biệt tại Hoa kỳ, người ta đã nhận thấy những biến chuyển như sau: Khi mới tới định cư, trong thời gian đầu từ 75-85, các trẻ em Việt còn hiểu tiếng Việt, còn vâng lời các bậc phụ huynh, nên rất chăm chỉ học hành, nhiều học sinh trung học đậu thủ khoa. Nhưng khi lên cấp Ðại học, các thanh thiếu niên bắt đầu a dua theo chúng bạn, thích sống “tự lập”, tự do, quên tiếng Việt, không còn nghe lời cha mẹ khuyên bảo nữa. Do đó, tỉ lệ tốt nghiệp ra trường hai năm, hay bốn năm Ðại Học, không cao lắm như cha mẹ mong ước. Nhiều băng đảng hoành hành trong các Cộng đồng, các vụ trốn học, trộm cắp thường xẩy ra. Tại sao các bậc phụ huynh không còn dạy được con cháu nữa? Một phần, vì lo làm ăn, kiếm tiền, nhưng phần lớn vì khác biệt văn hóa: con cháu không biết tiếng Việt, và nhà trường có đường lối giáo dục khác. Tình trạng tinh thần trong các Cộng đồng đang xuống dốc, thì tiếp đến làn sóng định cư, theo chương trình HO. Ðột nhiên, con số người giáo dân khắp nơi tăng lên gấp đôi, gấp ba. Có thể nói, chính lớp dân Việt mới tới định cư này đã cứu vãn tình trạng đang suy sút trong các giới đồng hương. Nhờ Ðức Tin đã được tôi luyện trong các năm tù đầy, gian khổ, nhờ nền văn hóa tâm linh, tinh thần đạo đức của dân tộc, nhờ kinh nghiệm bản thân về một xã hội bất công, nghèo đói, nhờ tình nghĩa gia đình gắn bó, nhất là vì con cháu còn thông thạo tiếng Việt, nên chúng vẫn còn biết nghe lời chỉ dẫn khôn ngoan của các bậc phụ huynh. Do đó, các sinh hoạt đạo đức các đoàn thể như thiếu nhi Thánh Thể, ca đoàn,.. hoạt động trở lại, sầm uất. Bởi vậy, có thể nói một cách không quá đáng: bao lâu còn đạo đức, còn tiếng nói của dân tộc, thì cộng đồng người Việt mới có thể tồn tại lâu bền được!

3. Ngày nay, nhiều phụ huynh, và giới lãnh đạo vẫn chưa nhận thấy tầm quan trọng của văn hóa, đặc biệt của Việt ngữ, đối với tương lai của cộng đồng. Người ta tốn công tốn của xây cất, trung tâm, thánh đường, nhưng nếu con cháu không biết tiếng Việt nữa, càng ngày càng mất Ðức Tin, và đạo đức truyền thống, thì những cơ sở đồ sộ kia dùng để cho ai, làm gì? Khi viết những dòng này, thì được tin ÐGM Hoàng văn Tiệm, đang thăm viếng Hoa Kỳ, đến chủ tế Lễ Kính Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam tại Houston, Texas. Trước đó, tại Washington, Ngài đã khuyên nhủ Cộng Ðồng Công Giáo, các vị hữu trách trong LÐCGVN, phải đặc biệt lưu tâm đến việc dạy Việt Ngữ cho trẻ em. Ðó là một khích lệ lớn lao, vì liên hệ đến sự tồn vong của các Cộng Ðồng. Tại sao Việt ngữ lại giữ vai trò quan trọng trong việc Truyền Ðạo như thế ? Có người vấn nạn: nếu chúng không nói, không hiểu tiếng Việt, thì dạy giáo lý bằng tiếng Mỹ, tiếng Pháp.., có sao đâu, làm sao chúng mất được đức Tin ? Dĩ nhiên, người ta có thể học giỏi các thứ khoa học nhờ thông thạo các tiếng ngoại ngữ. Nhưng trong hoàn cảnh di cư ở một xã hội mà ngôn ngữ, tập quán phong tục khác với nơi bản quán, thì vấn đề “tiếng mẹ”, ở đây là tiếng Việt, giữ vai trò đặc biệt, như sẽ trình bày sau đây:

4. Bộ giáo luật qui định việc thành lập những “Giáo xứ tòng nhân”(personal parish) cho người di cư cùng nói một ngôn ngữ, và các giáo quyền địa phận nên khuyến khích việc cử hành Thánh Lễ bằng tiếng bản quốc.., chắc hẳn Tòa Thánh phải có những lý do chính đáng. Trước hết, trong hoàn cảnh di tản ra một miền đất xa lạ về mọi phương diện, thì chính gia đình ( gồm ông bà, cha mẹ, phụ huynh) giữ vai trò lãnh đạo, bảo vệ đời sống Ðức Tin, tinh thần, trí thức, vật chất, công ăn, việc làm để nuôi sống con cháu. Do đó, đời sống đạo đức, tôn giáo, học hành giáo dục phần lớn lệ thuộc vào trách nhiệm của các bậc trưởng thượng trong gia đình. Nếu cha mẹ, ông bà không hiểu con cháu nói gì, nếu con cháu không hiểu ông bà cha mẹ dạy gì, thì gia đình đó làm sao tồn tại được? Bởi vậy, ngôn ngữ chẳng những đóng vai trò “truyền thông” để mọi người hiểu nhau, nhưng hơn thế nữa, còn giữ nhiệm vụ “truyền cảm “nữa. Y khoa ngày nay cho thấy trên màn ảnh truyền hình: một thai nhi đủ mắt, mũi, tai, miệng, đã lộ nét mặt tươi cười, khi nghe mẹ nó cười, và tỏ ra sợ hãi, khi nghe mẹ nó giận dữ. Ngay từ trong lòng mẹ, đứa trẻ đã quen thuộc với tiếng nói của mẹ nó, vì thế gọi là “Tiếng mẹ(đẻ). Cho đến khi ra chào đời, khi đau, khi đói, khi khóc, khi buồn ngủ.. nhờ tiếng mẹ ru êm đềm, vỗ về, đem lại tình cảm trìu mến. Nó đang lớn lên về tinh thần, thể xác, sống an vui với những người thân yêu cho đến khi vô vườn trẻ. Bỗng nhiên, vì bạn bè trong môi trường mới, vì sự chểng mảng của phụ huynh, nên sau một thời gian, chúng trở thành “kẻ xa lạ”, “ngoại nhân” giữa những người ruột thịt. Chúng không hiểu tiếng nói, đồng thời tình cảm cũng mất dần, tệ hơn nữa, chúng còn tỏ ra bực tức khi nghe một thứ tiếng lạ mà chúng không hiểu. Trong hoàn cảnh éo le như thế, làm sao ông bà, cha mẹ còn dạy bảo, khuyên nhủ con cháu về đức Tin, về giá trị văn hóa của dân tộc được? Ngày nay, nhiều giới trẻ gốc Việt, vì chúng không biết tiếng Việt, nên không thể giao thiệp, làm ăn buôn bán, tìm khách hàng với người đồng hương. Vì chưa hội nhập hoàn toàn vào cơ cấu xã hội mới, nên chúng cũng gặp trở ngại khi kiếm bạn trăm năm. Lấy người khác chủng tộc thì bị kì thị, bị đôi bên nội-ngoại chê bai, nên chúng sống lạc lõng, cô đơn, thiếu bạn bè, quen thuộc.

Ðể tạm kết luận, xin nêu ra một thành công và kinh nghiệm của một số phụ huynh về vấn đề dạy con cháu tiếp tục trau giồi tiếng Việt, tại ngoại quốc. Con cháu đến trường 6 tiếng một ngày, lại còn trò truyện với bạn bè, anh chị em.. Do đó, không thể sợ chúng kém tiếng ngoại quốc(Anh-Pháp..) đến nỗi chúng không thể học thành tài hay đậu đạt được. Muốn cho con cháu giỏi tiếng Việt, điều kiện tiên quyết, là chính cha mẹ, phụ huynh cần phải cam kết với nhau: Không bao giờ, nói, trả lời con cháu bằng tiếng ngoại quốc. Tập nói tiếng ngoại quốc với con cháu, pha phôi “giọng Hà-nam-ninh, Bình ốtrị-thiênà., là làm “hư” thứ tiếng chúng cần tinh luyện để kiếm việc làm, và còn làm cớ cho chúng “lười” tập nói tiếng Việt. Theo kinh nghiệm của một số phụ huynh: vợ-chồng chỉ cần cam kết luôn nói tiếng Việt với con cháu, để chúng giữ được “năm dấu”, với cách đặt câu xuôi theo cú pháp Việt ngữ và cuối tuần cố gắng chở chúng đến các trung tâm dạy, Giáo lý, Việt ngữ, thì trong một thời gian ngắn, cả nhà sẽ gặt hái được những kết quả thật lớn lao: chúng không cần đến trường học mà vẫn thông thạo ngôn ngữ, văn hóa của Tổ Tiên để lại, và Tình Nghĩa gia tộc vẫn còn gắn bó khăng khít lâu bền.

Kỷ Niệm Lễ chư Thánh Tử Ðạo Việt Nam, 11/ 24/2003

Lm. Joseph Kỷ