Chúa nhật 2C Mùa Vọng
Lc 3,1-6
Thưa quý vị,
Tuần này bài đọc Tin Mừng có đoạn mở đầu hơi khác thường. Theo thói quen Tin Mừng thường khởi sự bằng một câu gần như công thức: Vào lúc ấy, trong những ngày ấy, vào một ngày thứ bảy, sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần,… hoặc giả nếu bài Phúc Âm là một dụ ngôn hay chuyện kể thì thường không có thời gian hoặc nơi chốn: “Chúa Giêsu nói với đám đông, Chúa Giêsu kể dụ ngôn này cho dân chúng…”
Hôm nay thì hoàn toàn khác hẳn. Một nửa bài Tin Mừng là về ngày tháng, nơi chốn và các nhân vật lịch sử, về quyền bính đạo đời. “Năm thứ 10 triều đại hoàng đế Tiberio, thời Pontio Philatô làm tổng trấn miền Giuđêa, Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê… Thánh Luca là một sử gia nghiêm chỉnh, ông viết có lương tâm trách nhiệm nên không thể đặt bút bừa bãi. Khi chọn viết những dòng này hẳn ông có chủ đích trong đầu. Những chi tiết gợi ý rằng sứ điệp Đức Chúa Trời ban cho nhân loại được tỏ lộ trong hoàn cảnh rất cụ thể, thời gian và nơi chốn rõ ràng, không vô định như người ta lầm tưởng. Nói cách khác, Thiên Chúa hành động trong lịch sử nhân loại bằng các đường lối đặc trưng, dễ nhận ra, trong ngày nào đó, tại địa điểm nhất định. Điều này khiến chúng ta coi lại các biến cố, thực tại trong đời mình. Biết bao lần Thiên Chúa đã ngỏ lời với linh hồn, nhưng vì bận rộn công việc, nên nhiều khi chúng ta bỏ qua, không lưu tâm nhận ra. Ngài ban lời cho chúng ta qua những biến cố bình thừơng như công ăn việc làm, giải trí, hoạt động xã hội… Chúng ta nên lắng nghe và nhận ra sứ điệp của Chúa Thánh Thần để thăng tiến đời sống thiêng liêng của mình.
Tuy nhiên, đôi khi trong dòng lịch sử, Ngài cũng mặc khải ý muốn bằng các đường lối hoàn toàn mới lạ, không ngờ trước được. Một ý nghĩa nào đó bài Tin Mừng hôm nay là một thí dụ điển hình. Trong khi quyền bính đạo đời hành xử bình thường tại đất Palestine thì Thiên Chúa bước vào xã hội Do Thái, thay đổi hẳn cục diện nhân loại, mang vào thế giới một lối sống hoàn toàn mới, thăng tiến số phận mỗi người lên một đỉnh cao chưa từng thấy, trả lại cho con người địa vị và phẩm giá nguyên thuỷ mà tội lỗi đã xoá bỏ. Ai ngờ được chuyện đó? Thiên Chúa đã ban lời của Ngài cho Gioan trong hoang địa và lời đó loan truyền cho người khác, đến tận chúng ta hôm nay. Xin nhắc lại là Lời hằng sống được ban cho loài người trong nơi hoang vắng, và được Gioan lãnh nhận đầy đủ. Đây là bài học cho mỗi linh hồn chúng ta, cần những giây phút tĩnh mịch để lắng nghe và suy tư Lời Chúa. Những hoạt động náo nhiệt, những chương trình tham lam thường phân tán trí khôn, làm cản trở ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta cần xét lại. Quang cảnh và bầu khí đôi khi rất cần thiết cho việc thăng tiến tâm linh. Điều này không đòi hỏi nhiều thời gian và công thức. Tôi biết có một công nhân đưa thư. Trên đường đi làm việc bổn phận, bao giờ ông cũng ghé qua nhà thờ 5 phút. Ngày nào cũng vậy. Tôi hỏi, ông trả lời: “Năm phút ấy là quý báu trong ngày hoạt động của tôi. Tôi yêu thích yên tĩnh, nó làm cho thần kinh thư giãn. Cuộc sống của tôi quá bận rộn, nhất là trong mùa cuối năm này.” Nhân viên đưa thư làm đúng tinh thần mùa vọng. Ông lắng đọng tâm hồn để đón nghe Lời Thiên Chúa. Còn bạn thì sao? Lời Chúa đến với…..trong hoang địa. Điền tên bạn vào chỗ trống của câu trên. Thiên Chúa chẳng giới hạn Lời Ngài cho số nhỏ ưu tuyển (élites), nhưng cho bất cứ những ai có lòng đơn sơ thành thật. Vào thời Chúa Giêsu, trong dân Do Thái nhiều người nổi danh như Caipha, Hanna, Lisania, Philipphê, Hêrôđê, Philatô, Tiberius Cesare. Tuy nhiên Lời Chúa lại đến với nhà giảng thuyết vô danh Gioan Tẩy Giả. Ai dám nói việc Ngài làm là vô lý?
Hoang địa có một vị trí đặc biệt trong Thánh Kinh. Đối với lịch sử dân Do Thái, nó còn có nghĩa đặc biệt hơn. Nó là con đường ra khỏi kiếp sống nô lệ Ai Cập. Trong hoang địa Thiên Chúa nói với tuyển dân, mặc khải tên Ngài cho họ, dẫn đưa họ từng ngày đi về đất hứa. Đồng lao cộng khổ với họ trong sa mạc nóng cháy, khô cằn. Nhờ những kinh nghiệm hoang địa, họ học biết đợi chờ Chúa đến. Đến để làm tròn lời Ngài hứa cùng các tổ phụ. Những người Israel ngoan đạo thời Gioan Tẩy Giả biết rõ những điều đó và cố gắng sống am hợp với giáo lý của tổ tiên. Trường hợp của ông bà Dacaria, Đức Maria là những ví dụ cụ thể, mùa vọng của Hội Thánh ngày nay cũng dõi theo tinh thần đó: trông đợi và khát khao Chúa ngự đến. Làm khác đi là phản bội tổ tiên trong đức tin.
Thánh Gioan giữ vai trò nổi bật trong cả bốn Âm, đặc biệt trong Tin Mừng của Thánh Luca. Ông đã tỉ mỉ thuật lại biến cố truyền tin thụ thai của Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu. Ông đã ghi lại thời niên thiếu của hai vị cách rõ ràng, chi tiết. Phúc Âm hôm nay ông cho biết Gioan nghe tiếng Chúa trong sa mạc và đã đi rao giảng khắp miền sông Giođan. Giođan lại là địa danh khác quan trọng trong đời sống tôn giáo của tuyển dân Do Thái. Sau khi thoát khỏi Ai Cập, họ bỏ lại kiếp sống nô lệ ở phía sau, tuyển dân lang thang bốn chục năm trong sa mạc, họ vượt sông Giođan và vào Đất Hứa. Họ hoàn toàn thoát khỏi kiếp sống nhọc nhằn, bước vào đời tự do, tự chủ, một nếp sống mới chưa từng được biết. Đây là hình bóng của người Kitô hữu qua biến cố thanh tẩy. Nước sông Giođan là hình bóng của nước rửa tội hôm nay. Chẳng hiểu bao nhiêu giáo dân ý thức được như vậy? Nước rửa tội không chỉ là chất liệu của nghi thức. Nó dẫn đưa linh hồn vào lối sống mới, vô tội và tràn đầy ơn thánh. Nó tưới gội tín hữu suốt cuộc đời tự do và hồng ân, cho đến giây phút cuối cùng. Hạnh phúc biết bao cho những ai trung thành với Chúa! Nó cứu thoát chúng ta khỏi kiếp nô lệ tủi hổ, đồng hành qua sa mạc trần gian, nâng đỡ trong những lúc gian truân, khích lệ khi chán nản lạc đường, sai lối. Mùa vọng chính là thời gian suy nghĩ lại ý nghĩa của bí tích rửa tội. Chúng ta cần ơn trợ giúp để sửa chữa ý hướng đời mình. Nếu nó quanh co gồ ghề thì phải uốn cho thẳng. Nếu nó là núi đồi, gò nổng thì cần bạt xuống. Nếu nó là thung lũng, hố sâu thì cần lấp cho đầy. Giáo Hội hằng kêu gọi, nhưng hình như rất ít kẻ để tâm thực hiện, kể cả tu sĩ, giáo sĩ.
Thực ra, thay đổi nếp sống mới là đề tài của chúa nhật 2 mùa vọng. Chúng ta hãy lắng nghe tiên tri Baruk nói: “Giêrusalem, hãy cởi bỏ áo tang khổ nhục và mặc lấy áo vinh quang vĩnh cửu Thiên Chúa ban cho ngươi. Hãy khoác vào mình áo choàng công chính của Thiên Chúa và đội trên đầu triều thiên hiển vinh Đấng Vĩnh Hằng ban tặng.” Hơn nữa vị tiên tri còn loan báo cho Giêrusalem một tên mới: “Mãi mãi Thiên Chúa sẽ gọi ngươi là bình an xây dựng trên công chính, và vinh quang phát xuất từ lòng kính sợ Thiên Chúa rồi tiên tri tiếp tục kể ra tới bốn ân phúc khác Thiên Chúa sẽ ban cho xứ sở: “Kìa xem con cái ngươi từ đông sang tây tụ họp về theo lệnh Đấng Thánh đã truyền dạy (C5). Họ trở về như một ông hoàng, được đón tiếp sang trọng. Xưa chúng bị quân thù áp giải, phải rời ngươi không xe không ngựa. Nay Chúa lại đưa chúng trở về với ngươi, được kiệu đi vinh quang rực rỡ, khác chi một ngai vàng (C6). Các núi đồi bạt xuống, thung lũng lấp cho đầy để Israel tiến bước an toàn (C7) trên đầu chúng rợp bóng rừng xanh và quế trầm đủ loại (C8). Ngoài ra họ còn được Thiên Chúa đồng hành che chở (C9). Như vậy những nhọc nhằn của kiếp lưu đày Babylon không phải là vô ích, chẳng qua đó chỉ là hình phạt vì tội bất trung. Khi đã biết ăn năn hối cải, dân Israel sẽ được đền bù và yêu thương. Phải chăng đây cũng là lời kêu gọi của Mùa Vọng năm nay? Chúng ta vật lộn để nghe tiếng Chúa và cố gắng tối đa để đáp trả. Lời của Baruk mở lòng mở trí tín hữu, ban cho chúng ta tràn đầy hy vọng, khi đã trở lại cùng Thiên Chúa. Chúng ta sẽ giống như dân tộc Do Thái được Ngài ấp ủ, thương yêu và dẫn bước đi trên con đường công minh chính trực: “Thiên Chúa sẽ đưa chúng về với ngươi… Ngài dẫn đầu Israel trong vui mừng… bằng ánh sáng vinh quang của Ngài”.
Xin nhớ nơi khác cũng trong Phúc Âm Luca, Gioan Tẩy Giả đã nặng lời khiển trách dân chúng đến với ông, gọi họ là nòi rắn độc (3,7) là giả hình, trốn tránh cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Hôm nay tiên tri Baruk kêu gọi chúng ta thay đổi cuộc sống, có lẽ chẳng ai muốn nghe. Gioan chẳng được rao giảng trong đền thờ hoặc ngoài đường phố Giêrusalem, ông phải thi hành sứ vụ của mình nơi hoang địa, bởi lẽ quyền bính đạo đời chẳng muốn nghe ông. Ông gây xáo trộn nếp sống an bình, phẳng lặng mà họ cố gắng lắm mới thiết lập được. Vậy thì phép rửa bằng lòng sám hối để được tha tội mà Giáo Hội theo gương thánh Gioan rao giảng cho chúng ta ngày nay, liệu có được mọi người chấp nhận? Nó luôn đòi hỏi hy sinh và thú nhận tội lỗi. Liệu xã hội văn minh này sẵn lòng nghe theo? Trong vụ kiện giáo sĩ lạm dụng tình dục vừa qua, có nạn nhân chỉ đòi bồi thường bằng lời xin lỗi thành thật mà cũng chẳng được! Thế thì lời giảng suông phỏng có ích chi?
Thánh Gioan Tiền Hô cho biết rằng Thiên Chúa sẽ can thiệp vào cuộc sống mỗi người: “Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa”. Tuy Mùa Vọng không có cùng giọng điệu nặng nề như Mùa Chay, tuy nhiên, mở lòng ra và ăn năn sám hối là điều thánh Gioan đòi hỏi bên bờ sông Giođan. Bí tích rửa tội cam kết ơn tha tội luôn luôn sẵn sàng cho mọi người, nhưng với điều kiện là thực tâm sám hối. Hơn nữa, Mùa Vọng nhắc nhớ Thiên Chúa sẵn sàng ban lời cho những ai mong đợi, ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc sống, như xưa Ngài đã ban cho thánh Gioan: “Có lời Thiên Chúa phán cùng ông Gioan, con ông Dacaria, trong hoang địa”. Thánh Luca cho biết rõ thời điểm và nơi chốn lời đó phán ra. Vậy thì ông cũng cho ta hay lúc này, nơi đây, trong giai đoạn này của ngày tháng, vị trí này của chúng ta, lời Thiên Chúa cũng đến với từng linh hồn. Xin hãy lắng nghe và đem ra thực hành, để được Ngài hướng dẫn sống trọn vẹn con đường còn lại. Giáo Hội Hoa Kỳ vừa bị vấp ngã cần lắng nghe lời Ngài để có thêm nghị lực, ngõ hầu nhanh chóng hàn gắn các vết thương. Chúng ta phải trở nên dấu chỉ rõ ràng cho thế giới về phương diện này.
Từ thời Thiên Chúa kêu gọi ông Gioan trong hoang địa tới nay, bối cảnh xã hội đã thay đổi nhiều. Nhưng về khía cạnh luân lý, tôn giáo thì không khác nhau lắm. Chúng ta cũng đang ở trong sa mạc. Mặc dù thành phố nhiều hơn, văn minh hơn, loài người đông đúc hơn. Nhưng như Karl Rahner nhận xét, con người càng sống cô đơn, ích kỷ hơn. Nỗi cô đơn cõi lòng này còn dễ sợ hơn hoang địa. Bởi lẽ nảy sinh nhiều loại thú dữ hơn. Thú dữ của lòng tham lam, cạnh tranh, vơ vét, hưởng lạc, áp bức, xâm lược, dâm đãng, xì ke, quỷ quyệt. Chúng ta trong lòng Hội Thánh phải biểu lộ cho thế gian một nếp sống khác. Nếp sống không có núi đồi kiêu ngạo, không có hố sâu chà đạp nhân phẩm, thung lũng vô tín, không đường quanh co đối xử, không bức từơng ngăn cách. Và như thánh Gioan Tiền Hô luôn khát khao mong đợi điều gì mới mẻ và lạ lùng làm biến đổi lòng người nên tốt. Chúng ta trong mùa vọng này cũng cầu xin Thiên Chúa thương mở to đôi mắt tâm linh để nhìn thấy những điều kỳ diệu Ngài hứa ban, lúc này và tại nơi đây trong đời sống mỗi người. Amen.
Lc 3,1-6
Thưa quý vị,
Tuần này bài đọc Tin Mừng có đoạn mở đầu hơi khác thường. Theo thói quen Tin Mừng thường khởi sự bằng một câu gần như công thức: Vào lúc ấy, trong những ngày ấy, vào một ngày thứ bảy, sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần,… hoặc giả nếu bài Phúc Âm là một dụ ngôn hay chuyện kể thì thường không có thời gian hoặc nơi chốn: “Chúa Giêsu nói với đám đông, Chúa Giêsu kể dụ ngôn này cho dân chúng…”
Hôm nay thì hoàn toàn khác hẳn. Một nửa bài Tin Mừng là về ngày tháng, nơi chốn và các nhân vật lịch sử, về quyền bính đạo đời. “Năm thứ 10 triều đại hoàng đế Tiberio, thời Pontio Philatô làm tổng trấn miền Giuđêa, Hêrôđê làm tiểu vương miền Galilê… Thánh Luca là một sử gia nghiêm chỉnh, ông viết có lương tâm trách nhiệm nên không thể đặt bút bừa bãi. Khi chọn viết những dòng này hẳn ông có chủ đích trong đầu. Những chi tiết gợi ý rằng sứ điệp Đức Chúa Trời ban cho nhân loại được tỏ lộ trong hoàn cảnh rất cụ thể, thời gian và nơi chốn rõ ràng, không vô định như người ta lầm tưởng. Nói cách khác, Thiên Chúa hành động trong lịch sử nhân loại bằng các đường lối đặc trưng, dễ nhận ra, trong ngày nào đó, tại địa điểm nhất định. Điều này khiến chúng ta coi lại các biến cố, thực tại trong đời mình. Biết bao lần Thiên Chúa đã ngỏ lời với linh hồn, nhưng vì bận rộn công việc, nên nhiều khi chúng ta bỏ qua, không lưu tâm nhận ra. Ngài ban lời cho chúng ta qua những biến cố bình thừơng như công ăn việc làm, giải trí, hoạt động xã hội… Chúng ta nên lắng nghe và nhận ra sứ điệp của Chúa Thánh Thần để thăng tiến đời sống thiêng liêng của mình.
Tuy nhiên, đôi khi trong dòng lịch sử, Ngài cũng mặc khải ý muốn bằng các đường lối hoàn toàn mới lạ, không ngờ trước được. Một ý nghĩa nào đó bài Tin Mừng hôm nay là một thí dụ điển hình. Trong khi quyền bính đạo đời hành xử bình thường tại đất Palestine thì Thiên Chúa bước vào xã hội Do Thái, thay đổi hẳn cục diện nhân loại, mang vào thế giới một lối sống hoàn toàn mới, thăng tiến số phận mỗi người lên một đỉnh cao chưa từng thấy, trả lại cho con người địa vị và phẩm giá nguyên thuỷ mà tội lỗi đã xoá bỏ. Ai ngờ được chuyện đó? Thiên Chúa đã ban lời của Ngài cho Gioan trong hoang địa và lời đó loan truyền cho người khác, đến tận chúng ta hôm nay. Xin nhắc lại là Lời hằng sống được ban cho loài người trong nơi hoang vắng, và được Gioan lãnh nhận đầy đủ. Đây là bài học cho mỗi linh hồn chúng ta, cần những giây phút tĩnh mịch để lắng nghe và suy tư Lời Chúa. Những hoạt động náo nhiệt, những chương trình tham lam thường phân tán trí khôn, làm cản trở ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta cần xét lại. Quang cảnh và bầu khí đôi khi rất cần thiết cho việc thăng tiến tâm linh. Điều này không đòi hỏi nhiều thời gian và công thức. Tôi biết có một công nhân đưa thư. Trên đường đi làm việc bổn phận, bao giờ ông cũng ghé qua nhà thờ 5 phút. Ngày nào cũng vậy. Tôi hỏi, ông trả lời: “Năm phút ấy là quý báu trong ngày hoạt động của tôi. Tôi yêu thích yên tĩnh, nó làm cho thần kinh thư giãn. Cuộc sống của tôi quá bận rộn, nhất là trong mùa cuối năm này.” Nhân viên đưa thư làm đúng tinh thần mùa vọng. Ông lắng đọng tâm hồn để đón nghe Lời Thiên Chúa. Còn bạn thì sao? Lời Chúa đến với…..trong hoang địa. Điền tên bạn vào chỗ trống của câu trên. Thiên Chúa chẳng giới hạn Lời Ngài cho số nhỏ ưu tuyển (élites), nhưng cho bất cứ những ai có lòng đơn sơ thành thật. Vào thời Chúa Giêsu, trong dân Do Thái nhiều người nổi danh như Caipha, Hanna, Lisania, Philipphê, Hêrôđê, Philatô, Tiberius Cesare. Tuy nhiên Lời Chúa lại đến với nhà giảng thuyết vô danh Gioan Tẩy Giả. Ai dám nói việc Ngài làm là vô lý?
Hoang địa có một vị trí đặc biệt trong Thánh Kinh. Đối với lịch sử dân Do Thái, nó còn có nghĩa đặc biệt hơn. Nó là con đường ra khỏi kiếp sống nô lệ Ai Cập. Trong hoang địa Thiên Chúa nói với tuyển dân, mặc khải tên Ngài cho họ, dẫn đưa họ từng ngày đi về đất hứa. Đồng lao cộng khổ với họ trong sa mạc nóng cháy, khô cằn. Nhờ những kinh nghiệm hoang địa, họ học biết đợi chờ Chúa đến. Đến để làm tròn lời Ngài hứa cùng các tổ phụ. Những người Israel ngoan đạo thời Gioan Tẩy Giả biết rõ những điều đó và cố gắng sống am hợp với giáo lý của tổ tiên. Trường hợp của ông bà Dacaria, Đức Maria là những ví dụ cụ thể, mùa vọng của Hội Thánh ngày nay cũng dõi theo tinh thần đó: trông đợi và khát khao Chúa ngự đến. Làm khác đi là phản bội tổ tiên trong đức tin.
Thánh Gioan giữ vai trò nổi bật trong cả bốn Âm, đặc biệt trong Tin Mừng của Thánh Luca. Ông đã tỉ mỉ thuật lại biến cố truyền tin thụ thai của Gioan Tẩy Giả và Chúa Giêsu. Ông đã ghi lại thời niên thiếu của hai vị cách rõ ràng, chi tiết. Phúc Âm hôm nay ông cho biết Gioan nghe tiếng Chúa trong sa mạc và đã đi rao giảng khắp miền sông Giođan. Giođan lại là địa danh khác quan trọng trong đời sống tôn giáo của tuyển dân Do Thái. Sau khi thoát khỏi Ai Cập, họ bỏ lại kiếp sống nô lệ ở phía sau, tuyển dân lang thang bốn chục năm trong sa mạc, họ vượt sông Giođan và vào Đất Hứa. Họ hoàn toàn thoát khỏi kiếp sống nhọc nhằn, bước vào đời tự do, tự chủ, một nếp sống mới chưa từng được biết. Đây là hình bóng của người Kitô hữu qua biến cố thanh tẩy. Nước sông Giođan là hình bóng của nước rửa tội hôm nay. Chẳng hiểu bao nhiêu giáo dân ý thức được như vậy? Nước rửa tội không chỉ là chất liệu của nghi thức. Nó dẫn đưa linh hồn vào lối sống mới, vô tội và tràn đầy ơn thánh. Nó tưới gội tín hữu suốt cuộc đời tự do và hồng ân, cho đến giây phút cuối cùng. Hạnh phúc biết bao cho những ai trung thành với Chúa! Nó cứu thoát chúng ta khỏi kiếp nô lệ tủi hổ, đồng hành qua sa mạc trần gian, nâng đỡ trong những lúc gian truân, khích lệ khi chán nản lạc đường, sai lối. Mùa vọng chính là thời gian suy nghĩ lại ý nghĩa của bí tích rửa tội. Chúng ta cần ơn trợ giúp để sửa chữa ý hướng đời mình. Nếu nó quanh co gồ ghề thì phải uốn cho thẳng. Nếu nó là núi đồi, gò nổng thì cần bạt xuống. Nếu nó là thung lũng, hố sâu thì cần lấp cho đầy. Giáo Hội hằng kêu gọi, nhưng hình như rất ít kẻ để tâm thực hiện, kể cả tu sĩ, giáo sĩ.
Thực ra, thay đổi nếp sống mới là đề tài của chúa nhật 2 mùa vọng. Chúng ta hãy lắng nghe tiên tri Baruk nói: “Giêrusalem, hãy cởi bỏ áo tang khổ nhục và mặc lấy áo vinh quang vĩnh cửu Thiên Chúa ban cho ngươi. Hãy khoác vào mình áo choàng công chính của Thiên Chúa và đội trên đầu triều thiên hiển vinh Đấng Vĩnh Hằng ban tặng.” Hơn nữa vị tiên tri còn loan báo cho Giêrusalem một tên mới: “Mãi mãi Thiên Chúa sẽ gọi ngươi là bình an xây dựng trên công chính, và vinh quang phát xuất từ lòng kính sợ Thiên Chúa rồi tiên tri tiếp tục kể ra tới bốn ân phúc khác Thiên Chúa sẽ ban cho xứ sở: “Kìa xem con cái ngươi từ đông sang tây tụ họp về theo lệnh Đấng Thánh đã truyền dạy (C5). Họ trở về như một ông hoàng, được đón tiếp sang trọng. Xưa chúng bị quân thù áp giải, phải rời ngươi không xe không ngựa. Nay Chúa lại đưa chúng trở về với ngươi, được kiệu đi vinh quang rực rỡ, khác chi một ngai vàng (C6). Các núi đồi bạt xuống, thung lũng lấp cho đầy để Israel tiến bước an toàn (C7) trên đầu chúng rợp bóng rừng xanh và quế trầm đủ loại (C8). Ngoài ra họ còn được Thiên Chúa đồng hành che chở (C9). Như vậy những nhọc nhằn của kiếp lưu đày Babylon không phải là vô ích, chẳng qua đó chỉ là hình phạt vì tội bất trung. Khi đã biết ăn năn hối cải, dân Israel sẽ được đền bù và yêu thương. Phải chăng đây cũng là lời kêu gọi của Mùa Vọng năm nay? Chúng ta vật lộn để nghe tiếng Chúa và cố gắng tối đa để đáp trả. Lời của Baruk mở lòng mở trí tín hữu, ban cho chúng ta tràn đầy hy vọng, khi đã trở lại cùng Thiên Chúa. Chúng ta sẽ giống như dân tộc Do Thái được Ngài ấp ủ, thương yêu và dẫn bước đi trên con đường công minh chính trực: “Thiên Chúa sẽ đưa chúng về với ngươi… Ngài dẫn đầu Israel trong vui mừng… bằng ánh sáng vinh quang của Ngài”.
Xin nhớ nơi khác cũng trong Phúc Âm Luca, Gioan Tẩy Giả đã nặng lời khiển trách dân chúng đến với ông, gọi họ là nòi rắn độc (3,7) là giả hình, trốn tránh cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Hôm nay tiên tri Baruk kêu gọi chúng ta thay đổi cuộc sống, có lẽ chẳng ai muốn nghe. Gioan chẳng được rao giảng trong đền thờ hoặc ngoài đường phố Giêrusalem, ông phải thi hành sứ vụ của mình nơi hoang địa, bởi lẽ quyền bính đạo đời chẳng muốn nghe ông. Ông gây xáo trộn nếp sống an bình, phẳng lặng mà họ cố gắng lắm mới thiết lập được. Vậy thì phép rửa bằng lòng sám hối để được tha tội mà Giáo Hội theo gương thánh Gioan rao giảng cho chúng ta ngày nay, liệu có được mọi người chấp nhận? Nó luôn đòi hỏi hy sinh và thú nhận tội lỗi. Liệu xã hội văn minh này sẵn lòng nghe theo? Trong vụ kiện giáo sĩ lạm dụng tình dục vừa qua, có nạn nhân chỉ đòi bồi thường bằng lời xin lỗi thành thật mà cũng chẳng được! Thế thì lời giảng suông phỏng có ích chi?
Thánh Gioan Tiền Hô cho biết rằng Thiên Chúa sẽ can thiệp vào cuộc sống mỗi người: “Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa”. Tuy Mùa Vọng không có cùng giọng điệu nặng nề như Mùa Chay, tuy nhiên, mở lòng ra và ăn năn sám hối là điều thánh Gioan đòi hỏi bên bờ sông Giođan. Bí tích rửa tội cam kết ơn tha tội luôn luôn sẵn sàng cho mọi người, nhưng với điều kiện là thực tâm sám hối. Hơn nữa, Mùa Vọng nhắc nhớ Thiên Chúa sẵn sàng ban lời cho những ai mong đợi, ở bất cứ giai đoạn nào trong cuộc sống, như xưa Ngài đã ban cho thánh Gioan: “Có lời Thiên Chúa phán cùng ông Gioan, con ông Dacaria, trong hoang địa”. Thánh Luca cho biết rõ thời điểm và nơi chốn lời đó phán ra. Vậy thì ông cũng cho ta hay lúc này, nơi đây, trong giai đoạn này của ngày tháng, vị trí này của chúng ta, lời Thiên Chúa cũng đến với từng linh hồn. Xin hãy lắng nghe và đem ra thực hành, để được Ngài hướng dẫn sống trọn vẹn con đường còn lại. Giáo Hội Hoa Kỳ vừa bị vấp ngã cần lắng nghe lời Ngài để có thêm nghị lực, ngõ hầu nhanh chóng hàn gắn các vết thương. Chúng ta phải trở nên dấu chỉ rõ ràng cho thế giới về phương diện này.
Từ thời Thiên Chúa kêu gọi ông Gioan trong hoang địa tới nay, bối cảnh xã hội đã thay đổi nhiều. Nhưng về khía cạnh luân lý, tôn giáo thì không khác nhau lắm. Chúng ta cũng đang ở trong sa mạc. Mặc dù thành phố nhiều hơn, văn minh hơn, loài người đông đúc hơn. Nhưng như Karl Rahner nhận xét, con người càng sống cô đơn, ích kỷ hơn. Nỗi cô đơn cõi lòng này còn dễ sợ hơn hoang địa. Bởi lẽ nảy sinh nhiều loại thú dữ hơn. Thú dữ của lòng tham lam, cạnh tranh, vơ vét, hưởng lạc, áp bức, xâm lược, dâm đãng, xì ke, quỷ quyệt. Chúng ta trong lòng Hội Thánh phải biểu lộ cho thế gian một nếp sống khác. Nếp sống không có núi đồi kiêu ngạo, không có hố sâu chà đạp nhân phẩm, thung lũng vô tín, không đường quanh co đối xử, không bức từơng ngăn cách. Và như thánh Gioan Tiền Hô luôn khát khao mong đợi điều gì mới mẻ và lạ lùng làm biến đổi lòng người nên tốt. Chúng ta trong mùa vọng này cũng cầu xin Thiên Chúa thương mở to đôi mắt tâm linh để nhìn thấy những điều kỳ diệu Ngài hứa ban, lúc này và tại nơi đây trong đời sống mỗi người. Amen.