ÐÀI Á CHÂU TỰ DO RFA PHỎNG VẤN LM. TRẦN CAO TƯỜNG
trong chương trình văn học nghệ thuật
RFA: Xin linh mục cho biết, cho tới giờ, linh mục đã hoàn tất bao nhiêu tác phẩm? Những tác phẩm của linh mục thể hiện sự hài hòa giữa đạo và đời, hay chỉ thuần về đạo, hoặc thuần về đời?
Lm. Trần Cao Tường: Trước năm 1989, tôi đã xuất bản 8 cuốn mang tính chất thuần về đạo và giáo dục tôn giáo. Nhưng sau đó, tức sau biến cố Hội Thánh Công giáo hoàn vũ tôn phong 117 Thánh Tử Ðạo Việt Nam, tôi bắt đầu chuyển hướng viết. Phong thánh là công nhận một mẫu sống đáp ứng thời đại. Tôi nghĩ, biến cố đã tạo nên niềm hãnh diện và hứng khởi không chỉ riêng cho người Công giáo mà còn chung cho cả dân Việt mình với thế giới nữa. Vì cả một lối sống theo tinh thần Việt hài hòa với đức tin Công giáo đã được thế giới đề cao và chính thức giới thiệu như một phương thức sống hạnh phúc đáp ứng thời điểm nhân loại chuyển mình vào ngàn năm mới, với đầy hy vọng về tiến bộ khoa học mà cũng đầy lo âu khắc khoải.
Niềm hãnh diện này cần phải được thể hiện, bộc phát thành những phong trào, và gợi hứng cho những sáng tác về văn, thơ, nhạc, và các ngành nghệ thuật mang căn cước Việt, góp phần Công giáo vào gia tài chung của Mẹ Việt Nam.
Chính vì thế tôi cũng muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào chiều hướng này bằng 2 tác phẩm là Về Nguồn Việt Ðạo và Ðường Nở Hoa Lê Thị Thành.
Cuốn Về Nguồn Việt Ðạo được triết gia Kim Ðịnh đề bạt, tìm nối kết hài hòa đức tin Công giáo với gia tài văn hóa Việt tộc.
Còn cuốn Ðường Nở Hoa Lê Thị Thành khai triển trực tiếp đường tu đức Việt, tức mẫu sống đức tin Công giáo theo tinh thần Việt, điển hình qua một người Mẹ Việt Nam, tức vị thánh nữ duy nhất của Hội Thánh Công giáo Việt Nam là thánh Lê Thị Thành, chứng nhân Tin Vui Ðạo Chúa như một người Việt trong truyền thống văn hóa Việt.
Từ năm 1996 tôi có dịp cộng tác với nhà văn Quyên Di trong chương trình Tin Vui Gửi Thời Ðại Mới phát thanh hằng tuần tại nhiều thành phố. Tin Vui từ sứ điệp Kinh Thánh của đạo Chúa được diễn tả trong tâm thức Việt. Mà đã là Tin Vui thì không giới hạn trong cửa nhà thờ, nhưng phải đi tới được cảm nghiệm đời thường, góp phần đáp ứng cơn khắc khoải của con người ngày nay, cách riêng của người dân Việt qua biết bao bầm dập nổi trôi. Nói khác hơn, mình cần cảm nghiệm được Tin Vui của Ðạo trong khung mạch đời thường và trong dòng sống của dân tộc mình.
Rồi những bài viết hằng tuần này đồng thời cũng được phóng lên mạng lưới điện toán. Nhiều người đã hưởng ứng và khuyến khích tôi gom lại in thành sách. Cuốn thứ nhất là Vũ Khúc Thăng Ca, cuốn thứ hai là Nhịp Múa Sông Thanh, cả hai đều nhằm góp phần chuyển diễn một nhịp sống mà con người sau những chạy mệt và đi mỏi đang cần vươn tới vào thời điểm 2000, trong cùng một điệu vũ từ tâm thức Việt, như cánh chim vút bay về núi và rồng thiêng chuyển lực dưới sông. Và mới đây, cuốn Khúc Sáo Ân Tình như một mốc ghi được kết bằng 25 hòn đá rải rác trên một quãng đường 1975-2000, mốc ghi 25 năm người Việt ly hương mở ra biên cương mới của đất Việt trong tầm nhìn mới. Trong cái rủi có cái may. Ðạo Trời qua vận hành của lịch sử thật kỳ bí. Người mình cứ ra đi và mở tới, từ vùng sông Dương Tử đi xuống sông Hồng, rồi sông Hương, sông Ðồng Nai, sông Chín Con Rồng. Và bây giờ một cách nào đó có thể đã là sông Mississippi...
RFA: Khuynh hướng sáng tác của linh mục như thế nào?
Lm. TCTường: Khi viết, trước hết, tôi chẳng nhằm mục đích chuyển đạt tư tưởng thuyết phục ai cả, mà chỉ mong chia sẻ độ rung và thái độ nhìn của mình về những biến động xảy ra trong cuộc sống hằng ngày. Tôi coi những chuyện xảy ra, dù bế tắc đen xám mấy, cũng đều là những mốc ghi mang ý nghĩa. Những ai có dịp qua chương trình tâm lý viết Nhật Ký Cô Ðọng theo Ira Progoff thì đều nhận ra rằng: mọi biến cố liên hệ đến đời mình, từ cha mẹ, đất nước mình, đều là những hòn đá xây nên đời mình, cần gom lại, ghép lại những mảnh rời, thì đời mình mới có thể phát triển lành mạnh được. Nên không thể yêu Chúa nếu không biết yêu dòng tộc và quê hương mình, qua những bi thảm cũng như những hùng tráng.
Nhưng tôi cũng vui, vì nhiều người đọc và nghe những độ rung ấy liền bác cầu cảm thông. Và như vậy là đã có điểm gặp gỡ ở những độ rung hơn là thuyết lý xa cách. Mấy tác phẩm trên đều gặp được hạnh ngộ như thế, vì đã được một số cơ quan truyền thông và các nhà văn, nhà báo ngoài Công giáo chú ý. Như đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA, Ðài Việt Nam Hải Ngoại, nhà xuất bản Thời Ðiểm ở Cali, tập san Thế Kỷ 21 ở Cali, tập san Sứ Ðiệp ở Boston, và nhà thơ Du Tử Lê niềm nở giới thiệu trên nhiều báo chí khác nhau. Riêng nhà thơ Du Tử Lê viết lời Tựa cho cuốn Nhịp Múa Sông Thanh.
Tôi thấy rằng, trước khi là một người Công giáo và rồi là một linh mục, tôi đã là một người Việt Nam mang 100% chất Việt. Tôi xác tín vào gia sản văn hóa Việt Nam có thể góp phần với thế giới đang tiến bộ về mọi mặt ngày nay; đồng thời nền văn hóa nào nếu không muốn bị đào thải, cũng cần phải được phát triển, có khả năng thâu hóa được những tinh túy của thế giới. Người mình có cả một đạo sống cao đẹp, từ những kho giầu ca dao tục ngữ, những truyện thiêng liêng nhất của Việt tộc như Bánh Dầy Bánh Chưng, Truyện Trầu Cau nói lên tình nghĩa chỉ có thể phát khởi từ hy sinh quên mình rất đúng khoa tâm lý về tình yêu ngày nay: con đường nghiền nát trầu cau, nên màu đỏ thắm nên màu sắt son; Truyện Phù đổng Thiên Vương với sức mọc cánh do chân không diệu hữu bay về Trời; Truyện Tản Viên Sơn Thánh, Truyện Chử Ðồng Tử, Truyện An Tiêm với niềm tin căn bản vào Trời của Việt tộc: Trời sinh trời dưỡng.
Thật kinh ngạc, niềm tin tức quan niệm sống của người mình có nhiều điểm rất giống với Thánh Kinh đạo Chúa. Chẳng hạn, Chúa Giêsu dạy Con hãy thương yêu kẻ khác như chính mình con, người Việt nói Thương người như thể thương thân. Thánh Kinh: Hạt lúa nếu không rơi xuống đất và chịu thối mục, sẽ trơ trọi một mình (Gioan 12:24), Ai cố giữ mạng sống mình thì sẽ mất, ai vui chết sẽ được sống tròn đầy (Gioan 12:25). Ca dao: Tưởng rằng đá nát thì thôi, ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng.
Như vậy, văn hóa hay truyền thống không phải là một thứ đồ cổ để cố thủ hay khoe mẽ cho bớt tủi, mà phải là một sinh lực khơi cho dòng nhựa chảy tới, mang chất tươi mát sinh hoa kết trái cho cuộc sống hiện tại. Ông Edward Herriot nói rất đúng: "Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả."
RFA: Theo linh mục, văn của linh mục mang những đặc điểm nào?
Lm. TCTường: Tôi thường viết theo kiểu bút ký như đã có thói quen từ nhỏ, và chọn lối viết bình dị gần gũi như nói chuyện vậy thôi, tránh kiểu trường ốc cầu kỳ xa vời. Nghĩa là chụp ghi những chuyện xảy ra mỗi ngày, liên hệ tới mình như một người Việt, liên hệ tới gốc gác mình, và kể lại dưới ống kính nội tâm. Ðây chính là phương cách của Ðức Giêsu trên đường Emmaus khi phải loan báo một Tin Vui cho hai môn đệ trong lúc xuống tinh thần tột độ. Ngài không bắt đầu bằng một "bài giảng" kiểu cách, vì dễ gây dị ứng, nhưng khởi đi từ chính chuyện đang xẩy ra mà ai cũng cảm thấy nhưng chưa sao tìm được câu trả lời: các bạn có chuyện gì mà mặt buồn rầu bí xị vậy? Và đợi đúng lúc lắng nghe thổ lộ hết được "tim gan phèo phổi" trong mối trăn trở, Ngài mới nhẹ nhàng đưa ra giải đáp. Món ăn Ngài dọn như vậy dễ hợp khẩu vị.
RFA: Việc linh mục sáng tác như vậy có ảnh hưởng ra sao tới việc hành đạo của linh mục? Và ngược lại, con đường dẫn dắt Con Chiên của linh mục có bổ sung cho việc sáng tác văn học không?
Lm. TCTường: Làm gì có biên giới giữa đạo và đời. Vì Ðạo vốn đã nhập thể vào trong đời. Con mắt của người tin thì luôn thấy Chúa hiển hiện trong cuộc sống đời thường. Dùng tiếng "sáng tác" thì có vẻ hơi lớn, thực ra, như vừa nói, tôi viết như viết nhật ký vậy thôi, chụp ghi những gì mình thấy và diễn tả lại tâm tư. Tôi có kiểu "giảng" trong nhà thờ cũng thế. Như vậy, việc hành đạo và chuyện ghi viết cũng là một. Ánh sáng Tin Vui của đạo soi chiếu những khúc mắc của cuộc sống đời thường, và những rung động trong tâm thức Việt giúp cho đạo nhập thể mang được thịt xương Việt, trong nhịp tim u uẩn những khúc thương đau cũng như nhịp thở hào hùng những phút vinh quang của lịch sử dân mình.
RFA: Trong những ngày sắp tới, linh mục có dự định gì về sinh hoạt văn học nghệ thuật?
Lm. TCTường: Ai cũng thấy thân phận người mình trải qua quá nhiều chao đảo, lòng người ly tán, giới trẻ nhiều khi không rõ hướng nào mà đi. Ai cũng kêu gọi về nguồn, mà chả biết gốc rễ nào mà bám! Vì thế nỗi trăn trở của nhiều người cũng như cá nhân tôi là làm sao góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm kiếm tụ điểm tinh thần, góp phần khai triển nét văn hóa giầu có của người mình vào cuộc sống hiện tại, chứ không phải chỉ như một món đồ cổ để hãnh diện nuối tiếc hay đề cao ra như cũng phải có một cái gì khác người cho bớt tủi vì mặc cảm.
Xin đưa ra một cái mẫu cụ thể: Người mình có thực kém đoàn kết hơn người người Tầu, người Nhật, người Do Thái không? Tôi không nghĩ như thế. Dân Do Thái cũng là tập hợp của nhiều bộ tộc với nhiều khuynh hướng trái ngược nhau, nhất là trong hoàn cảnh ly tán khắp thế giới mỗi người một nẻo, mỗi người một ảnh hưởng nền văn hóa địa phương, mỗi người một giải pháp để sống còn. Vậy mà họ vẫn tạo được sức mạnh chung. Ðâu là bí mật?
Chắc chắn lớp dân Do Thái tản mát đi khắp nơi đã trở nên rã rời chia rẽ như một đống xương khô. Nhưng họ không tốn sức than trách đổ tội hoặc buông xuôi, hay chỉ kêu gọi đoàn kết suông giữa không khí. Càng nhân danh văn hóa, nhân danh chính nghĩa, nhân danh tự hào dân tộc, càng thêm mất tin tưởng, càng thêm chia rẽ, càng thêm bẽ bàng, chỉ vì chưa có căn bản nào làm tụ điểm. Trong trạng huống này, Ezekiel đã bật lên một viễn kiến từ một niềm tin, và Isaia cùng với "Nhóm Do Thái Sót Lại" (Remnant of Israel) tạo được một phong trào thể hiện một kế hoạch thực tiễn. Ðó là phải tìm cho ra tụ điểm tinh thần.
Họ đã gom tất cả các truyện thiêng từ những huyền thoại của dân tộc Do Thái, từ những câu truyện truyền miệng từ đời này sang đời khác, cho đến những lễ nghi tế tự và phong tục, những bài ca dao tục ngữ, những lời răn dạy khôn ngoan, đều được kính cẩn thu lại thành văn bản. Và điều chắc chắn là tất cả những cuốn sách mà ta gọi là Cựu Ước (Old Testament) như văn bản ta có ngày nay, đã chỉ thành hình vào quãng trước và sau thời kỳ lưu đầy ở Babylon vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên. Nói cách khác, bộ kinh Do Thái chỉ thành hình do hoàn cảnh đòi hỏi này, dưới con mắt bật sáng của niềm tin, tạo nên một trào lưu phổ biến bằng chương trình giáo dục đại chúng. Vì thế mà họ đã phát động xây những hội đường giống như cái đình làng ở bất cứ nơi nào có người Do Thái sinh sống, để có nơi tụ họp thường xuyên mà học hỏi và thực hành kinh điển ứng dụng cho đời sống.
Lịch sử dân tộc phải có một ý nghĩa và hướng đi chứ không phi lý lãng nhách. Vì họ tin vào ông Trời dẫn đầu và nối kết tất cả lại như những sợi chỉ mầu trong một tấm thảm lớn. Trong nhãn quan này, họ bắt đầu ghi lại truyện tổ tiên từ một gia đình nhỏ bé của quốc tổ Abraham, sống nghề du mục nay đây mai đó suốt từ giải đất Ur tới Haran vùng Mesopotamia rồi vòng xuống Ai Cập. Tổ tiên như vậy thì chưa chắc đã có gì đặc sắc so với những dân đương thời, nhưng đối với người Do Thái thì quan trọng lắm. Từ trong cảm nghiệm, họ "thấy" rõ họ là dân được tuyển chọn để qui tụ với một sứ mạng, có tổ có nguồn đàng hoàng. Và nhiều câu truyện truyền kỳ khác về khởi nguyên dân tộc họ được gom lại, khiến họ càng có một độ rung chung với nhau về nguồn gốc, và tự tin vào bản sắc của mình. Cũng như đám anh em tản mát bỗng tìm lại được mẹ làm tổ ấm qui tụ gia đình.
RFA: Sau cùng, linh mục có muốn nhắn gởi gì không, liên quan đến văn học nghệ thuật?
Lm. TCTường: Như đã thấy, quả thực, phép lạ hồi sinh Do Thái đã phát khởi từ một niềm tin, thể hiện thành một bộ kinh tin làm tụ điểm tinh thần. Mong rằng đây cũng là nỗi ưu tư căn bản của người mình ở thời điểm này.
Người Việt cần tìm ra cách hóa giải được nỗi oan, vượt qua được mặc cảm, hồi phục được tinh thần. Ðể phục hưng, ai cũng nghĩ ngay tới những giải pháp về kinh tế, xã hội, những kế hoạch kỹ thuật khoa học, đào tạo nhân tài v.v. Ðiều này thật đúng và cần thiết. Nhưng quan trọng trước hết vẫn là chủ đạo, vẫn là nỗ lực tìm ra được tụ điểm tinh thần qua bộ kinh dân tộc.
Rất may, Việt tộc cũng có cả một truyền thống kho tàng truyện thiêng truyền miệng qua bao thời, với lòng tôn kính Tứ Bất Tử qua các lễ hội, và một kho tàng vô giá ca dao tục ngữ như hơi thở của linh hồn Việt tộc. Bao giờ mình mới xác tín được tầm mức rất ư then chốt này để cùng xây dựng một bộ kinh tin làm trụ đồng mang uy lực qui tụ? Lời yểm của Mã Viện khi muốn bẻ gẫy và chôn vùi biểu tượng qui tụ không khéo mà vẫn còn ám ảnh: Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt!
trong chương trình văn học nghệ thuật
RFA: Xin linh mục cho biết, cho tới giờ, linh mục đã hoàn tất bao nhiêu tác phẩm? Những tác phẩm của linh mục thể hiện sự hài hòa giữa đạo và đời, hay chỉ thuần về đạo, hoặc thuần về đời?
Lm. Trần Cao Tường: Trước năm 1989, tôi đã xuất bản 8 cuốn mang tính chất thuần về đạo và giáo dục tôn giáo. Nhưng sau đó, tức sau biến cố Hội Thánh Công giáo hoàn vũ tôn phong 117 Thánh Tử Ðạo Việt Nam, tôi bắt đầu chuyển hướng viết. Phong thánh là công nhận một mẫu sống đáp ứng thời đại. Tôi nghĩ, biến cố đã tạo nên niềm hãnh diện và hứng khởi không chỉ riêng cho người Công giáo mà còn chung cho cả dân Việt mình với thế giới nữa. Vì cả một lối sống theo tinh thần Việt hài hòa với đức tin Công giáo đã được thế giới đề cao và chính thức giới thiệu như một phương thức sống hạnh phúc đáp ứng thời điểm nhân loại chuyển mình vào ngàn năm mới, với đầy hy vọng về tiến bộ khoa học mà cũng đầy lo âu khắc khoải.
Niềm hãnh diện này cần phải được thể hiện, bộc phát thành những phong trào, và gợi hứng cho những sáng tác về văn, thơ, nhạc, và các ngành nghệ thuật mang căn cước Việt, góp phần Công giáo vào gia tài chung của Mẹ Việt Nam.
Chính vì thế tôi cũng muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào chiều hướng này bằng 2 tác phẩm là Về Nguồn Việt Ðạo và Ðường Nở Hoa Lê Thị Thành.
Cuốn Về Nguồn Việt Ðạo được triết gia Kim Ðịnh đề bạt, tìm nối kết hài hòa đức tin Công giáo với gia tài văn hóa Việt tộc.
Còn cuốn Ðường Nở Hoa Lê Thị Thành khai triển trực tiếp đường tu đức Việt, tức mẫu sống đức tin Công giáo theo tinh thần Việt, điển hình qua một người Mẹ Việt Nam, tức vị thánh nữ duy nhất của Hội Thánh Công giáo Việt Nam là thánh Lê Thị Thành, chứng nhân Tin Vui Ðạo Chúa như một người Việt trong truyền thống văn hóa Việt.
Từ năm 1996 tôi có dịp cộng tác với nhà văn Quyên Di trong chương trình Tin Vui Gửi Thời Ðại Mới phát thanh hằng tuần tại nhiều thành phố. Tin Vui từ sứ điệp Kinh Thánh của đạo Chúa được diễn tả trong tâm thức Việt. Mà đã là Tin Vui thì không giới hạn trong cửa nhà thờ, nhưng phải đi tới được cảm nghiệm đời thường, góp phần đáp ứng cơn khắc khoải của con người ngày nay, cách riêng của người dân Việt qua biết bao bầm dập nổi trôi. Nói khác hơn, mình cần cảm nghiệm được Tin Vui của Ðạo trong khung mạch đời thường và trong dòng sống của dân tộc mình.
Rồi những bài viết hằng tuần này đồng thời cũng được phóng lên mạng lưới điện toán. Nhiều người đã hưởng ứng và khuyến khích tôi gom lại in thành sách. Cuốn thứ nhất là Vũ Khúc Thăng Ca, cuốn thứ hai là Nhịp Múa Sông Thanh, cả hai đều nhằm góp phần chuyển diễn một nhịp sống mà con người sau những chạy mệt và đi mỏi đang cần vươn tới vào thời điểm 2000, trong cùng một điệu vũ từ tâm thức Việt, như cánh chim vút bay về núi và rồng thiêng chuyển lực dưới sông. Và mới đây, cuốn Khúc Sáo Ân Tình như một mốc ghi được kết bằng 25 hòn đá rải rác trên một quãng đường 1975-2000, mốc ghi 25 năm người Việt ly hương mở ra biên cương mới của đất Việt trong tầm nhìn mới. Trong cái rủi có cái may. Ðạo Trời qua vận hành của lịch sử thật kỳ bí. Người mình cứ ra đi và mở tới, từ vùng sông Dương Tử đi xuống sông Hồng, rồi sông Hương, sông Ðồng Nai, sông Chín Con Rồng. Và bây giờ một cách nào đó có thể đã là sông Mississippi...
RFA: Khuynh hướng sáng tác của linh mục như thế nào?
Lm. TCTường: Khi viết, trước hết, tôi chẳng nhằm mục đích chuyển đạt tư tưởng thuyết phục ai cả, mà chỉ mong chia sẻ độ rung và thái độ nhìn của mình về những biến động xảy ra trong cuộc sống hằng ngày. Tôi coi những chuyện xảy ra, dù bế tắc đen xám mấy, cũng đều là những mốc ghi mang ý nghĩa. Những ai có dịp qua chương trình tâm lý viết Nhật Ký Cô Ðọng theo Ira Progoff thì đều nhận ra rằng: mọi biến cố liên hệ đến đời mình, từ cha mẹ, đất nước mình, đều là những hòn đá xây nên đời mình, cần gom lại, ghép lại những mảnh rời, thì đời mình mới có thể phát triển lành mạnh được. Nên không thể yêu Chúa nếu không biết yêu dòng tộc và quê hương mình, qua những bi thảm cũng như những hùng tráng.
Nhưng tôi cũng vui, vì nhiều người đọc và nghe những độ rung ấy liền bác cầu cảm thông. Và như vậy là đã có điểm gặp gỡ ở những độ rung hơn là thuyết lý xa cách. Mấy tác phẩm trên đều gặp được hạnh ngộ như thế, vì đã được một số cơ quan truyền thông và các nhà văn, nhà báo ngoài Công giáo chú ý. Như đài Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA, Ðài Việt Nam Hải Ngoại, nhà xuất bản Thời Ðiểm ở Cali, tập san Thế Kỷ 21 ở Cali, tập san Sứ Ðiệp ở Boston, và nhà thơ Du Tử Lê niềm nở giới thiệu trên nhiều báo chí khác nhau. Riêng nhà thơ Du Tử Lê viết lời Tựa cho cuốn Nhịp Múa Sông Thanh.
Tôi thấy rằng, trước khi là một người Công giáo và rồi là một linh mục, tôi đã là một người Việt Nam mang 100% chất Việt. Tôi xác tín vào gia sản văn hóa Việt Nam có thể góp phần với thế giới đang tiến bộ về mọi mặt ngày nay; đồng thời nền văn hóa nào nếu không muốn bị đào thải, cũng cần phải được phát triển, có khả năng thâu hóa được những tinh túy của thế giới. Người mình có cả một đạo sống cao đẹp, từ những kho giầu ca dao tục ngữ, những truyện thiêng liêng nhất của Việt tộc như Bánh Dầy Bánh Chưng, Truyện Trầu Cau nói lên tình nghĩa chỉ có thể phát khởi từ hy sinh quên mình rất đúng khoa tâm lý về tình yêu ngày nay: con đường nghiền nát trầu cau, nên màu đỏ thắm nên màu sắt son; Truyện Phù đổng Thiên Vương với sức mọc cánh do chân không diệu hữu bay về Trời; Truyện Tản Viên Sơn Thánh, Truyện Chử Ðồng Tử, Truyện An Tiêm với niềm tin căn bản vào Trời của Việt tộc: Trời sinh trời dưỡng.
Thật kinh ngạc, niềm tin tức quan niệm sống của người mình có nhiều điểm rất giống với Thánh Kinh đạo Chúa. Chẳng hạn, Chúa Giêsu dạy Con hãy thương yêu kẻ khác như chính mình con, người Việt nói Thương người như thể thương thân. Thánh Kinh: Hạt lúa nếu không rơi xuống đất và chịu thối mục, sẽ trơ trọi một mình (Gioan 12:24), Ai cố giữ mạng sống mình thì sẽ mất, ai vui chết sẽ được sống tròn đầy (Gioan 12:25). Ca dao: Tưởng rằng đá nát thì thôi, ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng.
Như vậy, văn hóa hay truyền thống không phải là một thứ đồ cổ để cố thủ hay khoe mẽ cho bớt tủi, mà phải là một sinh lực khơi cho dòng nhựa chảy tới, mang chất tươi mát sinh hoa kết trái cho cuộc sống hiện tại. Ông Edward Herriot nói rất đúng: "Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả, là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả."
RFA: Theo linh mục, văn của linh mục mang những đặc điểm nào?
Lm. TCTường: Tôi thường viết theo kiểu bút ký như đã có thói quen từ nhỏ, và chọn lối viết bình dị gần gũi như nói chuyện vậy thôi, tránh kiểu trường ốc cầu kỳ xa vời. Nghĩa là chụp ghi những chuyện xảy ra mỗi ngày, liên hệ tới mình như một người Việt, liên hệ tới gốc gác mình, và kể lại dưới ống kính nội tâm. Ðây chính là phương cách của Ðức Giêsu trên đường Emmaus khi phải loan báo một Tin Vui cho hai môn đệ trong lúc xuống tinh thần tột độ. Ngài không bắt đầu bằng một "bài giảng" kiểu cách, vì dễ gây dị ứng, nhưng khởi đi từ chính chuyện đang xẩy ra mà ai cũng cảm thấy nhưng chưa sao tìm được câu trả lời: các bạn có chuyện gì mà mặt buồn rầu bí xị vậy? Và đợi đúng lúc lắng nghe thổ lộ hết được "tim gan phèo phổi" trong mối trăn trở, Ngài mới nhẹ nhàng đưa ra giải đáp. Món ăn Ngài dọn như vậy dễ hợp khẩu vị.
RFA: Việc linh mục sáng tác như vậy có ảnh hưởng ra sao tới việc hành đạo của linh mục? Và ngược lại, con đường dẫn dắt Con Chiên của linh mục có bổ sung cho việc sáng tác văn học không?
Lm. TCTường: Làm gì có biên giới giữa đạo và đời. Vì Ðạo vốn đã nhập thể vào trong đời. Con mắt của người tin thì luôn thấy Chúa hiển hiện trong cuộc sống đời thường. Dùng tiếng "sáng tác" thì có vẻ hơi lớn, thực ra, như vừa nói, tôi viết như viết nhật ký vậy thôi, chụp ghi những gì mình thấy và diễn tả lại tâm tư. Tôi có kiểu "giảng" trong nhà thờ cũng thế. Như vậy, việc hành đạo và chuyện ghi viết cũng là một. Ánh sáng Tin Vui của đạo soi chiếu những khúc mắc của cuộc sống đời thường, và những rung động trong tâm thức Việt giúp cho đạo nhập thể mang được thịt xương Việt, trong nhịp tim u uẩn những khúc thương đau cũng như nhịp thở hào hùng những phút vinh quang của lịch sử dân mình.
RFA: Trong những ngày sắp tới, linh mục có dự định gì về sinh hoạt văn học nghệ thuật?
Lm. TCTường: Ai cũng thấy thân phận người mình trải qua quá nhiều chao đảo, lòng người ly tán, giới trẻ nhiều khi không rõ hướng nào mà đi. Ai cũng kêu gọi về nguồn, mà chả biết gốc rễ nào mà bám! Vì thế nỗi trăn trở của nhiều người cũng như cá nhân tôi là làm sao góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm kiếm tụ điểm tinh thần, góp phần khai triển nét văn hóa giầu có của người mình vào cuộc sống hiện tại, chứ không phải chỉ như một món đồ cổ để hãnh diện nuối tiếc hay đề cao ra như cũng phải có một cái gì khác người cho bớt tủi vì mặc cảm.
Xin đưa ra một cái mẫu cụ thể: Người mình có thực kém đoàn kết hơn người người Tầu, người Nhật, người Do Thái không? Tôi không nghĩ như thế. Dân Do Thái cũng là tập hợp của nhiều bộ tộc với nhiều khuynh hướng trái ngược nhau, nhất là trong hoàn cảnh ly tán khắp thế giới mỗi người một nẻo, mỗi người một ảnh hưởng nền văn hóa địa phương, mỗi người một giải pháp để sống còn. Vậy mà họ vẫn tạo được sức mạnh chung. Ðâu là bí mật?
Chắc chắn lớp dân Do Thái tản mát đi khắp nơi đã trở nên rã rời chia rẽ như một đống xương khô. Nhưng họ không tốn sức than trách đổ tội hoặc buông xuôi, hay chỉ kêu gọi đoàn kết suông giữa không khí. Càng nhân danh văn hóa, nhân danh chính nghĩa, nhân danh tự hào dân tộc, càng thêm mất tin tưởng, càng thêm chia rẽ, càng thêm bẽ bàng, chỉ vì chưa có căn bản nào làm tụ điểm. Trong trạng huống này, Ezekiel đã bật lên một viễn kiến từ một niềm tin, và Isaia cùng với "Nhóm Do Thái Sót Lại" (Remnant of Israel) tạo được một phong trào thể hiện một kế hoạch thực tiễn. Ðó là phải tìm cho ra tụ điểm tinh thần.
Họ đã gom tất cả các truyện thiêng từ những huyền thoại của dân tộc Do Thái, từ những câu truyện truyền miệng từ đời này sang đời khác, cho đến những lễ nghi tế tự và phong tục, những bài ca dao tục ngữ, những lời răn dạy khôn ngoan, đều được kính cẩn thu lại thành văn bản. Và điều chắc chắn là tất cả những cuốn sách mà ta gọi là Cựu Ước (Old Testament) như văn bản ta có ngày nay, đã chỉ thành hình vào quãng trước và sau thời kỳ lưu đầy ở Babylon vào thế kỷ thứ sáu trước công nguyên. Nói cách khác, bộ kinh Do Thái chỉ thành hình do hoàn cảnh đòi hỏi này, dưới con mắt bật sáng của niềm tin, tạo nên một trào lưu phổ biến bằng chương trình giáo dục đại chúng. Vì thế mà họ đã phát động xây những hội đường giống như cái đình làng ở bất cứ nơi nào có người Do Thái sinh sống, để có nơi tụ họp thường xuyên mà học hỏi và thực hành kinh điển ứng dụng cho đời sống.
Lịch sử dân tộc phải có một ý nghĩa và hướng đi chứ không phi lý lãng nhách. Vì họ tin vào ông Trời dẫn đầu và nối kết tất cả lại như những sợi chỉ mầu trong một tấm thảm lớn. Trong nhãn quan này, họ bắt đầu ghi lại truyện tổ tiên từ một gia đình nhỏ bé của quốc tổ Abraham, sống nghề du mục nay đây mai đó suốt từ giải đất Ur tới Haran vùng Mesopotamia rồi vòng xuống Ai Cập. Tổ tiên như vậy thì chưa chắc đã có gì đặc sắc so với những dân đương thời, nhưng đối với người Do Thái thì quan trọng lắm. Từ trong cảm nghiệm, họ "thấy" rõ họ là dân được tuyển chọn để qui tụ với một sứ mạng, có tổ có nguồn đàng hoàng. Và nhiều câu truyện truyền kỳ khác về khởi nguyên dân tộc họ được gom lại, khiến họ càng có một độ rung chung với nhau về nguồn gốc, và tự tin vào bản sắc của mình. Cũng như đám anh em tản mát bỗng tìm lại được mẹ làm tổ ấm qui tụ gia đình.
RFA: Sau cùng, linh mục có muốn nhắn gởi gì không, liên quan đến văn học nghệ thuật?
Lm. TCTường: Như đã thấy, quả thực, phép lạ hồi sinh Do Thái đã phát khởi từ một niềm tin, thể hiện thành một bộ kinh tin làm tụ điểm tinh thần. Mong rằng đây cũng là nỗi ưu tư căn bản của người mình ở thời điểm này.
Người Việt cần tìm ra cách hóa giải được nỗi oan, vượt qua được mặc cảm, hồi phục được tinh thần. Ðể phục hưng, ai cũng nghĩ ngay tới những giải pháp về kinh tế, xã hội, những kế hoạch kỹ thuật khoa học, đào tạo nhân tài v.v. Ðiều này thật đúng và cần thiết. Nhưng quan trọng trước hết vẫn là chủ đạo, vẫn là nỗ lực tìm ra được tụ điểm tinh thần qua bộ kinh dân tộc.
Rất may, Việt tộc cũng có cả một truyền thống kho tàng truyện thiêng truyền miệng qua bao thời, với lòng tôn kính Tứ Bất Tử qua các lễ hội, và một kho tàng vô giá ca dao tục ngữ như hơi thở của linh hồn Việt tộc. Bao giờ mình mới xác tín được tầm mức rất ư then chốt này để cùng xây dựng một bộ kinh tin làm trụ đồng mang uy lực qui tụ? Lời yểm của Mã Viện khi muốn bẻ gẫy và chôn vùi biểu tượng qui tụ không khéo mà vẫn còn ám ảnh: Ðồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt!