Tự điển tiếng Việt chỉ có chữ lễ lạt mà không thấy lễ lạc. Thông thường khi nói đến chữ này, người ta hay nghe ra lễ lạc hơn lễ lạt. Theo định nghĩa của tự điển thì lễ lạt là các cuộc lễ hay lễ vật nói khái quát. Chữ này thuộc loại khẩu ngữ. Còn từ lễ lạt mà đọc ra lễ lạc, thiết tưởng có hai lý do : một là phát âm sai, hai là muốn chuyển sang chữ lạc với ngụ ý là vui. Có lễ thì phải vui. Mà muốn vui, phải có ăn uống.
Từ xưa đến nay, lễ lạt vốn là một thói quen gần như truyền thống trong sinh hoạt của người Việt Nam. Nước ta là một nước nông nghiệp. Làm nông nghiệp phải theo thời vụ. Có thời rất vất vả như thời cày bừa, gieo mạ, cấy lúa, gặt hái. Nhưng qua những thời kỳ đó, nhiều người dân không có việc làm. Không có việc làm thì phải tìm cách lấp đầy khoảng thời gian trống vắng đó. Phải chăng vì vậy, trong dân gian ngày trước mới có câu : “Tháng Giêng là tháng ăn chơi, tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè”. Các thứ hội hè, đình đám như hội chùa Hương, lễ hỏi, đám tang v.v... là những nếp sinh hoạt phản ánh phần nào văn hóa của người Việt Nam. Người có đạo chúng ta cũng sống trong nền văn hóa đó. Phần giá trị trong nền văn hóa này là qua một số biểu thị của lễ lạt đình đám, người ta đối xử với nhau theo tình làng nghĩa xóm, vui buồn có nhau, thân mật gần gũi.
Nhưng bên cạnh đó cũng phải nói đến một vài điều không được hay lắm về mặt xã hội. Đã hẳn, ở đời phải có lễ lạt. Người nào, gia đình nào, đoàn thể nào cũng có những ngày lễ mừng. Vấn đề không phải là mừng, nhưng là mừng sao cho hợp lý và phải đạo. Những lễ mừng quá linh đình tốn phí, ở giữa đám dân nghèo, trong hoàn cảnh khó khăn là điều thật không nên, tuy rằng tổ chức mừng to có thể đạt được mục đích mình nhắm và gây được tiếng tăm lừng lẫy. Nhưng đối với những người thuộc về Hội thánh, một Hội thánh muốn phục vụ người nghèo, một Hội thánh không muốn là ốc đảo giữa một đại dương mênh mông của nghèo đói và khốn cùng (Tuyên ngôn Hội nghị các Giám mục Á châu tại Manila năm 1971) thì liệu các lễ lạt tưng bừng tốn phí kia có khỏi là một phản chứng nghịch lại với chủ trương trong bàn tuyên ngôn không ?
Người bên ngoài vẫn nhìn vào người công giáo để xem ngôn hành có đi đôi với nhau không ? Công việc truyền giáo không phải chỉ diễn ra bằng lời giảng, nhưng còn bằng lối sống của người công giáo bên cạnh những người không công giáo.
Nhà văn Đồ Phồn trước kia có viết cuốn tiểu thuyết đề là KHAO. Cuốn tiểu thuyết này có thể gợi lên những câu hỏi đáng suy nghĩ về lễ lạt và khao vọng của đồng bào chúng ta lắm.
Từ xưa đến nay, lễ lạt vốn là một thói quen gần như truyền thống trong sinh hoạt của người Việt Nam. Nước ta là một nước nông nghiệp. Làm nông nghiệp phải theo thời vụ. Có thời rất vất vả như thời cày bừa, gieo mạ, cấy lúa, gặt hái. Nhưng qua những thời kỳ đó, nhiều người dân không có việc làm. Không có việc làm thì phải tìm cách lấp đầy khoảng thời gian trống vắng đó. Phải chăng vì vậy, trong dân gian ngày trước mới có câu : “Tháng Giêng là tháng ăn chơi, tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè”. Các thứ hội hè, đình đám như hội chùa Hương, lễ hỏi, đám tang v.v... là những nếp sinh hoạt phản ánh phần nào văn hóa của người Việt Nam. Người có đạo chúng ta cũng sống trong nền văn hóa đó. Phần giá trị trong nền văn hóa này là qua một số biểu thị của lễ lạt đình đám, người ta đối xử với nhau theo tình làng nghĩa xóm, vui buồn có nhau, thân mật gần gũi.
Nhưng bên cạnh đó cũng phải nói đến một vài điều không được hay lắm về mặt xã hội. Đã hẳn, ở đời phải có lễ lạt. Người nào, gia đình nào, đoàn thể nào cũng có những ngày lễ mừng. Vấn đề không phải là mừng, nhưng là mừng sao cho hợp lý và phải đạo. Những lễ mừng quá linh đình tốn phí, ở giữa đám dân nghèo, trong hoàn cảnh khó khăn là điều thật không nên, tuy rằng tổ chức mừng to có thể đạt được mục đích mình nhắm và gây được tiếng tăm lừng lẫy. Nhưng đối với những người thuộc về Hội thánh, một Hội thánh muốn phục vụ người nghèo, một Hội thánh không muốn là ốc đảo giữa một đại dương mênh mông của nghèo đói và khốn cùng (Tuyên ngôn Hội nghị các Giám mục Á châu tại Manila năm 1971) thì liệu các lễ lạt tưng bừng tốn phí kia có khỏi là một phản chứng nghịch lại với chủ trương trong bàn tuyên ngôn không ?
Người bên ngoài vẫn nhìn vào người công giáo để xem ngôn hành có đi đôi với nhau không ? Công việc truyền giáo không phải chỉ diễn ra bằng lời giảng, nhưng còn bằng lối sống của người công giáo bên cạnh những người không công giáo.
Nhà văn Đồ Phồn trước kia có viết cuốn tiểu thuyết đề là KHAO. Cuốn tiểu thuyết này có thể gợi lên những câu hỏi đáng suy nghĩ về lễ lạt và khao vọng của đồng bào chúng ta lắm.