Linh Mục Phaolô Lê-Bảo-Tịnh

Bị bắt hai lần,

Xử chém 6-4-1857 tại Nam-Định.

Giáo dân đã có một thời

Vui, sầm uất tại một nơi nói rằng:

Nhất là ở chốn thiên đàng,

Thứ nhì Tràng-Vĩnh vẻ vang thiết tình.

Tỉnh Nam cuối giáp Ninh-Bình (Nam-Định).

Nơi Lê-Bảo-Tịnh hy sinh cuộc đời.

Phao-Lô tên Thánh của Người,

Chân thành, thánh thiện được mời, cất lên.

Xứng danh một đấng bề trên,

Cũng ngay Vĩnh-Trị nghỉ yên đời đời.

Xác thân Thánh thiện hiện thời,

Phê-rô đền thánh là nơi chôn Ngài.

Bắt đầu cuộc sống trần ai:

Xã Trình-Hà, một bé trai chào đời.

An bình hạnh phúc thảnh thơi,

Tỉnh là Thanh-Hóa, Phủ thời Hà-Trung.

Huyện tên:Hoàng-Hóa trong vùng,

Anh em gồm sáu sống cùng mẹ cha.

Năm sanh một bảy chín ba,

Năm mười hai tuổi rời nhà cậu đi.

Ở cùng Cha Ruệ, kiên trì,

Xứ là Bạch-Bát cậu thì học nho.

Bốn năm sau được tuyển vô,

Vào trường Kẻ-Vĩnh học trò La-tinh.

Trí khôn không mấy thông minh,

Học chăm, đọc sách tự mình vươn lên.

Bản thân tìm hiểu làm nền,

Sau thành thông thái vượt trên bao người.

Chủng sinh lúc đó dưới thời,

Bề trên Linh-Mục tên Người Havard.

Về sau nhậm chức Đức Cha,

Theo Ngài các chú quả là hy sinh.

Đua nhau luyện đức hãm mình,

Điểm son là: chú Tịnh, khinh sự đời.

Noi gương các Thánh,đồng thời,

Ẩn tu là hướng xa rời trần gian.

Vào rừng tu ẩn một năm,

Đức Cha đã bắt phải âm thầm về.

Dậy trong chủng viện,vâng nghe,

Đường đời vạn nẻo sơn khê, chẳng sờn.

Quyết theo Chúa,Chúa ban ơn,

Vâng lời chuẩn bị tâm hồn bước thêm.

Trau dồi Lý đoán làm nền,

Để thành Linh-Mục tiến lên bàn thờ.

Đức Havard đã cậy nhờ,

Hai lần Thầy đã cập bờ Ma-Cao.

Đưa thừa sai nước ngoài vào.

Cùng đem đồ tiếp tế trao cho Ngài.

Tám trăm ba tám, lần hai,

Tám trăm ba mốt được sai lần đầu.

Trở về, đã đạt nhu cầu,

Ba thừa sai đã theo sau lên bờ.

Cha Cornay với Retord,

Cùng Cha Rouge nữa, Thầy lo chu toàn.

Lần hai, Thầy gặp gian nan,

Đời may, có lúc bất an trừ bù.

Khi mang đồ tới La-Phù,

Tụi Tàu Ô cướp trong khu hành nghề.

Nhưng nhờ y phục chở che,

Áo Tàu mặc, giọng nói nghe lờ đờ.

Tiếng Nam lớ ngớ, cứng đơ,

Tóc đuôi xam tựa(chú) khách ngờ đồng hương.

Nên tha mạng, thoát đoạn đường,

Tha không giết,chút xót thương tình người.

Tàu Thầy Tịnh cập bến rồi,

Thầy đâm đơn kiện, quyết đòi của chung.

Lệnh ban ra phải truy lùng,

Bắt luôn bọn cướp trong vùng trả trao.

Lần này Thầy ở Ma-Cao,

Một năm Thầy cắm cúi vào sách hay.

Một đêm, Đức Mẹ khoan thay,

Hiện ra Mẹ nói thế này “ Phaolô “

“Phaolô hỡi, Mẹ báo cho”,

“Thân con sẽ khổ bởi do đạo lành”.

Thầy không tin nghĩ loanh quanh,

Mỹ nhân nào đến Thầy sanh nghi ngờ.

Thế nên ngay lúc bấy giờ,

Dùng : La, Hoa,Việt hỏi chờ xem sao?

Khi dùng đến tiếng nói nào,

Trả lời tiếng ấy Mẹ vào ý ngay :

“Maria Mẹ con đây”,

Mặc dầu vậy chẳng tin ngay,đợi chờ.

Đến khi bị bắt bấy giờ,

Tin lời Mẹ báo,nào ngờ chẳng sai.

Vừa vào Thạch-Tổ, tại đây,

Gặp ngay lính bắt được Thầy giải đi.

Lần hai, Đức Giám định khi,

Ma-Cao trở lại,sai đi sang Lào.

Việc truyền giáo đạt ước ao,

Nhà sư trở lại với bao nhiêu người.

Thế nên sau đó một thời,

Xin thêm thợ gặt tới nơi cánh đồng.

Lúa vàng rộ chín mênh mông,

Trên đường về nhủ với lòng,ghé thăm.

Cải trang một cách âm thầm,

Qủa không ai biết, tưởng lầm người dưng,

Tám trăm ba tám vì chưng,

Trịnh-Quang-Khanh đã tưởng chừng cuồng điên.

Truy lùng diệt đạo triền miên,

Đức Havard trốn trong miền rừng sâu.

Tại rừng Bạch-Bát thương đau,

Giữa rừng chịu cảnh âu sầu thê lương.

Nơi đây Ngài biệt cõi dương,

Cha Retord tiếp nối đường đang đi.

Tưởng chừng lâm cảnh suy vi,

Một ngàn tám bốn mươi thì được sai.

Sang Ma-Cao,với lần này,

Lần ba nhận tiếp liệu ngoài chuyển vô.

Cùng đem thêm vị tông đồ,

Taillandier để tiếp lo duy trì.

Con đường sự thật Chúa đi,

Đưa về Kẻ-Vĩnh thực thi nẻo lành,

Tám trăm bốn mốt Chúa dành (1841).

Đặc ân mong ước rạng danh con Ngài.

Sau khi hoàn tất lệnh sai,

Thầy về nước chỉ một vài tháng sau,

Dậy khuyên là một nhu cầu,

Địa danh Thạch-Tổ, Thầy vào giảng khuyên.

Kẻ-Đầm là xứ trong miền,

Nhà Nhiêu Ba đến,oan khiên bắt đầu.

Biết tin lý trưởng đến mau,

Bắt về Hà-Nội ngõ hầu cung tra.

Khi chờ quan lớn chưa ra,

Các Thơ lại mắng nhiếc và mỉa mai.

Thấy Thầy ăn mặc sơ sài,

Cổ đeo gông nặng,chỉ hài lòng thôi.

Thầy nghe im lặng một hồi,

Quay sang nhã nhặn hỏi lời :Chửi ai?

Một viên thơ lại nói ngay :

Chúng tao mắng chửi chính mày đần ngu.

Với lòng độ lượng nhân từ,

Thầy rằng :Dẫu tội hay tù hàm oan,

Thì tôi tội với vua quan,

Xá chi các vị luận bàn mắng tôi.

Vua quan làm án được thôi,

Tôi vô tội với những người như(các) ông.

Họ nghe tức giận trong lòng,

Đứng lên hùng hổ chạy xông đánh Thầy.

Hô mời quan án ra ngay,

Nghe phân giải thấy điều này bất nhân.

Ông thông phán chẳng ngại ngần,

Xin Thầy thứ lỗi thành phần a dua.

Thầy tha cho bọn vào hùa,

Phất cờ theo gió, theo mùa cầu vinh.

Là người phải có:lý,tình,

Trí khôn luận để xem mình đúng sai.

Bởi đời là quãng đường dài,

Lý tình,tình lý cả hai vẹn toàn.

Tất nhiên tránh được nghiệt oan,

Quan tra vấn,buộc hoàn toàn phải nghe.

Buộc Thầy qúa khoá,khinh chê,

Ki-Tô tà đạo,tha về bình an.

Thầy rằng :Bất chấp gian nan,

Quyết không bỏ đạo,nên quan lọc Thầy.

Giơ cao roi, quất thẳng tay,

Đòn không sợ,sợ chẳng may cho Thầy.

Vì đòn mà chết, điều này,

Không hy vọng được đến ngày hiến thân.

Tử vì đạo Chúa chí nhân,

Nghĩ ra một kế thiết cần thực thi.

Ngoái ngay cổ lại thầm thì,

Nói cùng lính: Các anh vì lệnh vua,

Cơm vua chưa đủ chưa vừa,

Đánh như gãi ngứa tôi chưa hài lòng.

Thầy vừa ngoảnh cổ nói xong,

Các quan hỏi lính rằng: Ông nói gì?

Các quan thắc mắc sinh nghi,

Lính dơ roi máu nói: Y bảo rằng:

Các quan đã thấy rõ ràng,

Đánh như thế, chẳng nói năng nửa lời.

Hắn còn bảo đánh khơi khơi,

Đánh như gãi ngứa nửa vời ích chi.

Lòng quan thượng nghĩ,người lì,

Đánh hoài cũng thế,tức thì truyền thôi.

Ước lành, tất Chúa nhậm lời,

Ngưng tra tấn, điệu ra nơi công đường.

Vấn tra việc đạo bất thường,

Có quan hỏi: “Ở cõi dương nhiều người,

Đã hai ba vợ cưới rồi,

Chưa cho là đủ, đồng thời muốn thêm,

Tại sao cố đạo êm đềm,

Độc thân không vợ, không thèm muốn sao?

Không thù hận vẫn ngọt ngào,

Bẩm quan cho phép cách nao giãi bầy,

Tôi xin cắt nghĩa thế này:

Kẻ nhiều vợ tựa những tay bị nghiền.

Thèm nha phiến,hút liên miên,

Thấy ngon hút tiếp thành nghiền thế thôi.

Người không hút tựa như tôi,

Chưa lần nếm thử,chẳng đời nào ham.

Mặc dù dục tính nhân phàm,

Có,nhưng cậy Chúa, Chúa làm đổi thay.

Không ham trong lãnh vực này,

Ngửi mùi phiện, khó chịu ngay trong lòng.

Phiện,tình,tính chất song song,

Không ham, không nếm,ắt không luỵ đời.

Ái nhân say mến Chúa Trời,

Nắng mưa bổ khuyết đầy vơi cõi trần.

Sách nho có viết chữ nhân,

Là người hai nét,thêm phần gạch ngang,

Tức là chữ đại rõ ràng,

Nếu thêm một chấm vai,hàng nửa trên.

Chữ gồm bốn nét,đọc liền,

Tức là chữ khuyển, nói lên ý này.

Quan vừa nghe nói đến đây,

Mặt mày giận tím, thước tay đập Thầy.

Đập ngang miệng,máu tràn đầy,

Gẫy răng cửa, té ngã ngay xuống nền.

Gọi không thưa,cố ý xem,

Các quan bàn tán, nói thêm điều gì.

Lúc sau, đứng dậy đoạn thì :

Phúc thay đạo dậy,tôi đi theo đường.

Không là cướp,sống hiền lương,

Nếu là tướng cướp,tai ương đến rồi.

Dùng gông tôi húc,thế thôi,

Ắt là quan đã tiêu đời nhà quan.

Nếu vô phép, thiếu khôn ngoan,

Đánh đòn trách,chớ ứa gan đánh càn.

Cớ sao nóng, lấy thước bàn,

Đánh tôi là thiếu bìng an nhân từ.

Dưới thời Thiệu-Trị coi như,

Giáo dân không giết,ngoại trừ lệnh vua.

Bảy năm tù ví như mùa,

Nắng hanh, hạn hán thiếu mưa đợi chờ.

Cũng thời Thiệu-Trị bấy giờ,

Giáo dân không xử, làm ngơ qua ngày.

Nên Thầy chịu cảnh tù đầy,

Gông xiềng khổ sở, đắng cay muôn phần.

Xác thân cùng cả tinh thần,

Tù nhân chửi rủa, tục tằn điêu ngoa.

Tháng tư,một tám bốn ba (4/1843),

Ngày hai mươi viết thư đà gửi đi,

Gửi cho các chú đang thì,

Học hành tu luyện giữa kỳ nhiễu nhương.

Âm thầm theo học tại trường,

Thư rằng:Bao nỗi đoạn trường,đắng cay.

Qủa như hỏa ngục đời này,

Như hình ảnh sống động bày trưng ra.

Vai gông cổ xích cung tra,

Đêm cùm nghe chửi rủa,la tục tằn.

Phải xem những sự dữ dằn,

Gớm ghê, độc ác, khó khăn tả lời.

Nhiều khi giam giữi một nơi,

Ngày đêm chẳng ánh mặt trời trăng sao.

Mùa đông giá buốt ùa vào,

Mùa hè,nóng tựa hỏa hào đốt thiêu.

Muỗi mòng, bọ mát,rệp nhiều,

Ngày đêm cắn đốt thiếu điều phát điên.

Chẳng hề được phút nào yên,

Trắng đêm mất ngủ, nhũn mềm châu thân.

Phần thì cùm sát vào chân.

Lính canh khua mõ mỗi lần thay ca.

Đánh inh ỏi, tiếng chửi la,

Cãi nhau vì trễ không ra đúng giờ.

Ngoài ra còn cảnh bơ vơ,

Nỗi cô đơn cứ vẫn tơ vương lòng.

Không ai trò truyện,cũng không,

Được tham dự lễ như trong nhà trường.

Cũng không được chịu Thần lương,

Cùng xưng tội lỗi vẫn thường lỡ sai.

Kiên tâm chịu chẳng kêu nài,

Khổ đau vì Chúa nhân loài: Giêsu.

Là người Cha rất nhân từ,

Hết lòng hết sức mến,dù tàn hơi.

Tám trăm bốn tám cùng thời(1848),

Vua truyền đổi án :ra nơi lưu đầy.

Phú-Yên đưa đến,nơi đây,

Thực thi phán quyết,án này chung thân.

Cùng chung cảnh ngộ một lần,

Cha Khanh đồng án chung phần giải đi.

Đến kinh đô Huế đoạn thì,

Chờ gần hai tháng,lẽ vì hợp chung.

Với tù nhân khác đi cùng,

Giải giao một thể đến vùng Phú-Yên.

Thời lưu lại đợi lệnh trên,

Có viên quan lớn cao niên về già.

Mắt gần hư, ựa mù loà,

Nghe tin cụ đạo đến là tìm ngay.

Họ tin từ trước đến nay,

Các Ngài chữa bệnh mát tay thật tình.

Chữa lành như có thần linh,

Đến xin thuốc, ắt mắt mình sáng ngay.

Cha, Thầy Tịnh gặp cảnh này,

Thương ông, nên đã giãi bày cùng ông:

Thấy ông tôi rất mủi lòng,

Không là thầy thuốc,ruổi rong giảng lời.

Chỉ đường tin Đức Chúa Trời,

Không nghe, quan vẫn chẳng ngơi van nài.

Thuốc Thầy Tịnh biết vài bài,

Ghi cho,cầu Chúa nhân loài cứu ông.

Hết tình khẩn Chúa chí công,

Qủa nhiên Ngài đã dủ lòng đói thương.

Mắt ông trở lại bình thường,

Tiếng đồn lan rộng tứ phương rạng ngời.

Một quan ngự sử đương thời,

Trẻ,làm trong bộ tên đời:Đình-Tân(Hưng).

Nghe đồn,đến thử một lần,

Thầy ghi bài thuốc,đi cân sắc liền.

Uống xong hết bệnh,ông truyền,

Đem mười lạng bạc,vòng khuyên tay,chè.

Ý là: chẳng quản, chẳng nề,

Đáp đền ơn đức, không hề quản công.

Thầy liền thưa lại với ông:

Bẩm quan lớn, qủa thấy lòng thật vui.

Thấy quan hết bệnh mừng rồi,

Chúng tôi chữa bệnh không đòi trả công.

Giúp người nghèo khổ khốn cùng,

Không hề giám lấy một đồng của quan.

Cảm lòng thương, ý quan ban,

Chỉ xin vui nhận một cân chè này.

Thưa quan biết chúng tôi đây,

Không hề trộm cướp,không gây hận thù.

Sát nhân chẳng phạm cũng như,

Thiêu gia, làm giặc,chẳng ư tội gì.

Chung quy cũng chỉ bởi vì,

Gia tô đạo thật ra đi loan truyền.

Quan còn trong tuổi thanh niên,

Giỏi giang,sau sẽ có quyền lớn hơn.

Khi đi trọng nhậm làm ơn,

Thương người có đạo giữa cơn khốn cùng.

Ông Tân tay chỉ không trung,

Thề điều này gữi, dù khung cảnh nào.

Hôm đoàn tù bước xuống tàu,

Phú-Yên đến, thơ lại vào điểm danh.

Đến tên Thày Tịnh thêm thành:

Tòng Gia Tô tả đạo, đành không thưa.

Gọi ba bốn bận vẫn lờ,

Quan liền nóng giận quát to nói bừa:

Thằng nào láo, gọi không thưa,

Tôi nghe,im tiếng bởi vừa nghe xong.

Gọi là tả đạo nên không,

Đạo tôi chân chính, đầy lòng yêu thương.

Có tam cương, có ngũ thường,

Bao giờ ông gọi theo đường Gia tô.

Bỏ câu tả đạo mơ hồ,

Thì tôi mới chịu, bấy giờ mới thưa.

Quan đành chấp nhận chịu thua,

Một ngàn tám bốn tám, vua ban hành.

Lệnh ân xá đã được dành,

Cho người mang án tội danh:lưu đầy.

Được về quê quán sinh nhai,

Thầy về lại chủng viện,ngày hân hoan.

Đức Cha mừng rỡ vô vàn,

Giết heo mừng đứa con ngoan trở về.

Cha mời Thầy Tịnh vâng nghe,

Đến Hoàng-Nguyên lúc tứ bề gian nan.

Học làm lễ để được ban,

Chức Linh Mục thánh dẫn đàn chiên đi.

Dưới thời Tự-Đức trị vì,

Một tuần học tập đoạn thì truyền ngay.

Tuổi đời năm sáu còn đầy(56),

Tinh thần ý chí hăng say chu toàn.

Ngay sau chức thánh trao ban,

Đức Cha quyết định khôn ngoan bổ làm.

Bề trên chủng viện âm thầm,

Là trường Kẻ-Vĩnh ba năm làm thầy.

Dậy năm lớp nhất tại đây,

Tám năm hai, lệnh đổi thay chuyển dời.

Cố Néron Bắc được mời,

Thế Cha Tịnh dậy ở nơi trường nhì.

Tám lăm lăm cố Bắc đi,

Xứ Đoài đến giúp giữa khi thiết cần.

Giờ Cha Tịnh lại một lần,

Trở về Kẻ-Vĩnh trọn phần bề trên.

Quan Tân giờ được trao quyền,

Bổ làm Thống Đốc trấn miền tỉnh Nam.

Nhiều lần Cha Tịnh đến thăm,

Tỏ lòng ân nghĩa ông làm giấy riêng.

Mà không thông báo cận miền,

Cho Cha được mở trường thêm cùng là.

Làm thêm thuốc giúp người ta,

Nguyễn-Đình-Tân tỏ ý ra biết điều.

Những lời thề hứa làm theo,

Cho nên quan hỏi,biết nhiều khu,nơi,

Những người có đạo hiện thời,

Để quan che chở hầu vơi hiểm nghèo.

Mỗi khi quan khác dõi theo.

Lòng Cha Tịnh rất thương yêu học trò.

Học trò đền đáp tình cho,

Nên siêng xưng tội, chăm lo học hành.

Thi đua làm các việc lành,

Nhà tràng sống động tựa thanh bình kỳ.

Cha còn được chỉ định đi,

Giảng ngày lễ trọng ngọai vi nhà trường.

Nhờ tài thuyết giảng phi thường,

Cùng lòng thành đức nêu gương cho đời.

Cho nên thu hút người người,

Nghe,vào xưng tội trong nơi nhà tràng.

Giảng về bốn sự rõ ràng:

Chết cùng phán xét, thiên đàng,hỏa thiêu.

Giúp ăn năn tội mỗi chiều,

Trong tuần đại phúc bao nhiêu ơn lành.

Giọt sầu cảm mến long lanh,

Lăn trên gò má lòng thành hối nhân.

Không may, xảy đến một lần,

Tám trăm năm bảy,nhất tuần tháng hai(2/2/1857).

Cha Kỳ, Cha Hảo hai Ngài,

Đã về PhátĐiệm triển khai ý lành.

Mở ra lễ lớn vinh danh,

Tạ ơn. Tiếng vọng tựa thanh la,cồng.

Toả bay vang khắp không trung,

Đến nhiều nơi, tại các vùng người lương.

Họ đồn:nhà đạo, nhà trường,

Mở cờ, mở tiệc, dọn đường khao binh.

Các quan thuộc tỉnh Ninh-Bình,

Đem quân vây nã hai Linh Mục này.

Hai Cha biết,chạy khỏi ngay,

Bắt dăm đầu mục ở đây giải về.

Họ khai chẳng chút e dè:

Rằng hai Cha đến nhưng nghe lính lùng.

Rời đây về lại vùng trong,

Là làng Kẻ-Vĩnh, ý mong nơi này.

Có quan Tổng-Đốc đưa tay,

Chở che giúp đỡ không may hiện tình,

Nhưng quan đầu tỉnh Ninh-Bình,

Gửi quan Tổng-Đốc lời trình bằng thơ.

Cùng quan Nam-Định cậy nhờ,

Hợp chung bắt đạo trưởng thờ ngoại lai.

Định ngày hăm bảy tháng hai,

Vây lành Vĩnh-Trị, sớm mai truy lùng.

Quan Tân lòng vẫn kiên trung,

Gửi lời hứa giúp nên dùng tín nhân.

Cậy người Công Giáo thiết cần,

Đến nơi báo trước, liệu phần an ninh.

Người Công Giáo ấy tên Trinh,

Báo cho Cha Tịnh, tình hình hiện nay.

Đem đồ quốc cấm dấu ngay,

Gặp Thầy Tự mới tới đây tức thì.

Thầy từ Kẻ-Vĩnh ra đi,

Nghe tin Thầy Tự, tức thì về ngay.

Đến cầu Chánh nội trong ngày,

Bụng đau dữ dội chẳng ai cậy nhờ.

Cô đơn lạc lõng bơ vơ,

Kêu la ôm bụng,mắt lờ đờ mong.

Nằm bên đường giữa cánh đồng,

Nên trong Vĩnh-Trị đã không biết gì.

Tám giờ thứ sáu sau khi,

Ăn xong cơm sáng,tức thì được hay,

Lính trên tỉnh kéo về vây,

Đức Cha Liêu hiện ở đây trọn quyền.

Có Cha Đoài với cố Ven(Charbonnier).,

Cùng chung các chú, bình yên trong nhà.

Vừa ăn xong, báo rằng là:

Lính trên tỉnh kéo về và bao vây.

Nghĩ tình quen biết xưa nay,

Cũng như giấy phép trong tay lo gì.

Cho nên Cha Tịnh tức thì,

Vâng theo ý Đức Cha đi một mình.

Đứng ra giải quyết tình hình,

Các Cha khác trốn tránh tình cảnh nguy.

Xuống hầm bí mật giữa khi,

Trong thời cấm cách cực kỳ gian nan.

Người tên Phán Trí và quan,

Nghĩa-Hưng quan Phủ dẫn đoàn lính vây.

Một trăm ba chục về đây,

Đóng quân canh giữ ở ngay nhà thờ.

Tính suy, Cha Tịnh cậy nhờ,

Người mời quan đến,nghĩ cơ hội này.

Xin ra lệnh lính đang vây,

Đóng quân tại chỗ,tỏ bầy tính sau:

Nhưng Cha Tịnh có ngờ đâu,

Bất ưng quan đến, khiến bao đồ thờ.

Còn đang bày biện trơ trơ,

Là đồ Tây nữa,nghi ngờ gì đâu.

Cha mời trà nước mở đầu,

Đoạn trình giấy phép trên trao mở trường.

Quan xem, giữ giấy chẳng thương,

Bây giờ là lúc tai ương bắt đầu.

Giấy này đúng chẳng sai đâu,

Mở trường, đâu phải truyền rao đạo tà.

Xin mời cụ hãy đi ra,

Gặp quan tỉnh sẽ xét tra việc này.

Vài tang vật trước mặt đây,

Đem theo làm chứng cớ ngay điển hình.

Lấy đi cuốn sách La-tinh,

Cũng như áo lễ chứng minh rành rành.

Học trò, nhà cửa địa danh,

Bắt Cha ký,khởi như thành án tuyên.

Trước khi đón nhận oan khiên,

Như xưa Chúa đã đi lên nguyện cầu.

Đêm xưa trên núi cây dầu,

Cha giờ cũng đã yêu cầu cùng quan:

Xin đi cầu nguyện thở than,

Để tìm ý Chúa khôn ngoan hộ trì.

Trước khi theo các quan đi,

Cha còn hô lớn rằng thì: từ đây,

Ý cho các chú, các thầy,

Biết Cha sẽ gặp chuỗi ngày gian nan.

Các con nghỉ lại bằng an,

Cha đi có thể bất hoàn nơi đây.

Phúc ơn tử đạo quý thay,

Nếu ai muốn nhận ra ngay liệu tùy.

Bắt luôn chánh phó Lý-Huy,

Và Chân,khi lính đang truy kiếm lùng.

Cả Thầy Lương nữa bị chung,

Khi quân lính rút khỏi vùng giải đi.

Đức Cha Liêu đã nghĩ suy,

Cho ngừơi đến phủ cấp kỳ:Nghĩa Hưng,

Đem tiền chuộc,dặn liệu chừng,

Nếu không xong, chớ lừng khừng chờ lâu.

Thiết cần giải quyết thật mau,

Không êm, lên tỉnh khẩn cầu thượng quan.

Cậy ông tìm cách minh oan,

Không ngờ tang vật tạo gian nan nhiều.

Cha Thu tin đến lúc chiều,

Trấn an:yên trí mọi điều ta lo.

Cha lên tỉnh để cậy nhờ,

Cho nên quan thượng trông chờ ân nhân.

Cùng ăn mừng lễ lục tuần,

Cũng may thêm được một lần gặp nhau.

Giúp cho Cha Tịnh trốn mau,

Đừng về Vĩnh-Trị ngõ hầu thoát êm.

Nghĩa Hưng bị giữ một đêm,

Hôm sau, Phán Trứ giải lên tỉnh cùng,

Giấy quan thượng cấp gộp chung.

Thượng quan Tân kẹt vì chưng giấy tờ.

Do mình cấp phát sờ sờ,

Thế nên viện lẽ bệnh, nhờ chuyển sang.

Nhờ quan án liệu mọi đàng,

Ba quan chiều họp, sẵn sàng tìm phương.

Điệu Cha ra giữa công đường,

Các quan ham lợi,vẫn thường ganh nhau.

Viên quan án đọc,đoạn trao,

Cho quan bố đọc, lòng bao ý tà.

Nhấc lên, bỏ xuống tỏ ra,

Giấy này cấp,chẳng phải là ít đâu.

Hỏi cho có lệ một câu:

Có bằng lòng qúa khoá? Hầu trình vua.

Nhìn ba quan,khẳng khái thưa:

Bẩm quan, điều đó,tôi chưa hề làm.

Dẫn đầu, ắt phải quyết tâm,

Làm gương,tín hữu mới khâm phục tòng.

Xin quan lớn cứ phép công,

Luật vua ra, khép án,không nề hà.

Cho nên,thà chết chẳng thà,

Nghe quan quá khóa để mà an thân.

Viên quan bố, chẳng tần ngần,

Nói rằng:Cờ bí, phải cần thí xe.

Muốn mong được cứu tha về,

Tất nhiên phải xuất giáo, nghe thi hành.

Bẩm quan,đạo trưởng mang danh,

Yếu tin, chối đạo,hoá thành lừa dân,

Ai theo, ai giữ,ai tuân?

Gặp gian nan mới thấy phần thủy chung!

Thượng Tân trong thế đường cùng,

Hứa xưa,nay khác,bởi chưng lớn quyền.

Cổ kim,đời vẫn y nguyên,

Theo đời,chân lý bao phen lu mờ.

Bao người theo gió phất cờ,

Quan Tân bí kế gỡ,giờ tính ngay.

Ơn xưa,nghĩa cũ vơi đầy,

Võ-Lâm truyền giữ,trại này đỡ hơn.

Coi như đôi chút đền ơn,

Không giam ngục thất,ý quan thương tình.

Bốn ngày sau,hiệp nghị trình,

Hỏi thêm lần nữa,xác minh rõ ràng.

Hỏi Cha:quá khoá hay chăng?

Tái khai:lý lịch,chức năng,ước nguyền.

Thật thà khai hết căn nguyên:

Được đi học:tuổi thiếu niên,trưởng thành.

Bị tù rồi thả bình sanh,

Sau làm đạo trưởng,ước lành ái nhân.

Ý Cha khác ý quan Tân:

Người cần siêu thoát,kẻ cần hiện sinh.

Ông khuyên Cha:liệu tình hình,

Khi vua thịnh nộ,bất bình tránh đi.

Khai là đạo trưởng làm chi?

Nói câu ấy, chẳng cách gì gỡ ra.

Nhưng Cha đề nghị rằng là:

Cứ theo luật đã định mà thực thi.

Theo quan sửa ý,qủa thì,

Tôi nguyền không thể tùy nghi theo đời.

Như dòng nước chảy êm xuôi,

Chính quan viết án như lời Cha khai.

Và thêm,tuổi tám chục ngoài,

Chiếu theo phép nước không ai gia hình.

Xin lưu giam,án giảm khinh,

Giam ngay Nam-Định,án trình kinh đô.

Nhưng vua Tự-Đức không cho,

Phê:Lê-Bảo-Tịnh tội đồ trước đây.

Được tha về, há chẳng hay,

Còn làm đạo trưởng, tên này cả gan.

Đã không sám hối ăn năn,

Tốc hành trảm quyết, để răn dậy đời.

Trong tù không bị một roi,

Nhưng gông tay, cổ đồng thời xích chân.

Sau khi bị án,quan Tân,

Truyền giam trại Vệ, chút an ủi Ngài.

Đỡ hơn ngục thất thối, khai,

Thầy Lương, chánh Lý một hai chung đường.

Quyết xưng đạo,dõi noi gương,

Nhưng giam chỗ khác,thảm thương hơn nhiều.

Số người Công Giáo đã liều,

Họ vì non kém, tình yêu yếu mềm.

Tội danh:đánh tháo giữa đêm,

Cứu Cha Trạc trốn thoát êm khỏi tù.

Sáu người chối Chúa Giêsu,

Cha khuyên trở lại, chớ thù oán ai.

Người Công Giáo nhốt tại đây,

Đã hơn bảy tháng, khổ thay túng nghèo.

Cha luôn cảm mến thương yêu,

Giúp tiền,khuyên bảo vâng theo Chúa Trời.

Mười hai ngày trước khi rời,

Xa trần thế,đến ngụ nơi vĩnh hằng.

Viết thư thăm hỏi,khuyên rằng:

Các Thầy, các chú siêng năng chuyên cần.

Dùng lời Đức Mẹ chí nhân,

Trong kinh khen ngợi Chúa,phần riêng Cha,

Xin cầu nguyện viết rằng là:

Cha rầy đã quyết xông pha chiến trường.

Rất cần hỗ trợ tựa nương,

Các con hãy sốt sắng thương van nài.

Chúa cho Cha trọn việc Ngài,

Xảy ra ở chốn trần ai là dùng,

Cha xưng danh Chúa chí công.

Trước thiên hạ,đổ máu mong vẹn toàn.

Tiếp theo với ý khôn ngoan,

Cha nêu điển tích trấn an mọi người.

Ví nay cũng giống như thời,

Chúa xưa ngủ lúc biển đời phong ba.

Dường như Chúa bỏ chúng ta,

Nhưng không,Chúa sẽ tỏ ra uy quyền.

Truyền cho biển lặng sóng yên,

Thử xem ta có trung kiên mến Ngài?

Như Cha sửa dậy lỗi sai,

Quả là ý Chúa an bài mà thôi.

Tất nhiên ta chẳng thiệt thòi,

Phúc ân tử đạo có nơi dương trần.

Cho người ao ước được phần,

Cho người thanh sạch ái nhân,khiêm nhường.

Chỉ khao khát,Chúa cũng thương,

Đẹp lòng Chúa bởi biểu dương ước thèm.

Cha dùng Thánh địa Salem(Giêrusalem).

Có mười hai cửa,phải đem thân vào.

Cửa kim là đổ máu đào,

Cửa này chật hẹp,chớ xao xuyến lòng.

Còn mười một cửa trống không,

Cửa nào vào cũng thấy trong huy hoàng.

Cũng đều thấy Chúa Thiên đàng,

Cha nào có thấy ngỡ ngàng gì đâu.

Ngay khi bị bắt lúc đầu,

Tin là ý Chúa nhiệm mầu đẩy đưa.

Cha hằng cảm tạ sớm trưa,

Cùng xin ơn Chúa như mưa hộ trì.

Chở che đừng để suy vi,

Đức Cha, Linh-Mục vững đi an lành.

Chúng con chăm chỉ tập tành,

Tu thân tích đức học hành giỏi giang.

Xin cho đạo Chúa gia tăng,

Giáo dân, địa phận mở mang dưới trần.

Sau khi án đã thành văn,

Sau ba mươi tám ngày thân bị tù.

Bộ hình gửi án về khu,

Án về tới tỉnh đúng trù sớm mai.

Quan Tân ngao ngán thở dài,

Thấy vua không thuận,chỉ sai tử hình.

Xử ngay rồi báo về kinh,

Quan mời đến báo sự tình,hỏi Cha.

Bằng lòng qúa khóa may ra,

Cha hiên ngang đáp: thật là khó quên

Đội ơn quan,xác tôi hèn,

Mặc quan hành hạ, tôi nguyền không than.

Còn linh hồn qúy vô vàn,

Tôi không thể để mất oan phần này

Đạo chân thật giữ xưa nay,

Tôi yêu mến dẫu tan thây,đứt đầu

Không làm vừa ý vua đâu,

Niềm tin kiên vững đậm sâu đáy lòng.

Ánh hồng rực sáng trời đông,

Tháng Tư, buổi sáng ngày mồng sáu dương.

Chín giờ điệu đến pháp trường,

Tám trăm năm bảy lên đường hiến thân(1857).

Cha hiên ngang giữa thế nhân,

Áo dài thâm,chỉ thành phần chủ chăn.

Nghiêm trang thông lệ bao lần,

Đi dâng lễ biến hóa Thần lương thiêng.

Đôi chân giờ thoát xích xiềng,

Trong đôi dép,chẳng phải riêng xác phàm.

Điều này Cha cốt ý làm

Trang nghiêm khi hiến tế hàm ý lưu.

Dậy cho hậu thế một điều,

Tôn nghiêm đền đáp tình yên Chúa dành.

Tình nhân ái,tấm lòng thành,

Cha đi từ giã lính canh,bạn tù.

Ước lành vào cõi thiên thu,

Quan quân đem xử tưởng như kết đoàn.

Hai trăm nhân thể hân hoan,

Người lành lãnh chịu nghiệt oan giữa đời.

Hai kị mã, một thớt voi.

Tươi vui cầm sách chép lời Chúa ban.

Pháp trường Bảy Mẫu ngập tràn,

Người xem lòng trí miên man đôi bề.

Kẻ thương, người ghét, khen, chê,

Cha khuyên, Cha chúc họ về bình an.

Đạo lành chăm giữ vẹn toàn,

Đừng lo sợ ở trần gian giết mình.

Sợ Thiên Chúa, đấng uy linh,

Phạt hồn,cả xác thọ hình lửa thiêu.

Đến nơi Cha nói đôi điều,

Hô lên lớn tiếng cho nhiều người nghe.

Đạo Thiên Chúa thật mọi bề,

Dùng quyền phá huỷ chẳng hề lung lay.

Vốn còn,còn mãi sau này,

Càng đông tín hữu hơn ngày trước kia.

Nay tôi bị xử phải lìa,

Xa nhân thế chẳng để bia miệng đời.

Tôi vì giữ đạo Chúa Trời,

Tôi không trộm cướp,không lời chống vua.

Cũng không phe phái a dua,

Không hề phạm tội khác xưa đến rầy.

Lời người thông thái ngập đầy,

Can trường hiểu biết thật ngay lưu truyền.

Qua bao đời vẫn y nguyên

Lời tiên tri vọng vượt thiên niên còn.

Nêu lên ý chí sắt son,

Nhắc con dân Việt bảo tồn niềm tin.

Nhà thờ Vĩnh-Trị hằn in,

Xác Cha an giấc hồn nhìn thiên thu.

Nhà thờ Thánh hiệu Phêrô,

Lệnh tàn phá, hiện trơ trơ mặt nền.

Tối ngày trảm quyết nêu trên,

Bốn mươi người rước xác liền về đây.

Có Cha Kỳ giữa nhóm này,

Mở quan cho ngắm mặt mày của Cha.

Lần sau hết đã diễn ra,

Vết thương chém qúa mạnh và dơ cao.

Vạc hàm răng xuống từ đầu,

Lòng thương cảm, giọt lệ sầu ứa tuôn

Xác Cha Thánh Tịnh được chôn,

Ở gian thứ bốn vẫn còn lưu thương.

Gian trên khác táng Cha Hương(Bonnard)

Cùng Cha Hưởng để nêu gương cho đời.

Sáu mươi bảy tuổi kiếp người,

Linh hồn Cha Tịnh ngự nơi Thiên tòa.

Ngày nay đồng lúa bao la,

Nhờ dòng huyết lệ thấm qua đất lành.