I. TỰA ĐỀ: CON ĐƯỜNG THEO ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ (theo Tin Mừng Mác-cô)

II. MỤC TIÊU: Đề tài IX kết thúc Khóa Huấn Luyện về “Ơn gọi làm môn đệ Đức Giê-su Ki-tô của mọi Ki-tô hữu”. Đề tài này đề cao và nhấn mạnh đến chiều kích thập giá của con đường môn đệ, nhằm giúp các học viên ý thức và sẵn sàng chấp nhận hy sinh vì Đức Giê-su và vì Tin Mừng.

III. ĐOẠN VĂN THÁNH KINH : Mc 8,34-38

** Rồi Đức Giê-su gọi đám đông cùng với các môn đệ lại. Người nói với họ rằng:”Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Vì được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì người ta nào có lợi gì? Quả thật người ta lấy gì mà đổi lại mạng sống mình? Giữa thế hệ ngoại tình và tôi lỗi này, ai hổ thẹn vì tôi và những lời tôi dậy, thì Con Người cũng sẽ hổ thẹn vì kẻ ấy, khi Người ngự đến cùng với các thánh thiên thần, trong vinh quang của Cha Người.

IV. CÂU HỎI GỢI Ý :

1. Trong hành trình theo Đức Giê-su, các môn đệ đã phải “trầy trật” như thế nào?
2. Ông Bà Anh Chị đã khám phá ra “Mầu Nhiệm Thập Giá” trong cuộc sống người Ki-tô hữu ra sao? Mọi người hãy chia sẻ với nhau những nỗ lực Hy Sinh-Bỏ Mình-Vác Thập Giá và cũng hãy chia sẻ cả Niềm Vui, Hạnh Phúc của mình khi theo Đức Giê-su.

V. NỘI DUNG :

5.1 Trong khi kể chuyện Đức Giê-su, để đưa người nghe vào mầu nhiệm của Người, Mác-cô cũng đưa ra những mẫu người, cũng đơn sơ mộc mạc như các thính gỉa của Mác-cô, đã được Đức Giê-su dẫn vào trong mầu nhiệm của Người. Cách Đức Giê-su dẫn dắt và dạy dỗ bộc lộ cho người nghe con đường để trở thành môn đệ của Đức Giê-su. Con đường ấy có thể chia thành hai giai đoạn.

* Giai đoạn thứ nhất : đời sống môn đệ được đánh dấu bằng ba biến cố và xuyên qua ba bước:

A. Ba biến cố :
1o) Đức Giê-su gọi bốn người chài lưới để đi chinh phục người ta (Mc 1,16-20);
2o) Đức Giê-su chọn mười hai ông để ở lại với Người và để Người sai các ông đi (Mc 3,13-19);
3o) Và chính việc Người sai các ông đi (Mc 6,7-13).

B. Ba bước :

Bước 1 (Mc 1,16 - 3,6): Các ông không làm gì hơn là ở bên cạnh Đức Giê-su và Người bênh vực các ông;
Bước 2 (Mc 3,7 - 6,6): Các ông được đặt tương phản với những người thù ghét Đức Giê-su cũng như những người thân thuộc của Đức Giê-su, và tách khỏi đám đông: được dậy bảo riêng (Mc 4,1-34), được chứng kiến những phép lạ đặc biệt hơn (Mc 4,35-5,43).
Bước 3 : Nhóm Mười Hai được sai đi rao giảng rồi được tham gia việc nuôi đám đông. Nhưng sự chậm hiểu và cứng tin của các ông như đi ngược chiều với những cố gắng của Đức Giê-su (Mc 4,13; 6,52; 7,18; 8,14-21), càng lúc đầu các ông càng đặc lại. Phép lạ Đức Giê-su chữa người mù (Mc 8,22-26) có tác dụng làm mẫu và mở mắt cho các ông trước khi Người hỏi các ông một câu quyết liệt.
* Giai đoạn thứ hai : ba lần Đức Giê-su loan báo cuộc Thương Khó-Phục Sinh và dạy về những đòi hỏi của đời môn đệ. Trước giáo huấn về thập giá các ông vẫn tỏ ra chậm hiểu, chậm tin. Giai đoạn này cũng kết thúc bằng việc Đức Giê-su chữa người mù và anh ta đi theo Người. Chỉ có Chúa là Đấng có quyền năng mở con mắt thể xác, mới có quyền năng mở con mắt linh hồn cho các ông.
Chỉ sau Phục Sinh Đức Giê-su bắt đầu lại với các ông ở Ga-li-lê, các ông mới được biến đổi thật sự.
Con đường của Thầy là con đường Thập Giá-Phục Sinh thì người môn đệ cũng không có con đường nào khác ngoài con đường Thập Gía và Phục Sinh mà Thầy đã đi!

5.2 Tin Mừng Mác-cô là một cuốn “sách khai tâm” dành cho những người mới trở thành Ki-tô hữu. Sách ấy nhằm mục đích dạy chúng ta biết môn đệ đích thực của Đức Giê-su là những người nào và làm thế nào để trở thành môn đệ Đức Giê-su? Sách Tin mừng Mác-cô gồm hai phần, dài gần bằng nhau. Điều kết thúc phần thứ nhất và bắt đầu phần thứ hai của sách Tin Mừng ấy chính là câu hỏi liên quan tới con người Đức Giê-su: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Và câu trả lời của Phêrô: “Thầy là Đấng Kitô” (Mc 8,29). Sau đó là bắt đầu việc huấn luyện các môn đệ. Chúng ta có thể gọi phần thứ nhất là Hành trình qua Ga-li-lê (Mc 1,16-8,21) và gọi phần thứ hai là Hành trình đi Giê-ru-sa-lem (Mc 8,27-10,45). Hành trình ấy kết thúc tại chính Giê-ru-sa-lem (11,1-15,39).

5.2.1 Phần thứ nhất của ơn gọi làm môn đệ Đức Giê-su trong Tin Mừng Mác-cô cũng có thể được gọi là Mùa Xuân của Ơn gọi Môn đệ, là thời gian môn đệ sống với Thầy ở Ga-li-lê. Quả đúng là những ngày phấn khởi, đầy ắp niềm vui và đầy trọng vọng. Các môn đệ trở thành những người quan trọng. Họ chìm đắm trong sự thành công của Thầy. Họ được tôn kính và được coi là những con người may mắn. Có nhiều chuyến đi liên tục. Họ không có cả giờ để ăn uống. Ước vọng của họ rất cao. Nhưng họ còn cả một chặng đường dài phải trải qua trước khi họ trở thành môn đệ đích thực của Người.

Cuộc hành trình qua Ga-li-lê kết thúc với hai cuộc chữa lành hai người mù. Cả hai câu chuyện ấy chỉ tìm thấy trong Tin Mừng Mác-cô mà thôi. Câu chuyện thứ nhất xảy ra tại Bết-sai-đa trước lời tuyên xưng đức tin của Phê-rô (Mc 8,22-26). Câu chuyện thứ hai là câu chuyện anh hành khuất mù Ba-ti-mê tại Giê-ri-khô khi Đức Giê-su đã quyết định đi Giê-ru-sa-lem để đương đầu với số phận cuối cùng của mình là tử nạn thập giá (Mc 10,46-51).
Mác-cô miêu tả thế nào là người môn đệ đích thực trong đoạn 8,27-10,45 và mở đầu giai đoạn này bằng việc chữa lành người mù (8,22-26). Việc chữa lành được thực hiện trong hai đợt. Ơ cuối của toàn bộ các chương về môn đệ, Mác-cô lại trình bày một cuộc chữa lành một người mù tên là Bác-ti-mê (10,46-52). Ơ đây, việc chữa lành xảy ra ngay tức khắc. Ba-ti-mê được chữa lành hoàn toàn và sau khi vất áo choàng lại, anh ta bước theo Đức Giê-su để đi Giê-ru-sa-lem.

Dường như Mác-cô muốn đặt song song hai yếu tố: việc chữa lành hai người mù với thái độ của Phê-rô và của các môn đệ: việc chữa lành người mù ở Bết-xai-đa được thực hiện cách từ từ, giống như việc Phê-rô và các môn đệ khám phá ra Đức Giê-su cũng từ từ, thành nhiều đợt. Mặt khác, Mác-cô coi Ba-ti-mê như biểu tượng của bất kỳ người môn đệ nào khi đã nhận thức hoàn toàn được Ơn gọi của mình. Bao lâu mà Ba-ti-mê không thể nhìn thấy đường, thì bấy lâu anh không thể bước đi trên con đường ấy. Tất cả điều anh có thể làm được lúc bấy giờ là ngồi ở vệ đường (10,46). Sự tương phản giữa trước và sau lúc anh được chữa lành là hiển nhiên: lúc đầu Ba-ti-mê là anh chàng mù ngồi bên vệ đường; lúc sau Ba-ti-mê là anh chàng sáng mắt bước theo Đức Giê-su (10,52). Chỉ sau khi được Đức Giê-su chữa lành anh mới có thể đi theo Người: bất cứ ai không nhìn thấy tức không nhận ra Đức Giê-su đều không thể đi theo Người, và bất cứ ai không đi theo Người đều không nhận ra Người.

5.2.2 Phần thứ hai của Tin Mừng Mác-cô và cũng là của Ơn gọi làm Môn đệ: đó là hành trình đi Giê-ru-sa-lem. Trong giai đoạn thứ hai này các môn đệ phải theo Thầy xuống Gie-ru-sa-lem với cái viễn ảnh sẽ bị đóng đinh thập giá với Thầy. Tại Ga-li-lê là sân khấu cuộc đời công khai, Đức Giê-su hoàn toàn làm chủ. Người đóng vai chủ động: Người gọi các môn đệ, Người chữa lành bệnh nhân và họ đáp lại Người, Người khai trừ ma quỷ và chiến đấu với kẻ thù của Người. Tại Giê-ru-sa-lem là sân khấu của cuộc tử nạn, Đức Giê-su đóng vai thụ động: ”Người bị nộp” là câu được dùng tới 22 lần.

Để đưa các môn đệ của mình vào con đuờng làm môn đệ, Đức Giê-su đặt câu hỏi quyết định: “Người ta bảo Thầy là ai?” Nhưng câu hỏi thật sự lại là: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”

Con đường của Thầy không phải là con đường đi lên, đi lên mãi. Mà con đường ấy là con đường đi xuống và sẽ tới một khúc dốc: dẫn tới Giê-ru-sa-lem (bị bắt, bị tra tấn, đánh đập, phỉ nhổ và kết án tử) dẫn tới thập giá (bị đóng đinh trần truồng trên thập giá, bị chế nhạo, bị chết). Liệu các môn đệ có sẵn sàng đi với Thầy xuống con đường dốc ấy không? Phê-rô với tư cách người lãnh đạo các ông, đã đưa ra câu trả lời khởi đầu: KHÔNG! (Mc 8,33). Nhưng không chỉ có một mình Phê-rô là người không thể chấp nhận ý tưởng một Đấng Mê-si-a đau khổ và bị loại trừ (đọc Mc 9,34; 10,32-34) mà tất cả các môn đệ đều như thế!

Theo Mác-cô thì Đức Giê-su hiểu về người môn đệ phải là người muốn đi với Thầy đến Giê-ru-sa-lem, chịu đau khổ và bị loại trừ. Ba-ti-mê là gương mẫu: anh vất áo choàng lại, có nghĩa là anh bỏ lại đằng sau tất cả mọi an toàn bản thân, mọi sở hữu của người nghèo…như các môn đệ đầu tiên (1,18-20) đã bỏ tất cả và đi theo Đức Giê-su. Bây giờ chúng ta đã thấy rõ thế nào là môn đệ đối với Mác-cô: là người đi theo Thầy-từ bỏ chính mình-vác thập giá mình.
(John Fuellenbach, Throu Fire, The handbook of Mark, trang 76-80).

VI. SỨ ĐIỆP:

Hạt lúa gieo vào lòng đất mà không thối nát đi thì không sinh hoa trái. Chỉ khi nào thối nát đi, hạt lúa ấy mới sinh bông kết trái, bông năm mươi, bông một trăm.

VII. SỐNG SỨ ĐIỆP :

7.1 Được Đức Giêsu mời gọi để sống với Người, để Người sai đi, để cùng vác thập giá với Người, để chấp nhận một thân phận bị khinh rẻ, bị loại trừ, bị giết chết: Ơn gọi của tôi thật quá khó! thật đòi hỏi! Nhưng đó là ơn gọi cao quí, là đòi hỏi của Tình yêu: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của con người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Hãy cảm tạ Đức Giê-su đã ban cho chúng ta Ơn gọi làm Môn đệ Người, đã đòi hỏi tôi nên giống Người.

7.2 Chúng ta trông cậy và phó thác vào Chương Trình Kế Hoạch của Cha, vào Sức Mạnh và Sự Nâng Đỡ của Thánh Thần để thực thi Ơn gọi và nên giống Đức Giê-su. Chúng ta có thể mượn kinh Phó Dâng của Cha Charles de Foucauld mà cầu nguyện:

Lạy Cha,
Con phó mình con cho Cha,
Xin hãy làm nơi con mọi sự đẹp ý Cha,
Cha làm chi mặc lòng, con cũng cám ơn Cha.
Con sẵn sàng luôn luôn,
Con nhận lãnh tất cả,
Miễn ý Cha đuợc làm trọn trong con,
Trong tất cả mọi loài Cha tạo dựng.
Con chẳng ước muốn chi khác nữa,
Lạy Cha là Chúa Trời con,
Con dâng linh hồn con cho Cha,
Con phó linh hồn con cho Cha,
Với tất cả tình yêu của lòng con,
Vì con mến Cha, và vì mến Cha,
Nên con thấy cần phải hiến thân con,
Phó trót mình con cho Cha,
Không do dự đắn đo, song vô cùng tin cậy
Vì Cha là Cha của con
.
Amen.