5. Nhà mồ và vai trò của tôn giáo.
Tưởng nhớ người quá cố là hành vi đầu tiên biểu lộ niềm tin tôn giáo của người còn sống đối với người quá cố.
Từ lý thuyết sơ khai về hai cõi Âm - Dương cách trở, người nguyên thủy đã nghĩ đơn giản rằng: Âm sao Dương vậy, nên đã chôn cùng người chết những dụng cụ lao động và những gì thường dùng khi người quá cố còn cống. Người xưa nghĩ về một thế giới khác với thế giới họ đang sống, tuy không nhìn thấy mà vẫn rất gần gũi. Những tai họa trong thiên nhiên hay những biến cố tai ương trong cuộc sống ban đầu là thường gán cho những người chết dữ, cho nên không chỉ cúng bái với người chết lành mà còn cúng bái những người chết dữ để đổi lấy sự yên bình.
Niềm tin vào đời sau làm nên tâm thức đầu tiên về tôn giáo, một tôn giáo sơ khai như tín ngưỡng phồn thực cũng thấy dấu chứng của việc thờ những gì biểu hiện sự sống. Biểu tượng được thờ ấy chứng tỏ rằng, con người chết không phải là hết, cái chết sự dữ này có liên quan với môi trường thiên nhiên, từ đấy ta thấy phát sinh một nguồn thờ kính khác: Bà Trời - Bà Mẹ Đất- Bà Mẹ Nước - Bà Mẹ Sản Sinh. Sự chuyển hóa đối tượng thờ kính cho thấy rằng tâm thức về tôn giáo có tiến trình đi lên vươn cao hơn nữa để trả lời cho vấn đề về số phận con người phải chết. Con người xưa biết rằng giới hạn của con người tới một mức nào đó và có sự tùy thuộc vào một Năng Lực siêu nhiên nào đó mà người ta gọi là Bà Trời - Bà Mẹ Đất - Bà Mẹ Nước - Bà Mẹ Lúa. Năng lực ấy người bình dân lại không thể siêu nhiên hóa mãi được, nên cần phải có hình dong, cần phải có hình tượng và từ ấy tin rằng có các Mẫu: Thượng Thiên - Địa - Thượng Ngàn - Thoải trong hệ thống tứ phủ gặp trong Đạo Mẫu. Mẫu Ya na, Mẫu Cửu Trùng hay Cửu Thiên Huyền Nữ, gặp ở Huế là Thiên Mụ… Từ các mẫu lớn cũng có những Mẫu nhỏ như Nữ thần Sấm, Chớp, Mây, Mưa. Song song với những quyền lực tự nhiên còn có quyền lực của mãnh thú: Tiên - Rồng biểu tượng sức mạnh sinh sản siêu việt của người Việt. Hồng Bàng là Con chim lớn miền sông nước biểu thị cho sức mạnh che chở, bảo vệ. Rồng Tiên, Hồng Bàng được chuyển hóa vào những địa danh như : Hàm Long, Thăng Long, Hạ Long, Cửu Long, Vĩnh Long, Hồng Hà, Hồng Ngự…
Quy luật tuần hòan lại một lần nữa thấy trong tâm thức tôn giáo khai nguyên: Con người - Siêu nhiên - Con người. Từ tâm thức gắn bó với Siêu nhiên ta lại thấy trở về với con người như cách gọi Bà Trời, Bà Đất… rồi thấy trở lại với con người. Về gốc lần này con người nhận ra chính mình: Con người không chỉ là xác thể mà còn có hồn linh. Xác thể là một hồn linh thì có Hồn và vía. Hồn linh của con người đi từ suy tư ước lệ theo số lẻ nên dân gian tin rằng mỗi người có 3 hồn, nam có 7 vía, nữ thì 9 vía. Tại sao nữ lại có nhiều vía hơn nam, bởi vì thực tế cho thấy rằng người nữ trước sự cố bất ngờ thì bình tĩnh hơn nam, nhiều vía hơn nên chậm rúng động “hết hồn hết vía” hơn. Cũng có người cho rằng vía là trung gian giữa xác thể và hồn, cai quản các cửa ngõ ra vào như hai tai, hai lỗ mũi, hai mắt và miệng đối với nam và nữ có thêm nơi sanh nở và cho con bú.
Hồn và vía còn lại sau khi xác thể đi vào trạng thái tĩnh, nên có nhu cầu cúng kiến phần động, người ta thường xá lạy hồn vía ông bà ông vải vì tin rằng các cụ vẫn ở đâu đấy với con cháu phảng phất qua khói hương. Từ tín ngưỡng đến đạo cách xa nhau một hệ thống và nền luân lý đạo thường. Tín ngưỡng thì không thấy bài giáo pháp cũng không thấy một hệ thống, hệ thống hình thành bắt nguồn từ tính tôn ty trật tự ở trong gia đình khi thờ kính người đã khuất. Đạo lý cũng vậy, là sống những điều cha ông đã sống, giữ lấy lề, giữ lấy nhân nghĩa, để mà sống hài hòa với nhau. Tín ngưỡng hay đạo, khác nhau ở từ ngữ và cũng khác nhau ở giai đọan tiến triển. Ý thức về đạo thì rõ ràng hơn và có hướng dẫn cụ thể hơn ở giai đọan tín ngưỡng. Từ Đạo đã diễn tả nội dung đi đâu về đâu, bởi đạo là là đường đi, có định hướng, có bao hàm nội dung để sống những giá trị thần linh.
Đạo bước vào cõi tâm linh như một kim chỉ nam hướng dẫn đời sống con người đi đâu và về đâu, trả lời cho con người về câu hỏi nguồn gốc và đích điểm của cuộc đời, giải mã cho con người những uẩn khúc đau thương trong cuộc sống, hướng dẫn con người sống những giá trị linh thiêng giữa một thế giới phù du vật chất… Vai trò tôn giáo và tâm linh làm cho con người xứng đáng là con người, vượt xa các loài được tạo dựng khác.
6. Ấn Giáo.
Ở Ấn Độ giáo cổ xưa, cung vòng tròn theo quan niệm tuần hòan được diễn tả qua các sách Sử Thi, Kinh, cho thấy nguyên sơ đi từ tính chất phong nhiêu của cuộc sống đến quan niệm Vị Thần Sáng Tạo và cuối cùng trở về với con người đang sống trong thực tại đang trên đường trở vế nơi mình đã xuất phát ra. Như vậy, thấy ngay lược đồ: Hiện tượng - Thần linh - Con người, là những giềng mối cơ bản trong cách thức tìm các câu trả lời cho vận mệnh đời người. Về nguồn gốc, với Ấn Độ Giáo tìm về Nhất nguyên gọi vị Thần sáng tạo Tối Thượng là Brahman (Đại Hồn), là căn nguyên cội nguồn cho mọi sinh sống, từ Brahman sinh ra Atman (Tiểu Hồn), con đường Atman trở về với Brahman là con đường của tôn giáo hướng dẫn. Ấn Độ giáo quan niệm con người và linh hồn như chiếc xe ngựa kéo, thân xác là chiếc xe và người lái ngựa là linh hồn, linh hồn cần chế ngự thân xác, để thân xác chạy khỏi lạc hướng, và tới cùng đích. Chính vì thế, chế ngự thân xác trở nên một nhu cấu thiết bách để Atman trở về hợp nhất với Brahman.
Để chế ngự thân xác Upanishads đề ra ba con đường giải thoát:
Con đường tri thức giải thóat: Dành riêng cho số ít người với phương pháp trầm tư và Yoga, phương pháp này giúp thân xác ít lệ thuộc vào ngoại giới hơn và rút sâu vào cõi tâm linh. Cõi tâm linh sâu thẳm ấy cũng được phát biểu là Brahman, chính trong mỗi người cũng đang trút bỏ Atman trở về với Brahman, khi kiềm chế và trút bỏ thân xác.
Con đường hành động: Có những hành động bắt nguồntừ những dục vọng đen tối đưa đến sự tiêu diệt, cũng có những hành động đưa đến hiệu quả trường sinh, giải thoát khỏi vòng luân hồi. Người theo con đường hành động, cần chắt lọc để chọn lựa những hành vi mang hiệu quả tốt cho lần sinh sau, và khi đã đủ hành động tốt họ được giải thóat khỏi luân hồi. Theo con đường này, xã hội Ấn Độ đã hình thành thể chế giai cấp. Ai ở trong giai cấp nào cứ hành động theo bổn phận giai cấp của mình để đạt hiệu quả tái sinh. Trên thực tế con đường hành động khó có thể đưa tới giải thoát, bởi vì chằng chéo rất nhiều bổn phận với những tác động khác, ngay trong sử thi cũng đưa các nhân vật bị giằng co giữa tình yêu và bổn phận.
Con đường sùng mộ: Con đường sùng mộ là con đường phổ quát dành cho mọi người ở trong mọi tầng lớp giai cấp, lòng sùng mộ Đấng Tối cao sẽ hướng dẫn hành động điều gì làm đẹp lòng Ngài, Từ đó phát sinh hiệu quả cho việc tái sinh.
Luân hồi là biểu hiện kiếp trầm luân và cũng biểu hiện khát vọng sống dồi dào, từ trạng thái này bước sang trạng thái khác cho đến khi trở về với Brahman thực sự, nghĩa la ra khỏi vòng luân hồi. Còn trong vòng luân hồi là còn ở giữa sinh và tử, đau thương này cho tới đau thương khác, cũng không hẳn là đau thương nhưng Ấn giao cho thấy tính tương đối của sự vật và hiện hữu, con người giữa phù sinh đi tìm chân lý vĩnh cửu. Khát vọng sống dồi dào biểu lộ trong khi tìm chân lý vĩnh cửu.
Chân lý vĩnh cửu của sự sống được tìm kiếm trong nhiều nguồn mạch tôn giáo khởi nguyên từ Ấn Độ.
Tưởng nhớ người quá cố là hành vi đầu tiên biểu lộ niềm tin tôn giáo của người còn sống đối với người quá cố.
Từ lý thuyết sơ khai về hai cõi Âm - Dương cách trở, người nguyên thủy đã nghĩ đơn giản rằng: Âm sao Dương vậy, nên đã chôn cùng người chết những dụng cụ lao động và những gì thường dùng khi người quá cố còn cống. Người xưa nghĩ về một thế giới khác với thế giới họ đang sống, tuy không nhìn thấy mà vẫn rất gần gũi. Những tai họa trong thiên nhiên hay những biến cố tai ương trong cuộc sống ban đầu là thường gán cho những người chết dữ, cho nên không chỉ cúng bái với người chết lành mà còn cúng bái những người chết dữ để đổi lấy sự yên bình.
Niềm tin vào đời sau làm nên tâm thức đầu tiên về tôn giáo, một tôn giáo sơ khai như tín ngưỡng phồn thực cũng thấy dấu chứng của việc thờ những gì biểu hiện sự sống. Biểu tượng được thờ ấy chứng tỏ rằng, con người chết không phải là hết, cái chết sự dữ này có liên quan với môi trường thiên nhiên, từ đấy ta thấy phát sinh một nguồn thờ kính khác: Bà Trời - Bà Mẹ Đất- Bà Mẹ Nước - Bà Mẹ Sản Sinh. Sự chuyển hóa đối tượng thờ kính cho thấy rằng tâm thức về tôn giáo có tiến trình đi lên vươn cao hơn nữa để trả lời cho vấn đề về số phận con người phải chết. Con người xưa biết rằng giới hạn của con người tới một mức nào đó và có sự tùy thuộc vào một Năng Lực siêu nhiên nào đó mà người ta gọi là Bà Trời - Bà Mẹ Đất - Bà Mẹ Nước - Bà Mẹ Lúa. Năng lực ấy người bình dân lại không thể siêu nhiên hóa mãi được, nên cần phải có hình dong, cần phải có hình tượng và từ ấy tin rằng có các Mẫu: Thượng Thiên - Địa - Thượng Ngàn - Thoải trong hệ thống tứ phủ gặp trong Đạo Mẫu. Mẫu Ya na, Mẫu Cửu Trùng hay Cửu Thiên Huyền Nữ, gặp ở Huế là Thiên Mụ… Từ các mẫu lớn cũng có những Mẫu nhỏ như Nữ thần Sấm, Chớp, Mây, Mưa. Song song với những quyền lực tự nhiên còn có quyền lực của mãnh thú: Tiên - Rồng biểu tượng sức mạnh sinh sản siêu việt của người Việt. Hồng Bàng là Con chim lớn miền sông nước biểu thị cho sức mạnh che chở, bảo vệ. Rồng Tiên, Hồng Bàng được chuyển hóa vào những địa danh như : Hàm Long, Thăng Long, Hạ Long, Cửu Long, Vĩnh Long, Hồng Hà, Hồng Ngự…
Quy luật tuần hòan lại một lần nữa thấy trong tâm thức tôn giáo khai nguyên: Con người - Siêu nhiên - Con người. Từ tâm thức gắn bó với Siêu nhiên ta lại thấy trở về với con người như cách gọi Bà Trời, Bà Đất… rồi thấy trở lại với con người. Về gốc lần này con người nhận ra chính mình: Con người không chỉ là xác thể mà còn có hồn linh. Xác thể là một hồn linh thì có Hồn và vía. Hồn linh của con người đi từ suy tư ước lệ theo số lẻ nên dân gian tin rằng mỗi người có 3 hồn, nam có 7 vía, nữ thì 9 vía. Tại sao nữ lại có nhiều vía hơn nam, bởi vì thực tế cho thấy rằng người nữ trước sự cố bất ngờ thì bình tĩnh hơn nam, nhiều vía hơn nên chậm rúng động “hết hồn hết vía” hơn. Cũng có người cho rằng vía là trung gian giữa xác thể và hồn, cai quản các cửa ngõ ra vào như hai tai, hai lỗ mũi, hai mắt và miệng đối với nam và nữ có thêm nơi sanh nở và cho con bú.
Hồn và vía còn lại sau khi xác thể đi vào trạng thái tĩnh, nên có nhu cầu cúng kiến phần động, người ta thường xá lạy hồn vía ông bà ông vải vì tin rằng các cụ vẫn ở đâu đấy với con cháu phảng phất qua khói hương. Từ tín ngưỡng đến đạo cách xa nhau một hệ thống và nền luân lý đạo thường. Tín ngưỡng thì không thấy bài giáo pháp cũng không thấy một hệ thống, hệ thống hình thành bắt nguồn từ tính tôn ty trật tự ở trong gia đình khi thờ kính người đã khuất. Đạo lý cũng vậy, là sống những điều cha ông đã sống, giữ lấy lề, giữ lấy nhân nghĩa, để mà sống hài hòa với nhau. Tín ngưỡng hay đạo, khác nhau ở từ ngữ và cũng khác nhau ở giai đọan tiến triển. Ý thức về đạo thì rõ ràng hơn và có hướng dẫn cụ thể hơn ở giai đọan tín ngưỡng. Từ Đạo đã diễn tả nội dung đi đâu về đâu, bởi đạo là là đường đi, có định hướng, có bao hàm nội dung để sống những giá trị thần linh.
Đạo bước vào cõi tâm linh như một kim chỉ nam hướng dẫn đời sống con người đi đâu và về đâu, trả lời cho con người về câu hỏi nguồn gốc và đích điểm của cuộc đời, giải mã cho con người những uẩn khúc đau thương trong cuộc sống, hướng dẫn con người sống những giá trị linh thiêng giữa một thế giới phù du vật chất… Vai trò tôn giáo và tâm linh làm cho con người xứng đáng là con người, vượt xa các loài được tạo dựng khác.
6. Ấn Giáo.
Ở Ấn Độ giáo cổ xưa, cung vòng tròn theo quan niệm tuần hòan được diễn tả qua các sách Sử Thi, Kinh, cho thấy nguyên sơ đi từ tính chất phong nhiêu của cuộc sống đến quan niệm Vị Thần Sáng Tạo và cuối cùng trở về với con người đang sống trong thực tại đang trên đường trở vế nơi mình đã xuất phát ra. Như vậy, thấy ngay lược đồ: Hiện tượng - Thần linh - Con người, là những giềng mối cơ bản trong cách thức tìm các câu trả lời cho vận mệnh đời người. Về nguồn gốc, với Ấn Độ Giáo tìm về Nhất nguyên gọi vị Thần sáng tạo Tối Thượng là Brahman (Đại Hồn), là căn nguyên cội nguồn cho mọi sinh sống, từ Brahman sinh ra Atman (Tiểu Hồn), con đường Atman trở về với Brahman là con đường của tôn giáo hướng dẫn. Ấn Độ giáo quan niệm con người và linh hồn như chiếc xe ngựa kéo, thân xác là chiếc xe và người lái ngựa là linh hồn, linh hồn cần chế ngự thân xác, để thân xác chạy khỏi lạc hướng, và tới cùng đích. Chính vì thế, chế ngự thân xác trở nên một nhu cấu thiết bách để Atman trở về hợp nhất với Brahman.
Để chế ngự thân xác Upanishads đề ra ba con đường giải thoát:
Con đường tri thức giải thóat: Dành riêng cho số ít người với phương pháp trầm tư và Yoga, phương pháp này giúp thân xác ít lệ thuộc vào ngoại giới hơn và rút sâu vào cõi tâm linh. Cõi tâm linh sâu thẳm ấy cũng được phát biểu là Brahman, chính trong mỗi người cũng đang trút bỏ Atman trở về với Brahman, khi kiềm chế và trút bỏ thân xác.
Con đường hành động: Có những hành động bắt nguồntừ những dục vọng đen tối đưa đến sự tiêu diệt, cũng có những hành động đưa đến hiệu quả trường sinh, giải thoát khỏi vòng luân hồi. Người theo con đường hành động, cần chắt lọc để chọn lựa những hành vi mang hiệu quả tốt cho lần sinh sau, và khi đã đủ hành động tốt họ được giải thóat khỏi luân hồi. Theo con đường này, xã hội Ấn Độ đã hình thành thể chế giai cấp. Ai ở trong giai cấp nào cứ hành động theo bổn phận giai cấp của mình để đạt hiệu quả tái sinh. Trên thực tế con đường hành động khó có thể đưa tới giải thoát, bởi vì chằng chéo rất nhiều bổn phận với những tác động khác, ngay trong sử thi cũng đưa các nhân vật bị giằng co giữa tình yêu và bổn phận.
Con đường sùng mộ: Con đường sùng mộ là con đường phổ quát dành cho mọi người ở trong mọi tầng lớp giai cấp, lòng sùng mộ Đấng Tối cao sẽ hướng dẫn hành động điều gì làm đẹp lòng Ngài, Từ đó phát sinh hiệu quả cho việc tái sinh.
Luân hồi là biểu hiện kiếp trầm luân và cũng biểu hiện khát vọng sống dồi dào, từ trạng thái này bước sang trạng thái khác cho đến khi trở về với Brahman thực sự, nghĩa la ra khỏi vòng luân hồi. Còn trong vòng luân hồi là còn ở giữa sinh và tử, đau thương này cho tới đau thương khác, cũng không hẳn là đau thương nhưng Ấn giao cho thấy tính tương đối của sự vật và hiện hữu, con người giữa phù sinh đi tìm chân lý vĩnh cửu. Khát vọng sống dồi dào biểu lộ trong khi tìm chân lý vĩnh cửu.
Chân lý vĩnh cửu của sự sống được tìm kiếm trong nhiều nguồn mạch tôn giáo khởi nguyên từ Ấn Độ.