B. Sự phát triển theo chiều hướng bác học.

Theo hướng phát triển bác học, hình thành từ ngôi mộ từ nguyên sơ đã thấy rõ ràng hai cõi Âm - Dương cách biệt nhau. Cũng thế đi từ sinh truởng con người cũng cần đến có cặp Cha - Mẹ, sự sinh sản của hoa màu thì do hai yếu tố Đất - Trời, về giống loại cần có Đực - Cái. Điều khái quát đầu tiên là con đường đi vào triết lý Âm - Dương.

Triết lý Âm - Dương, theo quy luật chuyển dịch mà sinh hóa muôn loài.

Kinh Dịch là một bộ sách cổ trong Ngũ Kinh của Trung Hoa, theo truyền thuyết từ thời Thượng cổ, vua Phục Hy (4477 - 4363 B.C) nhìn thấy những dâu vết trên lưng long mã nổi trên sôngHòang Hà mà lập ra Hà Đồ, vạch ra tiên thiên bát quái gồm 8 quẻ, mỗi quẻ có 3 gách, gách liền là Dương, gách đứt biểu thị Âm. Từng đôi quẻ chồng lên nhau (gồm 6 vạch) qua 8 quẻ tạo nên 64 quẻ kép. Đời nhà Hạ, vua Đại Vũ (2205 - 1766 B.C) nhân lúc trị thủy thấy dấu vết trên con rùa rhần trên sông Lạc mới lập ra Lạc Thư. Kinh dịch đến đây vẫn chỉ là lý thuyết chưa thành văn tự, khi vua Văn Vương bị bắt giam, ông mới dùng các thẻ của Phục Hy lập thành hâu thiên bát quai, dùng văn tự ghi lại những tốt xấu của từng quẻ. Dịch lý thì uyên thâm, phải tới khi Khổng Tử (551 - 479 B.C) mới khai sáng bằng những thiên truyện của mình gọi là Thập dực. Từ đó Dịch học phát triển mạnh mẽ và phong phú.

Dịch trở thành Đạo, một hôm Khổng Tử đứng bên bờ sông thấy nước chảy, nước chảy là một hiện tượng thiên nhiên, nhưng với Khổng Tử thì lại khác: “Chảy mãi như thế kia, ngày đêm chẳng ngừng”. Hiện tượng chảy ấy thấy trong trời đất, hết đêm lại ngày, hết lạnh rồi nóng, hết sáng rồi tồi, sống rồi chết, sinh hóa mãi chẳng dừng. Cái gì là gốc của sự dịch chuyển ấy, đó là Đạo, Đạo sinh hóa không ngừng. Cái gì sinh, Chu Hy nói: “Âm sinh Dương, Dương sinh Âm, sự biến hóa thì vô lường”. Nguyên lý sinh hóa là sự dịch chuyển của Âm - Dương qua lại. Nguyên lý này được phát biểu dựa trên hai quy luật:

Quy luật về bản chất các thành tố: Không có gì hòan tòan Âm hoặc hòan tòan Dương, trong Âm có Dương, trong Âm có Dương, trong Dương có Âm. Dương - Âm tuy hai mà một. Một đó là Thái Cực, Soothill mô tả tả bằng cái chất lỏng thun giãn. Sau thời gian dài họat động và theo một đường vòng, Thái Cực phân thành hai, một phần tử nhẹ là trời, một phần nặng là đất. Sự thun giãn của Thái Cực làm nên sự sinh hóa và được phát biểu trong Dương có Âm và trong Âm có Dương.

Quy luật sinh hóa: Dương sinh Âm, Âm sinh Dương, Âm - Dương luôn chuyển hóa mà sinh. Chu Hy nói rằng: “Thái Cực tự nó bao hàm cái lý của sự động tĩnh, không nên lấy trạng thái động tĩnh mà phân chia thể dụng, bởi vì tĩnh là thể của Thái Cực, còn động tức là dụng của Thái Cực”. “Âm - Dương chỉ là một khí. Khí Âm lưu hành tức là Dương, khí Dương ngưng tụ tức là Âm. Dịch nói: Sinh rồi lại sinh, thì gọi là Dịch”. Theo nguyên tắc vật lý học Mervil Berger phát biểu: “chúng ta hãy nhớ rằng hai điện tích cùng dấu sẽ đẩy nhau, chúng chỉ hấp dẫn khi hai điện tích khác dấu”. Nói tóm kết lại, sự vật thay đổi vì chúng chứa đựng mâu thuẫn nội tại.

Lý giải Âm - Dương dựa trên trực quan của sự sống con người và muôn loài, con người và muôn loài có sinh có tử, có sanh có diệt (nói theo Nhà Phật), Sanh và tử nối tiếp nhau, giữa sinh và tử nguồn gốc là gì? Đó là câu hỏi để tìm đến câu trả lời cuối cùng phải có Một Đấng Thượng Trí, Tòan năng, Tòan Lực. Đấng đó là ai, Dịch không nói là Thái Cực bởi vì trên Thái Cực còn có Vô Cực, trên Vô Cực là gì? Có nhiều câu trả lời, do ngẫu nhiên hay có một Đấng Sáng Tạo. Sách không nói rõ.

Trời đất thay đổi, vạn vật thay đổi vậy vận mệnh của con người giữa sinh và tử là gì? Có thể bi quan như Ôn Như Hầu:

“Tuồng huyễn hóa bày ra đấy

Kiếp phù sinh trông thấy mà đau

Trăm năm còn có gì đâu

Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì?”

Có thể lại cũng lạc quan để thấy rằng: “Chẳng ai giàu ba đời hoặc khó đến ba đời”, bởi vì nhận thấy rằng: “Qua cơn mưa trời lại sáng” và cũng thấy rằng “Trời sinh voi rồi trời sinh cỏ”. Triết gia Héraclite (1766 - 1122 B.C) nhận thấy : “Người ta không bao giờ tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Sự sống con người dẫu có đi qua những nẻo xuôi ngược vẫn có một ý nghĩa cao thượng và vượt trên mọi loài. Sống là điều quan trọng như Đạo Dịch nói: “Sinh rồi lại sinh”. Chỉ khác với lần sinh trước, sinh sau là gì thì chưa biết nhưng chắc chắn rằng vẫn là sinh vượt trội hơn lần sinh trước.

Quan niệm cách lạc quan hay bi quan đều diễn tả hai trạng thái của quy luật của Đạo Dịch: Dịch là biến dịch: Âm - Dương đều động, theo Trung Dung: “có động thì biến”. Dịch là bất Dịch, là theo lẽ thường hằng làm nên quy luật, Âm tiến Dương lùi, Dương Tiến Âm lùi, “Biến hóa giả, tiến thoái chi tượng dã, cương nhu giả, trú dạ chi tượng dã”. Theo quy luật thường hằng đó, người xưa phát biễu “thịnh cực tắc suy, vật cùng tắc biến”.

Từ những quy luật đó, người Trung Hoa có quan niệm về tuần hòan, theo một chu kỳ vòng tròn, những vận hành đó quay về gốc, nên theo Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử, Dịch học gọi đólà “phản phục”, nghĩa là quay về gốc. Gốc ở đây là Âm - Dương, Lão Tử thì xem gốc này là “Vô”. Vấn đề quy gốc không phải là “hoài cố”, nhưng là câu trả lời cho câu hỏi cơ bản: Con người từ đâu đến, và đi về đâu”. Từ đâu đến và đi về đâu không thể lý giải bằng triết lý, và cần phải có vai trò của tôn giáo để giải thích, trả lời cho câu hỏi này.

(còn tiếp)