Trong hai ngày, 22 và 23.10.2003, các linh mục trẻ của giáo phận Phú Cường đã tham dự chương trình thường huấn thường niên do giáo phận tổ chức hàng năm. Đợt thường huấn này do linh mục Giuse Đỗ Mạnh Hùng, giáo sư và linh hướng Đại Chủng viện thánh Giuse Sài Gòn phụ trách hướng dẫn. Với chủ đề LINH ĐẠO LINH MỤC GIÁO PHẬN, linh mục Đỗ Mạnh Hùng đã chia làm hai phần cụ thể:
* Linh mục mục tử và lãnh đạo cộng đoàn giáo xứ.
* Nên thánh trong mục vụ.
Để trở nên mục tử, trở nên nhà lãnh đạo và để nên thánh trong ơn gọi linh mục, cha đã đề nghị: Ý thức thừa tác vụ thiêng thánh của mình, ý thức mình là dụng cụ của Chúa, yêu mến thánh lễ, Thánh Thể, đọc kinh phụng vụ, chăm chỉ cầu nguyện, lần chuỗi…
Thực ra, những gì linh mục Giuse Đỗ Mạnh Hùng đề nghị, không phải là một điều gì xa xôi, mà vẫn chỉ là lòng đạo đức truyền thống của Giáo Hội, không linh mục nào bảo rằng mình là linh mục mà lại không biết. Nhưng từ sự nhận biết đến sống điều nhận biết ấy là cả một khoảng cách dài. Đàng khác, linh mục phải sống lâu năm trong sứ vụ; sự mỏi mòn trong công tác; ngay cả những cám dỗ về vật chất, về sự nổi nang; nặng hơn: lòng ganh tỵ với anh em cùng lý tưởng của mình, hoặc cám dỗ về ơn gọi độc thân… đều có thể làm cho linh mục xao lãng trong bổn phận, nguội lạnh trong đời sống cầu nguyện… Vì thế thật ích lợi khi được tham dự những ngày thường huấn như thế này để các linh mục, nhất là anh em linh mục trẻ có dịp nhìn lại mình và ý thức hơn nữa sứ vụ cao cả mà Chúa đã ban cho, đó là: làm linh mục theo Chúa Kitô và làm linh mục cho anh em của mình.
Được biết, tại Phú Cường, việc thường huấn cho các linh mục được tổ chức làm hai đợt: đợt 1 dành cho các linh mục lớn tuổi và đợt 2 dành cho các linh mục chịu chức từ sau năm 1975. Thường huấn là dịp để các linh mục khám phá lại chính mình, cập nhật những kiến thức mới trong Giáo Hội, xã hội và cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm ngay trong công tác phục vụ của mình.
Sau các bài nói chuyện của linh mục phụ trách hướng dẫn, các linh mục chia thành bốn tổ thảo luận, mỗi tổ có một thư ký. Sau đây là đúc kết thảo luận của các tổ :
Thường huấn nhóm B - các linh mục trẻ Giáo Phận Phú Cường 10 - 2003
“LINH MỤC MỤC TỬ VÀ LÃNH ĐẠO CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ NÊNTHÁNH TRONG MỤC VỤ”
Linh mục hướng dẫn: Giuse Đỗ Mạnh Hùng Linh hướng ĐCV Sài gòn
Phần Thảo luận
Ngày 22.10.2003
Đề tài: Theo cha, trong cụ thể, điều gì làm cho người linh mục khó thống nhất đời sống thiêng liêng và những hoạt động mục vụ? Và những phương thế nào để khắc phục những khó khăn ấy?
* Tổ I
. a.Khó khăn: Đời sống thiêng liêng là công việc chỉ đụng chạm đến lãnh vực riêng tư, không ai thấy. Đó là công việc mang yếu tố riêng biệt một mình. Trong khi đó những hoạt động mục vụ thuộc lãnh vực bên ngoài, nó đụng chạm đến con người và công việc. Bởi đó linh mục dễ bị rơi vào cám dỗ của những thành quả bên ngoài. Cho nên linh mục dành hết thời giờ, tâm lực cho những công việc đem lại những hào nhoáng bên ngoài, những tiếng khen ngợi. Từ đó đời sống thiêng liêng dễ bị sao nhãng, nhiều lúc bị bỏ quên, hay là chỉ thực hiện một cách máy móc thiếu tâm tình.
b. Phương thế : Hồi tâm đặt lại căn tính của đời sống linh mục, để nhận thức trở về với căn tính đó. Phải nhận thức đúng đắn rằng: đời sống thiêng liêng là cội rễ của đời sống linh mục; các hoạt động mục vụ chỉ là hoa trái của đời sống thiêng liêng. Do đo, phải người linh mục phải ưu tiên cho đời sống thiêng liêng bằng cách củng cố lại đời nội tâm, phải nhận thức việc nào quan trọng, việc nào không. Luôn khẳng định: trong hành trình nên thánh công việc mục vụ chỉ là hoa trái tất yếu của đời sống thiêng liêng. Do đo, người linh mục không chỉ hân hoan đón nhận sự thành công, nhưng còn phải vui tươi chấp nhận cả thất bại.
* Tổ II
a. Khó khăn : Đa số các linh mục trẻ mới ra trường còn tràn đầy sức sống và nhiệt huyết, bởi đó các linh mục trẻ dấn thân không biết mệt mỏi vào các hoạt động mục vụ như: xây dựng, sinh hoạt các đoàn thể. Từ đó các linh mục trẻ dễ rơi vào cám dỗ chạy theo những thành tích bên ngoài, lo kiếm những vòng nguyệt quế của lời khen tặng nơi bề trên, bạn bè, giáo dân, mà bỏ quên đời sống thiêng liêng. Đời sống thiêng liêng được “tranh thủ” thi hành cho xong, hơn là phải “ý thức” về căn tính của đời sống linh mục. Chính vì bận rộn với công việc hằng ngày, người linh mục đánh mất đi mục đích chính yếu của mình
b. Phương thế: Tái lập lại đời sống thiêng liêng bằng cách đặt cho mình một thời khoá biểu “nhất định”. Chính thời khóa biểu nầy giúp người linh mục có đủ thời giờ chu toàn đời sống thiêng liêng một cách hoàn hảo như: ngoài việc dâng Thánh lễ hằng ngày, còn chú tâm đọc Kinh thần vụ, suy gẫm, viếng Thánh Thể, lần chuỗi Môi khôi một cách sốt sắng. Người linh mục phải luôn ý thức rằng, đức ái mục tử chỉ có thể thực hiện được bởi đời sống thiêng liêng, và công việc mục vụ chính là phục vụ cho ơn Cứu độ phát xuất từ Chúa Kitô. Nói cách khác hoạt động mục vụ là chuyển tải Chúa Kitô đến cho mọi người. Bởi đo, người linh mục phải gắn bó mật thiết với Đức Kitô qua việc thực thi đời sống thiêng liêng một cách siêng năng với một trái tim yêu sốt mến nhất.
* Tổ III
a. Khó khăn : Trong khi thực thi vai trò của một mục tử, người linh mục thường mất rất nhiều thì giờ trong việc tiếp khách, và thiếu đề ra một kỷ luật riêng cho cá nhân mình. Có khi người linh mục đánh mất niềm tin nơi người giáo dân vì một cuộc sống thiếu gương mẫu. Ngoài ra có linh mục thi hành các công việc thuộc đời sống thiêng liêng “thiếu Đức tin”. Thi hành bổn phận thiêng liêng một cách máy móc, làm cho xong không có một sinh khí sống động.
b. Phương thế : Trước tiên, phải đề ra cho chính bản thân người linh mục một kỷ luật riêng, và luôn ý thức mình là người mục tử, phải là mẫu mực cho đàn chiên, để con chiên có thể tin tưởng chạy đến chia sẻ. Kỷ luật đầu tiên mà người linh mục cần phải áp dụng đó chính là trung thành và chuyên tâm thực hiện đời sống cầu nguyện. Phải luôn ý thức rằng đời sống hoạt động phải được xây dựng trên đời sống thiêng liêng. Cho nên việc cầu nguyện là nền tảng cho mọi hoạt động của người linh mục. Một trong những hành vi cầu nguyện là trung thành chu toàn những hình thức căn bản truyền thống của đời sống thiêng liêng như: đọc Kinh Thần vụ, suy gẫm, viếng Thánh thể, xưng tội, lần chuỗi. Không có một lý do gì để nói là không có đủ thời giờ nhằm chu toàn các công việc thiêng liêng căn bản nầy. Đặc biệt phải cầu nguyện trước khi thi hành mọi công việc mục tử. Ngay cả phải cầu nguyện trước khi dọn bài giảng, ngồi toà giải tội, đọc kinh Thần vụ…
* Tổ IV
a. Khó khăn : Người linh mục bị các áp lực của công việc vừa chủ quan vừa khách quan. Thường thì người giáo dân đánh giá linh mục qua những công việc bên ngoài, cụ thể như việc xây dựng Thánh đường, nhà xứ, nhà giáo lý… Bởi đó người linh mục bị cám dỗ chạy theo thành tích bên ngoài mà sao lãng đời sống thiêng liêng. Ngoài ra người linh mục còn thường bị rơi vào thái độ tự mãn, coi thường ngưới giáo dân. Khi giảng dạy, thường thì không dọn bài giảng vì nhận thấy trình độ người giáo dân thấp, cho nên không muốn dành thời giờ dọn giảng, cho đó là việc dư thừa vô ích.
b. Phương thế : Lập lại quân bình đời sống cầu nguyện. Đặt đời sống hoạt động trong thánh ý Thiên Chúa và trung thành công việc đọc kinh Thần vụ. Thánh hoá công việc hằng ngày bằng chính tình yêu dành cho Đức Kitô và Mẹ Maria. Do đo, không thể bỏ qua những giây phút viếng Thánh thể và những chuỗi kinh Mân côi. Phải sống thật với chính mình bằng cách xây dựng một tình huynh đệ linh mục. Chính sự liên đới với anh em linh mục, người linh mục khám phá ra chính mình một cách trung thực hơn. Ngoài ra người linh mục đừng quên mình còn là Hy lễ, chứ không chỉ là Thượng tế, cho nên người linh mục phải luôn ý thức mình là tấm bánh bị bẻ ra.
Ý kiến của Đức Giám mục:
* Để thống nhất đời sống nội tâm giữa đời sống thiêng liêng và hoạt động thừa tác, người linh mục cần phải nại đến Thánh ý của Thiên Chúa: “Chúa muốn tôi làm gì”. Chính Thánh ý của Thiên Chúa là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của người linh mục.
* Để thống nhất đời sống còn phải gia tăng đức ái mục tử: làm vì yêu anh chị em, vì yêu đoàn chiên.
Khó khăn:
- Vì “nhiều công việc quá” nên coi thường những hình thức cầu nguyện bình dân. Bởi đó người linh mục luôn ý thức can tính của mình để thánh hoá bản thân hằng ngày bằng chính đời sống cầu nguyện
- Coi linh mục như một nghề. Đó là một nhận thức sai lầm. Linh mục là người mang ơn thánh hiến “hữu thể” ở trong mình. Căn tính linh mục có tính đời đời, có nghĩa người linh mục được ghi ấn tín có tính đời đời, biến thành một Kitô thứ hai. An tín nầy không thể xóa nhòa đi được.
Phương thế :
- Người linh mục trước tiên phải thể hiện tình yêu đối với Đức Kitô qua việc gắn chặt với Bí tích Thánh thể, suối nguồn tình yêu. Phải luôn tự hỏi: “ Chúa Giêsu muốn tôi làm gì?”
- Khi thi hành chức vụ người linh mục luôn phải tìm nhu cầu và khát vọng của các linh hồn, chứ không tìm vinh danh cho chính mình.
------ XXXXX------
Huấn từ của Đức Giám mục
“Hành trình nên thánh”
Linh đạo của người linh mục là nên thánh bằng và qua các thừa tác vụ Linh mục. Đó là phương tiện để chúng ta nên thánh. Bởi đó:
§ Phải dồn hết thời giờ, năng lực, tâm trí để thi hành các thừa tác linh mục
§ Phải coi mọi sự: sức khỏe, năng khiếu, đam mê là thứ yếu. Những thứ đó phải tùy thuộc vào thừc tác vụ linh mục. Bởi thừa tác vụ linh mục nếu không là duy nhất thì cũng phải là chính yếu của đời linh mục.
§ Ý thức mình là dụng cụ cửa Đức Kitô. Linh mục được chọn gọi để phục vụ Đức Kitô và Hội thánh. Khi thi hành chức vụ linh mục, người linh mục thi hành “in persona Christi”. Chính Đức Kitô hành động qua con người linh mục.
§ Linh mục là người của Hội thánh. Người linh mục phải thi hành mọi công việc trong ý thức: linh mục thuộc về Hội thánh, và làm theo ý Hội thánh . Bởi đó người linh mục không tìm, không làm cái mình và người khác muốn, nhưng làm cái Chúa Kitô và Hội thánh muốn.
Người linh mục phải làm gì?
§ Đọc Tin mừng để biết việc Đức Kitô làm mà làm theo; để khám phá ý Chúa mà sống theo.
§ Năng đọc văn kiện của Hội thánh để hiểu biết các điều Hội thánh dạy. Quan tâm đến các sinh hoạt của Hội thánh để hiệp thông, hưởng ứng và cộng tác.
§ Yêu mến Thánh thể và đời sống cầu nguyện. Thánh thể là “nguồn mạch và chóp đỉnh của tất cả đời sống Kitô giáo” (LG 11). Trung tâm của mọi sinh hoạt đều phải hướng về Thánh thể. Năng chầu Thánh thể.
§ Yêu mến Mẹ Maria. Mẹ là người đầu tiên tham dự cách hoàn hảo vào công trình cứu chuộc của Đức Kitô. Nhờ, bởi, với và trong Mẹ để đến với Đức Kitô. Một trong những thái độ sùng kính Mẹ, chính là siêng năng lần chuỗi Môi khôi. Chính qua việc lần chuỗi chúng ta hiểu Chúa Giêsu qua Đức Mẹ. Vì không ai hiểu Chúa Giêsu hơn Mẹ. Do đó phải cùng với Mẹ, và nhờ Mẹ để hiểu Chúa.
§ Quí trọng các hình thức cử hành mang tính phụng vụ, như khi cử hành các Bí tích, khi đọc Kinh Thần vụ.
§ Trung thành giữ kỷ luật của Hội thánh. Trung thành tuân giữ những gì có tính tông truyền không mù quáng chạy theo những cái mới lạ.
Ngày 23.10.2003
Đề tài : Người linh mục giáo phận “nên thánh trong mục vụ” qua ba sứ vụ: rao giảng, thánh hoá, quản trị cộng đoàn. Xin cha chia sẻ những cản trở làm cho linh mục khó có thể chu toàn tốt đẹp ba sứ vụ trên, từ đó cản trở con đường “nên thánh”, con đường nên giống Chúa Kitô mục tử? Và phương thế nào để vượt qua những cản trở ấy?
*Tổ I
a. Khó khăn:
* Rao giảng:
- Giảng: Bị cám dỗ truyền ban một kiến thức hơn là rao tryền Lời Chúa. Do đó bài giảng thiếu cái hồn của Tin mừng. Ngoài ra bài giảng còn thiếu chuẩn bị và nội dung bài giảng thường đặt nặng luân lý, sửa lỗi hơn là đào sâu để khám phá nội dung chủ yếu của Lời Chúa. Có khi người linh mục nại đến không có giờ, nhu cầu giáo dân thì nhiều, công việc quá bận rộn, nên việc chuẩn bị cho bài giảng quá lơ là.
- Dạy giáo lý: có những nơi linh mục khoán trắng cho giáo dân, mà quên rằng, linh mục chính là thầy dạy giáo lý đầu tiên
* Thánh hoá:
- Thánh lễ: cử hành thiếu sốt sắng, đọc cách máy móc. Có khi thiếu ý thức về giá trị thánh lễ, nên không chuẩn bị tâm hồn trước khi dâng lễ.
- Ban các Bí tích: Có nhiều linh mục chưa ý thức đủ về việc ban Bí tích chính là thi hành nhiệm vụ thánh hoá, cho nên việc trao ban các Bí tích mang tích cách “dịch vụ”, thiếu tâm tình, thiếu “đức ái mục vụ”
* Quản trị cộng đoàn
- Thích tạo dấu ấn nơi mình phục vụ. Linh mục thường bắt giáo dân làm theo ý mình. Thích gây ấn tượng hơn là khiêm tốn phục vụ.
- Thiếu sự hiệp thông anh em linh mục, các giáo xứ sống biệt lập thiếu tình huynh đệ chia sẻ.
b. Phương thế:
- Để thực sự mang lại nhiều sức sống trong bài giảng nên đọc kỹ Lời Chúa. Siêng năng đọc và nghiên cứu Kinh thánh. Tìm đọc các cuốn Kinh thánh có ghi phần chú giải, điều đó giúp ích rất nhiều cho bài giảng
- Người linh mục phải chấp nhận trả giá vì lời giảng dạy của chúng ta. Phải chấp nhận hao mòn.
- Dọn mình trước khi dâng Thánh lễ, quan tâm đến bầu khí của Thánh lễ, như âm thanh, ca đoàn, phẩm phục và các đồ dùng cho việc dâng lễ.
*Tổ II.
a. Khó khăn:
- Linh mục vì trăm công ngàn chuyện nên thiếu giờ dọn giảng, dạy giáo lý, chuẩn bị dâng lễ; thiếu chất: dâng lễ hời hợt, đọc kinh Thần vụ qua loa, nói nhiều nhưng làm chẳng được bao nhiêu
- Quan hệ giữa linh mục và giáo dân còn sự ngăn cách rất lớn. Người giáo dân sống ngăn cách với linh mục vì mặc cảm.
- Mức sống giữa linh mục và giáo dân có khoảng cách biệt lớn, nên tạo cho người giáo dân tự ti, không dám đến gần với linh mục
- Người linh mục nhiều lúc cũng cảm thấy chán ngán vì thái độ thờ ơ của người giáo dân. Lòng đạo chỉ là một kỷ niệm hơn là một cách biểu lộ Đức tin.
b. Phương thế:
- Cố gắng dạy Giáo lý sau thánh lễ
- Cố gắng duy trì sinh hoạt các giới
- Nỗ lực thể hiện sự hiệp thông linh mục
- Thăm viếng giáo dân để cảm thông và để thực tế hoá kiến thức
- Linh mục phải là người cha gia đình. Cho nên đòi hỏi linh mục thực sự biết lắng nghe, chứ đùng chỉ biết áp đặt; lo lắng quan tâm hơn là độc tài.
- Học theo gương Đức Kitô: Linh mục phải là người mục tử nhân lành.
*Tổ III
a. Khó khăn:
* Rao giảng:
- Người giáo dân phản ảnh: Bài giảng như là một hình thức tra tấn người giáo dân. Có quá nhiều danh từ cao siêu nặng triết học và thần học mà thiếu thực tế. Phô trương kiến thức hơn là rao giảng Lời Chúa.
- Ý kiến linh mục trẻ: Rất vất vả khi dọn giảng, và lúng túng khi rao giảng. Quan tâm đến những lời khen chê. Khi được khen ngợi rất phấn khởi tự tin, khi có những nhận xét không hợp ý thì tỏ thái độ thất vọng.
* Thánh hoá:
- Phía linh mục: Thích bề ngoài, thích những con số. Dâng lễ thì chỉ để ý vào luật chữ đỏ, nên máy móc thiếu sinh khí.
- Phía giáo dân: Không thích đọc kinh nhiều, dài dòng; thích giảng ngắn, dâng lễ lẹ.
* Quản trị cộng đoàn:
Luôn bị cám dỗ bởi hào nhóng bên ngoài
b. Phương thế:
- Ý thức rao giảng là bổn phận chính yếu của người linh mục. Việc rao giảng là loan báo Tin mừng, nên trước khi giảng nên cầu nguyện.
- Chuẩn bị dâng lễ cẩn thận, và khi dâng lễ phải ý thức mình là tư tế nên phải dâng lễ với trọn trái tim yêu, tất cả mọi cử điệu phải diễn tả tâm tình yêu mến, và biểu lộ đức tin
- Thi hành công tác quản trị với lòng yêu mến Chúa. Làm tất cả vì vinh danh Chúa. Luôn luôn tâm niệm: Mọi vinh quang và danh dự đều thuộc về Chúa là Thiên Chúa chúng ta.
*Tổ IV
a. Khó khăn:
- Thời gian làm tàn phai lòng trung thành
- Linh mục ít nói về Chúa Kitô cho người giáo dân, mà thường loan báo chính mình
- Ngần ngại trao ban Bí tích đêm khuya
- Làm biếng dọn bài giảng
- Thái độ thờ ơ của người giáo dân làm cho người linh mục chán nản, ngã lòng
- Người giáo dân lợi dụng mọi tình huống để gây chia rẽ
- Tương quan giữa cha sở và cha phó luôn có vấn đề
- Các đoàn hội không được huấn luyện, nên thường xảy ra nhiều mâu thuẫn
- Các linh mục trong việc quản trị cộng đoàn thường làm việc theo cảm tính.
b. Phương thế:
- Cần phải xác tín sứ vụ linh mục để luôn an vui thi hành sứ vụ đó
- Tự đào luyện bản thân để sống khiêm tốn
- Ý thức vai trò người mục tử để sống quảng đại, không lo thu quén cho chính bản thân mình.
- Luôn chu toàn bổn phận với ý thức trách nhiệm, không đùn đẩy.
- Chấp nhận bị quấy rầy, luôn tươi nở nụ cười, tránh cáu gắt.
Ghi nhận của ban thư ký
Cám dỗ:
* Rao giảng:
- Khi rao giảng, người linh mục thường trao một mớ kiến thức hơn là trao ban Lời của Chúa
- Thiếu sức sống trong chính bài giảng của người linh mục
- Thiếu quan tâm trong việc dạy giáo lý của người linh mục và thường khoán trắng cho anh chị em giáo lý viên
* Thánh hoá:
- Dâng lễ : thường linh mục thiếu chuẩn bị, các cử điệu có tính máy móc không sốt sắng
- Khi trao ban các Bí tích thiếu tâm tình và thường bị các yếu tố bên ngoài lôi kéo.
* Quản trị cộng đoàn:
- Thích hoàng nhoáng bên ngoài, và thích để lại dấu ấn chính mình hơn là xây dựng một cộng đoàn có tính Giáo hội
- Tương quan với giáo dân chưa là một tương quan giữa chủ chăn và con chiên : chủ chăn không biết chiên, và chiên thì xa tránh chủ chiên.
*Phương thế:
- Tất cả mọi hoạt động đều phải qui hướng về Chúa Kitô
- Liên kết với Giáo hội. Cập nhật hoá các huấn thị của Giáo hội
- Cầu nguyện để kết hợp mật thiết với Chúa trong khi hành động
- Sống hiệp thông với anh em linh mục trong giáo hạt và giáo phận
- Thăm viếng giáo dân, quan tâm đến những gia đình nghèo. Tạo một mối dây liên đới tốt đẹp giữa linh mục và giáo dân qua những cuộc trao đổi thân mật
Lời kết thúc của Cha tổng đại diện
Để có thể “nên thánh trong đời sống mục vụ” người linh mục phải ý thức về căn tính đặc biệt của mình. Trong sự ý thức đó người linh mục cần:
- Quan tâm đến đời sống chung tập thể. Người linh mục phải để ý đến ích lợi của đời sống chung trong việc chu toàn trách vụ mục tử. Bởi đó, không được lơ là trong những dịp tĩnh tâm của anh em linh mục trong giáo phận và giáo hạt. Những dịp tĩnh tâm hàng năm, hàng qúi và hàng tháng, thường huấn phải là những cơ hội thuận lợi để người linh mục thăng tiến qua những cuộc gặp gỡ và trao đổi với anh em.
- Phải nỗ lực khám phá ra cho được những nguyên nhân gây cản trở việc thống nhất giữa đời sống thiêng liêng và hoạt động.
- Trọng tâm của đời linh mục là hoạt động mục vụ, cho nên đừng bao tự mình ngưng đời sống hoạt động mục vụ. Phải hết sức chú tâm vào công việc mục vụ như là phương thế chính yếu để nên thánh.
- Qui hướng đời sống mục vụ trong chiều kích Mầu nhiệm Nhập thể của Đức Kitô. Đức Kitô đã thưa với Chúa Cha: “này con xin đến để làm theo ý Cha”,và trong việc vâng phục đó Đức Kitô đã tự huỷ, đã chọn kiếp sống con người và chịu chi phối bởi những định luật tự nhiên. Đức Kitô đã nên giống chúng ta hoàn toàn ngoại trừ tội lỗi, thánh Phaolô đã khẳng định điều đó. Đó là một mẫu gương sống động cho người linh mục trong khi thi hành chức vụ mục tử. Người linh mục phải thực sự “nhập thể”. Nhập thể để thi hành chức vụ trước tiên là làm theo “ý của Chúa Cha”; thứ hai là quên mình để chăm lo cho đoàn chiên; thứ ba là thực sự “nhập thể”nơi mình được gởi tới để phục vụ. Chúa cần ta nên mới chọn ta. Cho nên khi được gởi tới một giáo xứ nào đó thì người linh mục phải hiểu rằng: Chúa cần mình phục vụ tại đó và cho nhu cầu tại đó.
- Để có thể “nhập thể” như Đức Kitô, người linh mục cần phải siêng năng đọc Phúc Am.
- Không ai có thể nên thánh một mình, bởi đó người linh mục phải nên thánh với anh em linh mục đoàn. Phải thể hiện tinh thần hiệp thông linh mục với anh em.
Kết thúc vào lúc 16giờ00 - Ngày 23.10.2003
Tổ thư ký:
Lm. Gioan B. Nguyễn Văn Riễn
Lm. Antôn Hà Văn Minh
Lm. Gioan B. Nguyễn Minh Hùng
* Linh mục mục tử và lãnh đạo cộng đoàn giáo xứ.
* Nên thánh trong mục vụ.
Để trở nên mục tử, trở nên nhà lãnh đạo và để nên thánh trong ơn gọi linh mục, cha đã đề nghị: Ý thức thừa tác vụ thiêng thánh của mình, ý thức mình là dụng cụ của Chúa, yêu mến thánh lễ, Thánh Thể, đọc kinh phụng vụ, chăm chỉ cầu nguyện, lần chuỗi…
Thực ra, những gì linh mục Giuse Đỗ Mạnh Hùng đề nghị, không phải là một điều gì xa xôi, mà vẫn chỉ là lòng đạo đức truyền thống của Giáo Hội, không linh mục nào bảo rằng mình là linh mục mà lại không biết. Nhưng từ sự nhận biết đến sống điều nhận biết ấy là cả một khoảng cách dài. Đàng khác, linh mục phải sống lâu năm trong sứ vụ; sự mỏi mòn trong công tác; ngay cả những cám dỗ về vật chất, về sự nổi nang; nặng hơn: lòng ganh tỵ với anh em cùng lý tưởng của mình, hoặc cám dỗ về ơn gọi độc thân… đều có thể làm cho linh mục xao lãng trong bổn phận, nguội lạnh trong đời sống cầu nguyện… Vì thế thật ích lợi khi được tham dự những ngày thường huấn như thế này để các linh mục, nhất là anh em linh mục trẻ có dịp nhìn lại mình và ý thức hơn nữa sứ vụ cao cả mà Chúa đã ban cho, đó là: làm linh mục theo Chúa Kitô và làm linh mục cho anh em của mình.
Được biết, tại Phú Cường, việc thường huấn cho các linh mục được tổ chức làm hai đợt: đợt 1 dành cho các linh mục lớn tuổi và đợt 2 dành cho các linh mục chịu chức từ sau năm 1975. Thường huấn là dịp để các linh mục khám phá lại chính mình, cập nhật những kiến thức mới trong Giáo Hội, xã hội và cùng nhau chia sẻ những kinh nghiệm ngay trong công tác phục vụ của mình.
Sau các bài nói chuyện của linh mục phụ trách hướng dẫn, các linh mục chia thành bốn tổ thảo luận, mỗi tổ có một thư ký. Sau đây là đúc kết thảo luận của các tổ :
Thường huấn nhóm B - các linh mục trẻ Giáo Phận Phú Cường 10 - 2003
“LINH MỤC MỤC TỬ VÀ LÃNH ĐẠO CỘNG ĐOÀN GIÁO XỨ NÊNTHÁNH TRONG MỤC VỤ”
Linh mục hướng dẫn: Giuse Đỗ Mạnh Hùng Linh hướng ĐCV Sài gòn
Phần Thảo luận
Ngày 22.10.2003
Đề tài: Theo cha, trong cụ thể, điều gì làm cho người linh mục khó thống nhất đời sống thiêng liêng và những hoạt động mục vụ? Và những phương thế nào để khắc phục những khó khăn ấy?
* Tổ I
. a.Khó khăn: Đời sống thiêng liêng là công việc chỉ đụng chạm đến lãnh vực riêng tư, không ai thấy. Đó là công việc mang yếu tố riêng biệt một mình. Trong khi đó những hoạt động mục vụ thuộc lãnh vực bên ngoài, nó đụng chạm đến con người và công việc. Bởi đó linh mục dễ bị rơi vào cám dỗ của những thành quả bên ngoài. Cho nên linh mục dành hết thời giờ, tâm lực cho những công việc đem lại những hào nhoáng bên ngoài, những tiếng khen ngợi. Từ đó đời sống thiêng liêng dễ bị sao nhãng, nhiều lúc bị bỏ quên, hay là chỉ thực hiện một cách máy móc thiếu tâm tình.
b. Phương thế : Hồi tâm đặt lại căn tính của đời sống linh mục, để nhận thức trở về với căn tính đó. Phải nhận thức đúng đắn rằng: đời sống thiêng liêng là cội rễ của đời sống linh mục; các hoạt động mục vụ chỉ là hoa trái của đời sống thiêng liêng. Do đo, phải người linh mục phải ưu tiên cho đời sống thiêng liêng bằng cách củng cố lại đời nội tâm, phải nhận thức việc nào quan trọng, việc nào không. Luôn khẳng định: trong hành trình nên thánh công việc mục vụ chỉ là hoa trái tất yếu của đời sống thiêng liêng. Do đo, người linh mục không chỉ hân hoan đón nhận sự thành công, nhưng còn phải vui tươi chấp nhận cả thất bại.
* Tổ II
a. Khó khăn : Đa số các linh mục trẻ mới ra trường còn tràn đầy sức sống và nhiệt huyết, bởi đó các linh mục trẻ dấn thân không biết mệt mỏi vào các hoạt động mục vụ như: xây dựng, sinh hoạt các đoàn thể. Từ đó các linh mục trẻ dễ rơi vào cám dỗ chạy theo những thành tích bên ngoài, lo kiếm những vòng nguyệt quế của lời khen tặng nơi bề trên, bạn bè, giáo dân, mà bỏ quên đời sống thiêng liêng. Đời sống thiêng liêng được “tranh thủ” thi hành cho xong, hơn là phải “ý thức” về căn tính của đời sống linh mục. Chính vì bận rộn với công việc hằng ngày, người linh mục đánh mất đi mục đích chính yếu của mình
b. Phương thế: Tái lập lại đời sống thiêng liêng bằng cách đặt cho mình một thời khoá biểu “nhất định”. Chính thời khóa biểu nầy giúp người linh mục có đủ thời giờ chu toàn đời sống thiêng liêng một cách hoàn hảo như: ngoài việc dâng Thánh lễ hằng ngày, còn chú tâm đọc Kinh thần vụ, suy gẫm, viếng Thánh Thể, lần chuỗi Môi khôi một cách sốt sắng. Người linh mục phải luôn ý thức rằng, đức ái mục tử chỉ có thể thực hiện được bởi đời sống thiêng liêng, và công việc mục vụ chính là phục vụ cho ơn Cứu độ phát xuất từ Chúa Kitô. Nói cách khác hoạt động mục vụ là chuyển tải Chúa Kitô đến cho mọi người. Bởi đo, người linh mục phải gắn bó mật thiết với Đức Kitô qua việc thực thi đời sống thiêng liêng một cách siêng năng với một trái tim yêu sốt mến nhất.
* Tổ III
a. Khó khăn : Trong khi thực thi vai trò của một mục tử, người linh mục thường mất rất nhiều thì giờ trong việc tiếp khách, và thiếu đề ra một kỷ luật riêng cho cá nhân mình. Có khi người linh mục đánh mất niềm tin nơi người giáo dân vì một cuộc sống thiếu gương mẫu. Ngoài ra có linh mục thi hành các công việc thuộc đời sống thiêng liêng “thiếu Đức tin”. Thi hành bổn phận thiêng liêng một cách máy móc, làm cho xong không có một sinh khí sống động.
b. Phương thế : Trước tiên, phải đề ra cho chính bản thân người linh mục một kỷ luật riêng, và luôn ý thức mình là người mục tử, phải là mẫu mực cho đàn chiên, để con chiên có thể tin tưởng chạy đến chia sẻ. Kỷ luật đầu tiên mà người linh mục cần phải áp dụng đó chính là trung thành và chuyên tâm thực hiện đời sống cầu nguyện. Phải luôn ý thức rằng đời sống hoạt động phải được xây dựng trên đời sống thiêng liêng. Cho nên việc cầu nguyện là nền tảng cho mọi hoạt động của người linh mục. Một trong những hành vi cầu nguyện là trung thành chu toàn những hình thức căn bản truyền thống của đời sống thiêng liêng như: đọc Kinh Thần vụ, suy gẫm, viếng Thánh thể, xưng tội, lần chuỗi. Không có một lý do gì để nói là không có đủ thời giờ nhằm chu toàn các công việc thiêng liêng căn bản nầy. Đặc biệt phải cầu nguyện trước khi thi hành mọi công việc mục tử. Ngay cả phải cầu nguyện trước khi dọn bài giảng, ngồi toà giải tội, đọc kinh Thần vụ…
* Tổ IV
a. Khó khăn : Người linh mục bị các áp lực của công việc vừa chủ quan vừa khách quan. Thường thì người giáo dân đánh giá linh mục qua những công việc bên ngoài, cụ thể như việc xây dựng Thánh đường, nhà xứ, nhà giáo lý… Bởi đó người linh mục bị cám dỗ chạy theo thành tích bên ngoài mà sao lãng đời sống thiêng liêng. Ngoài ra người linh mục còn thường bị rơi vào thái độ tự mãn, coi thường ngưới giáo dân. Khi giảng dạy, thường thì không dọn bài giảng vì nhận thấy trình độ người giáo dân thấp, cho nên không muốn dành thời giờ dọn giảng, cho đó là việc dư thừa vô ích.
b. Phương thế : Lập lại quân bình đời sống cầu nguyện. Đặt đời sống hoạt động trong thánh ý Thiên Chúa và trung thành công việc đọc kinh Thần vụ. Thánh hoá công việc hằng ngày bằng chính tình yêu dành cho Đức Kitô và Mẹ Maria. Do đo, không thể bỏ qua những giây phút viếng Thánh thể và những chuỗi kinh Mân côi. Phải sống thật với chính mình bằng cách xây dựng một tình huynh đệ linh mục. Chính sự liên đới với anh em linh mục, người linh mục khám phá ra chính mình một cách trung thực hơn. Ngoài ra người linh mục đừng quên mình còn là Hy lễ, chứ không chỉ là Thượng tế, cho nên người linh mục phải luôn ý thức mình là tấm bánh bị bẻ ra.
Ý kiến của Đức Giám mục:
* Để thống nhất đời sống nội tâm giữa đời sống thiêng liêng và hoạt động thừa tác, người linh mục cần phải nại đến Thánh ý của Thiên Chúa: “Chúa muốn tôi làm gì”. Chính Thánh ý của Thiên Chúa là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của người linh mục.
* Để thống nhất đời sống còn phải gia tăng đức ái mục tử: làm vì yêu anh chị em, vì yêu đoàn chiên.
Khó khăn:
- Vì “nhiều công việc quá” nên coi thường những hình thức cầu nguyện bình dân. Bởi đó người linh mục luôn ý thức can tính của mình để thánh hoá bản thân hằng ngày bằng chính đời sống cầu nguyện
- Coi linh mục như một nghề. Đó là một nhận thức sai lầm. Linh mục là người mang ơn thánh hiến “hữu thể” ở trong mình. Căn tính linh mục có tính đời đời, có nghĩa người linh mục được ghi ấn tín có tính đời đời, biến thành một Kitô thứ hai. An tín nầy không thể xóa nhòa đi được.
Phương thế :
- Người linh mục trước tiên phải thể hiện tình yêu đối với Đức Kitô qua việc gắn chặt với Bí tích Thánh thể, suối nguồn tình yêu. Phải luôn tự hỏi: “ Chúa Giêsu muốn tôi làm gì?”
- Khi thi hành chức vụ người linh mục luôn phải tìm nhu cầu và khát vọng của các linh hồn, chứ không tìm vinh danh cho chính mình.
------ XXXXX------
Huấn từ của Đức Giám mục
“Hành trình nên thánh”
Linh đạo của người linh mục là nên thánh bằng và qua các thừa tác vụ Linh mục. Đó là phương tiện để chúng ta nên thánh. Bởi đó:
§ Phải dồn hết thời giờ, năng lực, tâm trí để thi hành các thừa tác linh mục
§ Phải coi mọi sự: sức khỏe, năng khiếu, đam mê là thứ yếu. Những thứ đó phải tùy thuộc vào thừc tác vụ linh mục. Bởi thừa tác vụ linh mục nếu không là duy nhất thì cũng phải là chính yếu của đời linh mục.
§ Ý thức mình là dụng cụ cửa Đức Kitô. Linh mục được chọn gọi để phục vụ Đức Kitô và Hội thánh. Khi thi hành chức vụ linh mục, người linh mục thi hành “in persona Christi”. Chính Đức Kitô hành động qua con người linh mục.
§ Linh mục là người của Hội thánh. Người linh mục phải thi hành mọi công việc trong ý thức: linh mục thuộc về Hội thánh, và làm theo ý Hội thánh . Bởi đó người linh mục không tìm, không làm cái mình và người khác muốn, nhưng làm cái Chúa Kitô và Hội thánh muốn.
Người linh mục phải làm gì?
§ Đọc Tin mừng để biết việc Đức Kitô làm mà làm theo; để khám phá ý Chúa mà sống theo.
§ Năng đọc văn kiện của Hội thánh để hiểu biết các điều Hội thánh dạy. Quan tâm đến các sinh hoạt của Hội thánh để hiệp thông, hưởng ứng và cộng tác.
§ Yêu mến Thánh thể và đời sống cầu nguyện. Thánh thể là “nguồn mạch và chóp đỉnh của tất cả đời sống Kitô giáo” (LG 11). Trung tâm của mọi sinh hoạt đều phải hướng về Thánh thể. Năng chầu Thánh thể.
§ Yêu mến Mẹ Maria. Mẹ là người đầu tiên tham dự cách hoàn hảo vào công trình cứu chuộc của Đức Kitô. Nhờ, bởi, với và trong Mẹ để đến với Đức Kitô. Một trong những thái độ sùng kính Mẹ, chính là siêng năng lần chuỗi Môi khôi. Chính qua việc lần chuỗi chúng ta hiểu Chúa Giêsu qua Đức Mẹ. Vì không ai hiểu Chúa Giêsu hơn Mẹ. Do đó phải cùng với Mẹ, và nhờ Mẹ để hiểu Chúa.
§ Quí trọng các hình thức cử hành mang tính phụng vụ, như khi cử hành các Bí tích, khi đọc Kinh Thần vụ.
§ Trung thành giữ kỷ luật của Hội thánh. Trung thành tuân giữ những gì có tính tông truyền không mù quáng chạy theo những cái mới lạ.
Ngày 23.10.2003
Đề tài : Người linh mục giáo phận “nên thánh trong mục vụ” qua ba sứ vụ: rao giảng, thánh hoá, quản trị cộng đoàn. Xin cha chia sẻ những cản trở làm cho linh mục khó có thể chu toàn tốt đẹp ba sứ vụ trên, từ đó cản trở con đường “nên thánh”, con đường nên giống Chúa Kitô mục tử? Và phương thế nào để vượt qua những cản trở ấy?
*Tổ I
a. Khó khăn:
* Rao giảng:
- Giảng: Bị cám dỗ truyền ban một kiến thức hơn là rao tryền Lời Chúa. Do đó bài giảng thiếu cái hồn của Tin mừng. Ngoài ra bài giảng còn thiếu chuẩn bị và nội dung bài giảng thường đặt nặng luân lý, sửa lỗi hơn là đào sâu để khám phá nội dung chủ yếu của Lời Chúa. Có khi người linh mục nại đến không có giờ, nhu cầu giáo dân thì nhiều, công việc quá bận rộn, nên việc chuẩn bị cho bài giảng quá lơ là.
- Dạy giáo lý: có những nơi linh mục khoán trắng cho giáo dân, mà quên rằng, linh mục chính là thầy dạy giáo lý đầu tiên
* Thánh hoá:
- Thánh lễ: cử hành thiếu sốt sắng, đọc cách máy móc. Có khi thiếu ý thức về giá trị thánh lễ, nên không chuẩn bị tâm hồn trước khi dâng lễ.
- Ban các Bí tích: Có nhiều linh mục chưa ý thức đủ về việc ban Bí tích chính là thi hành nhiệm vụ thánh hoá, cho nên việc trao ban các Bí tích mang tích cách “dịch vụ”, thiếu tâm tình, thiếu “đức ái mục vụ”
* Quản trị cộng đoàn
- Thích tạo dấu ấn nơi mình phục vụ. Linh mục thường bắt giáo dân làm theo ý mình. Thích gây ấn tượng hơn là khiêm tốn phục vụ.
- Thiếu sự hiệp thông anh em linh mục, các giáo xứ sống biệt lập thiếu tình huynh đệ chia sẻ.
b. Phương thế:
- Để thực sự mang lại nhiều sức sống trong bài giảng nên đọc kỹ Lời Chúa. Siêng năng đọc và nghiên cứu Kinh thánh. Tìm đọc các cuốn Kinh thánh có ghi phần chú giải, điều đó giúp ích rất nhiều cho bài giảng
- Người linh mục phải chấp nhận trả giá vì lời giảng dạy của chúng ta. Phải chấp nhận hao mòn.
- Dọn mình trước khi dâng Thánh lễ, quan tâm đến bầu khí của Thánh lễ, như âm thanh, ca đoàn, phẩm phục và các đồ dùng cho việc dâng lễ.
*Tổ II.
a. Khó khăn:
- Linh mục vì trăm công ngàn chuyện nên thiếu giờ dọn giảng, dạy giáo lý, chuẩn bị dâng lễ; thiếu chất: dâng lễ hời hợt, đọc kinh Thần vụ qua loa, nói nhiều nhưng làm chẳng được bao nhiêu
- Quan hệ giữa linh mục và giáo dân còn sự ngăn cách rất lớn. Người giáo dân sống ngăn cách với linh mục vì mặc cảm.
- Mức sống giữa linh mục và giáo dân có khoảng cách biệt lớn, nên tạo cho người giáo dân tự ti, không dám đến gần với linh mục
- Người linh mục nhiều lúc cũng cảm thấy chán ngán vì thái độ thờ ơ của người giáo dân. Lòng đạo chỉ là một kỷ niệm hơn là một cách biểu lộ Đức tin.
b. Phương thế:
- Cố gắng dạy Giáo lý sau thánh lễ
- Cố gắng duy trì sinh hoạt các giới
- Nỗ lực thể hiện sự hiệp thông linh mục
- Thăm viếng giáo dân để cảm thông và để thực tế hoá kiến thức
- Linh mục phải là người cha gia đình. Cho nên đòi hỏi linh mục thực sự biết lắng nghe, chứ đùng chỉ biết áp đặt; lo lắng quan tâm hơn là độc tài.
- Học theo gương Đức Kitô: Linh mục phải là người mục tử nhân lành.
*Tổ III
a. Khó khăn:
* Rao giảng:
- Người giáo dân phản ảnh: Bài giảng như là một hình thức tra tấn người giáo dân. Có quá nhiều danh từ cao siêu nặng triết học và thần học mà thiếu thực tế. Phô trương kiến thức hơn là rao giảng Lời Chúa.
- Ý kiến linh mục trẻ: Rất vất vả khi dọn giảng, và lúng túng khi rao giảng. Quan tâm đến những lời khen chê. Khi được khen ngợi rất phấn khởi tự tin, khi có những nhận xét không hợp ý thì tỏ thái độ thất vọng.
* Thánh hoá:
- Phía linh mục: Thích bề ngoài, thích những con số. Dâng lễ thì chỉ để ý vào luật chữ đỏ, nên máy móc thiếu sinh khí.
- Phía giáo dân: Không thích đọc kinh nhiều, dài dòng; thích giảng ngắn, dâng lễ lẹ.
* Quản trị cộng đoàn:
Luôn bị cám dỗ bởi hào nhóng bên ngoài
b. Phương thế:
- Ý thức rao giảng là bổn phận chính yếu của người linh mục. Việc rao giảng là loan báo Tin mừng, nên trước khi giảng nên cầu nguyện.
- Chuẩn bị dâng lễ cẩn thận, và khi dâng lễ phải ý thức mình là tư tế nên phải dâng lễ với trọn trái tim yêu, tất cả mọi cử điệu phải diễn tả tâm tình yêu mến, và biểu lộ đức tin
- Thi hành công tác quản trị với lòng yêu mến Chúa. Làm tất cả vì vinh danh Chúa. Luôn luôn tâm niệm: Mọi vinh quang và danh dự đều thuộc về Chúa là Thiên Chúa chúng ta.
*Tổ IV
a. Khó khăn:
- Thời gian làm tàn phai lòng trung thành
- Linh mục ít nói về Chúa Kitô cho người giáo dân, mà thường loan báo chính mình
- Ngần ngại trao ban Bí tích đêm khuya
- Làm biếng dọn bài giảng
- Thái độ thờ ơ của người giáo dân làm cho người linh mục chán nản, ngã lòng
- Người giáo dân lợi dụng mọi tình huống để gây chia rẽ
- Tương quan giữa cha sở và cha phó luôn có vấn đề
- Các đoàn hội không được huấn luyện, nên thường xảy ra nhiều mâu thuẫn
- Các linh mục trong việc quản trị cộng đoàn thường làm việc theo cảm tính.
b. Phương thế:
- Cần phải xác tín sứ vụ linh mục để luôn an vui thi hành sứ vụ đó
- Tự đào luyện bản thân để sống khiêm tốn
- Ý thức vai trò người mục tử để sống quảng đại, không lo thu quén cho chính bản thân mình.
- Luôn chu toàn bổn phận với ý thức trách nhiệm, không đùn đẩy.
- Chấp nhận bị quấy rầy, luôn tươi nở nụ cười, tránh cáu gắt.
Ghi nhận của ban thư ký
Cám dỗ:
* Rao giảng:
- Khi rao giảng, người linh mục thường trao một mớ kiến thức hơn là trao ban Lời của Chúa
- Thiếu sức sống trong chính bài giảng của người linh mục
- Thiếu quan tâm trong việc dạy giáo lý của người linh mục và thường khoán trắng cho anh chị em giáo lý viên
* Thánh hoá:
- Dâng lễ : thường linh mục thiếu chuẩn bị, các cử điệu có tính máy móc không sốt sắng
- Khi trao ban các Bí tích thiếu tâm tình và thường bị các yếu tố bên ngoài lôi kéo.
* Quản trị cộng đoàn:
- Thích hoàng nhoáng bên ngoài, và thích để lại dấu ấn chính mình hơn là xây dựng một cộng đoàn có tính Giáo hội
- Tương quan với giáo dân chưa là một tương quan giữa chủ chăn và con chiên : chủ chăn không biết chiên, và chiên thì xa tránh chủ chiên.
*Phương thế:
- Tất cả mọi hoạt động đều phải qui hướng về Chúa Kitô
- Liên kết với Giáo hội. Cập nhật hoá các huấn thị của Giáo hội
- Cầu nguyện để kết hợp mật thiết với Chúa trong khi hành động
- Sống hiệp thông với anh em linh mục trong giáo hạt và giáo phận
- Thăm viếng giáo dân, quan tâm đến những gia đình nghèo. Tạo một mối dây liên đới tốt đẹp giữa linh mục và giáo dân qua những cuộc trao đổi thân mật
Lời kết thúc của Cha tổng đại diện
Để có thể “nên thánh trong đời sống mục vụ” người linh mục phải ý thức về căn tính đặc biệt của mình. Trong sự ý thức đó người linh mục cần:
- Quan tâm đến đời sống chung tập thể. Người linh mục phải để ý đến ích lợi của đời sống chung trong việc chu toàn trách vụ mục tử. Bởi đó, không được lơ là trong những dịp tĩnh tâm của anh em linh mục trong giáo phận và giáo hạt. Những dịp tĩnh tâm hàng năm, hàng qúi và hàng tháng, thường huấn phải là những cơ hội thuận lợi để người linh mục thăng tiến qua những cuộc gặp gỡ và trao đổi với anh em.
- Phải nỗ lực khám phá ra cho được những nguyên nhân gây cản trở việc thống nhất giữa đời sống thiêng liêng và hoạt động.
- Trọng tâm của đời linh mục là hoạt động mục vụ, cho nên đừng bao tự mình ngưng đời sống hoạt động mục vụ. Phải hết sức chú tâm vào công việc mục vụ như là phương thế chính yếu để nên thánh.
- Qui hướng đời sống mục vụ trong chiều kích Mầu nhiệm Nhập thể của Đức Kitô. Đức Kitô đã thưa với Chúa Cha: “này con xin đến để làm theo ý Cha”,và trong việc vâng phục đó Đức Kitô đã tự huỷ, đã chọn kiếp sống con người và chịu chi phối bởi những định luật tự nhiên. Đức Kitô đã nên giống chúng ta hoàn toàn ngoại trừ tội lỗi, thánh Phaolô đã khẳng định điều đó. Đó là một mẫu gương sống động cho người linh mục trong khi thi hành chức vụ mục tử. Người linh mục phải thực sự “nhập thể”. Nhập thể để thi hành chức vụ trước tiên là làm theo “ý của Chúa Cha”; thứ hai là quên mình để chăm lo cho đoàn chiên; thứ ba là thực sự “nhập thể”nơi mình được gởi tới để phục vụ. Chúa cần ta nên mới chọn ta. Cho nên khi được gởi tới một giáo xứ nào đó thì người linh mục phải hiểu rằng: Chúa cần mình phục vụ tại đó và cho nhu cầu tại đó.
- Để có thể “nhập thể” như Đức Kitô, người linh mục cần phải siêng năng đọc Phúc Am.
- Không ai có thể nên thánh một mình, bởi đó người linh mục phải nên thánh với anh em linh mục đoàn. Phải thể hiện tinh thần hiệp thông linh mục với anh em.
Kết thúc vào lúc 16giờ00 - Ngày 23.10.2003
Tổ thư ký:
Lm. Gioan B. Nguyễn Văn Riễn
Lm. Antôn Hà Văn Minh
Lm. Gioan B. Nguyễn Minh Hùng