I.TỰA ĐỀ:

PHƯƠNG PHÁP BIẾN ĐỔI XÃ HỘI CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ.

II. MỤC TIÊU:

Giúp các học viên biết cách thăng tiến con người và biến đổi môi trường xã hội.

III. BẢN VĂN CÔNG ĐỒNG:

* Vui Mừng và Hy Vọng, Ưu Sầu và Lo Lắng của con người ngày nay, nhất là của những người nghèo và những ai đau khổ, cũng là Vui Mừng và Hy Vọng, Ưu Sầu và Lo Lắng của các môn đệ Chúa Ki-tô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ. Thực vậy, cộng đoàn của họ được cấu tạo bằng những con người đã được quy tụ trong Chúa Ki-tô, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong cuộc lữ hành về Nước Cha và đã đón nhận Tin Mừng Cứu Rỗi đem tới cho mọi người. Vì thế cộng đoàn ấy mới nhận thấy mình thực sự liên hệ mật thiết với loài người và lịch sử nhân loại. (Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, Lời mở đầu, số 1).

* Tính cách trần thế là tính cách riêng biệt và đặc thù của giáo dân (…) Vì ơn gọi riêng, giáo dân có bổn phận tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách làm các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và bổn phận của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội; tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ. Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Am, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình; và như thế, với lòng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là với bằng chứng đời sống, họ tỏ lộ Chúa Ki-tô cho kẻ khác, vì thế, họ có nhiệm vụ đặc biệt soi sáng và xếp đặt những thực tại trần gian có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng phát triển và bành trướng theo thánh ý Chúa Ki-tô, hầu ca tụng Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Độ.

(Hiến Chế Tín lý về Giáo Hội chương IV, số 31)

IV. CÂU HỎI GỢI Ý:

1. Đức Bác Ái Ki-tô giáo và sứ mệnh của người môn đệ Đức Giê-su có liên quan gì với sự thăng tiến con người và sự thay đổi xã hội không?

2. Muốn thăng tiến con người và cải thiện xã hội theo tinh thần Đức Giê-su Ki-tô chúng ta phải làm những gì? và làm thế nào?

V. NỘI DUNG:

5.1 Thánh Gia-cô-bê đã viết “Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì?… Đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết” (Gc 2,14.17). Hành động mà Thánh Gia-cô-bê nhắc đến ở đây phải hiểu là hành động cứu giúp con người: cho người đói ăn, cho người khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, thăm viếng người lao tù bệnh tật, tạo công ăn việc làm cho người thất nghiệp, nâng cao văn hóa cho người thất học, quí trọng giúp đỡ những người bị lãng quên khinh rẻ, giúp vốn cho người nghèo để họ tự thoát khỏi cảnh nghèo. Chính hiểu như thế mà các Nghị Phụ Công Đồng Va-ti-can II mới có những dòng bất hủ để mở đầu Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới ngày nay mà chúng ta đọc ở trên.

5.2 Đức tin phải được thể hiện bằng hành động. Hành động phải đáp ứng nhu cầu của người chung quanh và mong chờ của xã hội. Vậy thử hỏi chúng ta đang sống trong bối cảnh xã hội nào? Xã hội đang đặt ra cho chúng ta những vấn đề gì? Tiếc là chúng ta chưa có một nhận định và phân tích xã hội nào của Giáo hội về hiện trạng cũng như về chiều hướng của xã hội Việt Nam, để chúng ta định hướng cho sự dấn thân của người giáo dân. Thay vào đó, chúng ta có thể nghiên cứu bản nhận định và phân tích xã hội năm 1990 của Liên Hội Đồng Giám Mục Á châu (Federation of Asian Bishops Conferences, viết tắt là FABC). Theo bản nhận định và phân tích này thì trong đời sống xã hội của các nước Á Châu đang diễn ra một cuộc chiến khốc liệt giữa ánh sáng và bóng tối. Bóng tối là các “các lực lượng phi nhân gieo rắc sự chết chóc”. Còn ánh sáng là “các sức mạnh đem lại sự sống cho Châu Á”. Chúng ta có một bảng liệt kê như sau:

5.2.1 Các lực lượng phi nhân gieo rắc sự chết chóc:

1- Nạn nghèo đói.

2- Nạn bất công.

3- Nạn khai thác môi trường sinh thái.

4- Chủ nghĩa quân phiệt.

5- Nạn lãng phí sức người và tài nguyên thiên nhiên.

6- Nạn kỳ thị đối với phụ nữ xuất phát từ phong tục tập quán.

7- Nạn tranh chấp về mặt chính trị, tạo nên tình trạng di dân nội địa.

8- Tình trạng di dân nội địa và quốc tế.

9- Nạn bạo động đối với trẻ em và người trẻ.

10- Đa số thống trị, thiểu số gây hấn.

5.2.2 Các sức mạnh nhân bản đem lại sự sống:

1- Ý thức mới của những kẻ sống bên lề: họ nhận thức rằng đoàn kết với nhau họ có thể làm điều gì đó thay đổi hoàn cảnh của họ.

2- Nguyện vọng sống cộng đoàn, liên đới với nhau, đối thoại và cùng tham gia.

3- Các trào lưu:

- Tham gia dân chủ.

- Đại kết.

- Hỗ trợ phát triển.

- Thăng tiến phụ nữ.

- Canh tân tâm linh.

5.3 Đi sâu vào phân tích các vấn đề xã hội, chúng ta sẽ tìm ra nguyên nhân, cội rễ của các tình trạng trên. Các nguyên nhân có hai loại, đó là:

5.3.1 Các nguyên nhân có tính cá nhân

Tức là những sức mạnh nằm trong con người chúng ta tác động trên tư tưởng, lời nói và hành động của chúng ta, khiến các giá trị con người bị chà đạp. Đó là sự nhát gan sợ sệt không dám bênh vực công lý chống lại bất công cường quyền. Đó là lòng ham hố tiền của, quyền lực, danh vọng khiến người ta chạy theo những thứ ấy mộtcách mù quáng mà làm hại người khác. Đó là thái độ dửng dưng, thờ ơ trước sự đau khổ và số phận hẩm hiu của đồng bào, trước các tệ nạn đang tàn phá xã hội. Đó còn là sự dốt nát, là hận thù, là não trạng thực dân, là các thành kiến.

5.3.2 Các nguyên nhân có tính xã hội

Tức là những sức mạnh ở ngoài chúng ta nhưng ở trong xã hội, khiến các giá trị con người bị chà đạp. Đó là cơ cấu xã hội đàn áp con người; là luật lệ kinh tế bất công & buôn bán không sòng phẳng giữa các nhóm, các tồ chức kinh tế, các quốc gia; là tập quán hay luật lệ kỳ thị.

5.4 Cách thăng tiến con người và biến đổi xã hội của Ki-tô hữu là tích cực đảm nhận công việc trần thế, để làm cho con người và xã hội được thăng tiến về mọi mặt kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, tôn giáo và môi sinh. Muốn làm được việc đó, chúng ta phải có một hiểu biết nhất định về hiện trạng xã hội, về nguyên nhân tạo nên nghèo đói, bất công, tranh chấp, bạo lực... Chúng ta cũng phải biết về cái cơ chế guồng máy đang vận hành trong xã hội, để thấy nó phục vụ hay bóp nghẹt con người, phục vụ thiện ích của số đông hay của một thiểu số? Nói cách khác là chúng ta phải biết phương pháp phân tích xã hội của các nhà hoạt động xã hội và chính trị.

5.5 Thực hiện sứ mệnh thăng tiến con người và biến đổi xã hội giả thiết một cuộc hoán cải cá nhân và cộng đoàn, không chỉ bằng cách thay đổi cơ cấu xã hội mà còn và nhất là bằng cách thay đổi con tim, thay đổi tâm hồn con người. Điều này rất khó, nhưng là điều cơ bản, vì không có sự thay đổi ấy thì xã hội sẽ chẳng thay đổi gì. Và trách nhiệm của các Ki-tô hữu là làm sao cho nhiều người- bắt đầu từ chính bản thân chúng ta và từ các cộng đoàn Ki-tô hữu - thay đổi não trạng, thay đổi tâm hồn: từ hẹp hòi ích kỷ thành quảng đại, vị tha; từ ham hố của cải, chức quyền, danh vọng, lạc thú thành siêu thoát, điều độ, tinh tuyền.

VI. SỨ ĐIỆP:

Nâng cao đời sống cá nhân và xã hội về mọi mặt và làm cho xã hội trở thành Vương Quốc, Triều Đại của Thiên Chúa ở trần gian này.

VII. SỐNG SỨ ĐIỆP:

7.1 Cảm tạ Thiên Chúa đã dựng nên con người có hồn có xác, có tinh thần có vật chất, có gia đình và xã hội.

7.2 Tích cực góp phần vào việc làm cho con người được no đủ, hạnh phúc về vật chất cũng như tinh thần (mỗi người viết ra giấy những việc mình có thể làm và quyết tâm làm để giúp người khác và giúp xã hội biến đổi).

Các anh hãy theo Tôi - Đề Tài II

I. TỰA ĐỀ : CHÚNG TA ĐƯỢC ĐỨC GIÊ-SU MỜI GỌI ĐỂ “SỐNG VỚI NGƯỜI”

hay

CHIỀU DỌC CỦA ƠN GỌI LÀM MÔN ĐỆ ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ.

II. MỤC TIÊU:

Giúp các học viên có được lòng biết ơn đối với Đức Giê-su là Đấng đã mời gọi họ sống thân mật với Người.

III. BẢN VĂN THÁNH KINH : Mc 3.13-15.

Rồi Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ

IV.CÂU HỎI GỢI Ý :

1. Ngay sau khi chịu phép rửa của Gio-an, Đức Giê-su đã có những hoạt động nào đáng ghi nhận?

2. Đức Giê-su đã gọi và chọn một số người để họ làm gì?

3. Tại sao phần đông những người Đức Giê-su chọn chỉ là những người chài lưới, đơn sơ, ít học, không có địa vị xã hội, thậm chí có người thuộc hàng thu thuế bị dân chúng Do Thái khinh miệt?

V. NỘI DUNG :

5.1 ”Rồi Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ” (Mc 3.13-15).

Trong đoạn Tin Mừng theo Thánh Mác-cô trên, chúng ta có được các yếu tố căn bản và ý nghĩa nhất, giúp xác định thế nào là người môn đệ theo như chính Đức Giê-su đã hiểu:

(1) Ta chọn anh em,

(2) để anh em sống với Ta,

(3) để anh em được sai đi,

5.2 Không chỉ có các tông đồ mà tất cả chúng ta đều được Đức Giê-su, đều được Thiên Chúa mời gọi, để trổ thành môn đệ của Người, vì chưng Đức Giê-su là Thiên Chúa hằng sống, Đấng thực hiện công trình Cứu độ xuyên qua mọi thời đại và cho mọi dân, mọi nước. Người muốn chia sẻ công việc của Người với loài người với chúng ta (Mc 1, 16-20, Lc 14,45).

5.3 Nhưng không ai có thể trở thành môn đệ “nếu như Chúa Cha không ban ơn ấy cho” (Ga 6, 65). Chính Đức Giê-su cũng đã nói rõ ràng: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em và cắt cử anh em…” (Ga 15,16).

Tại sao Đức Giê-su lại chọn tôi? Không có câu trả lời nào đích đáng cho bằng câu trả lời đã tìm thấy trong Cựu Ước: “Ta đã không chọn ngươi vì ngươi đạo đức hay đẹp trai hơn. Không, Ta đã chọn ngươi vì Ta đã thương yêu ngươi” (xem Đnl 7,78). Đó là tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Làm môn đệ trước hết chính là một hồng ân của tình yêu! Là một quà tặng của tình yêu!

5.4 Ngôn sứ I-sa-i-a đã loan báo Đấng Mê-si-a đến và đã đặt cho Người một cái tên đầy ý nghĩa: “Cho nên chính Đức Chúa sẽ cho các ngươi một dấu: này Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con và bà sẽ gọi tên con bà là “Em-ma-nu-en” (Is 7,14). Em-ma-nu-en có nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng tôi” (Mt 1,23).

Chúng ta có thể nói: Hạnh phúc của Thiên Chúa là được ở với chúng ta. Vì thế Đức Giê-su Ki-tô kêu gọi chúng ta để chúng ta ở với Người, đó chính là yếu tố đầu tiên hay chiều kích thứ nhất của lời mời, của ơn gọi của chúng ta: người ta gọi đó là chiều dọc của ơn gọi làm môn đệ Đức Giêsu.

5.5 Trong Tin Mừng Gio-an câu chuyện Đức Giê-su gọi các môn đệ đầu tiên được trình bày một cách khác nhưng mang nhiều giáo huấn: Đức Giê-su mời Gio-an và An-rê: “Đến mà xem” Họ đã đến xem chỗ Người ở và ở lại với Người ngày hôm ấy (Ga 1, 39).

Sau này Đức Giê-su tuyên bố: “Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết” (Ga 15,14-15). Sống với Đức Giê-su, ở bên Đức Giê-su để chia sẻ với Người tất cả mọi điều chứa chất trong lòng Người, đó là điều quan trọng nhất đối với cuộc sống của chúng ta.

5.6 Đức Giê-su đã thổ lộ với các môn đệ:

về ước mơ của Người:

Thầy đã ném lửa vào mặt đất và Thầy nhưng ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên” (Lc 12, 49).

về ý nghĩa cuộc sống của Người:

Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4, 34).

về sứ mạng của Người, sứ mạng đã được ngôn sứ I-sa-i-a loan báo:

Thần khí Chúa ngự trên tôi

Vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi

Để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn,

Người đã sai tôi đi công bố

Cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha

Cho người mù biết họ được sáng mắt,

Trả lại sự tự do cho người bị áp bức,

Công bố một năm hồng ân của Chúa
” (Lc 4,18-19)

về bí mật của Thiên Chúa:

Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

Kết Luận:

Vì thế cho nên, “Yếu tố đặc thù trong mối quan hệ của Đức Giê-su với các môn đệ là điều Đức Giê-su tự biết về mình và đã bộc lộ ra với các môn đệ. Đức Giê-su đòi hỏi các môn đệ một sự dấn thân trọn vẹn và hoàn toàn phó thác vào Người. Làm môn đệ không có nghĩa là học một nghề, trở thành một nhà chuyên môn, theo đuổi một sự nghiệp, có bằng cấp của một đại học hay một trường nổi tiếng. Không phải thế! Làm môn đệ tức là chia sẻ cái kinh nghiệm căn bản của Thầy chúng ta, cái kinh nghiệm mà Người thông đạt cho chúng ta. Có nghĩa là chúng ta bị cuốn theo nhãn quan của Thầy, bị thiêu đốt bởi ngọn lửa đã thiêu đốt tâm can Thầy”.

“Hiểu cho đến cùng thì người môn đệ phải trở nên giống như Thầy. Người môn đệ có cùng một kinh nghiệm căn bản như Đức Giê-su đã có và kinh nghiệm ấy là nền tảng của đời sống Đức Tin của chúng ta: Thiên Chúa yêu thương mọi người với một tình yêu vô điều kiện, một tình yêu đầy xót thương. Người luôn luôn tha thứ cho chúng ta. Người luôn luôn ở cùng chúng ta. Người môn đệ là kẻ sống cái kinh nghiệm ấy trong đời thường và coi việc làm chứng về kinh nghiệm ấy là cách tham dự vào sứ mạng của Đức Giê-su. Chỉ khi nào chúng ta sống với Chúa và cảm nghiệm tình thân và tình yêu của Người dành cho chúng ta, thì lúc đó chúng ta mới có thể được sai đi


(John Fuellenbach, Throu Fire, trang 67).

VI. SỨ ĐIỆP:

SỐNG THÂN MẬT VỚI ĐỨC GIÊ-SU LÀ ĐIỀU QUAN TRỌNG NHẤT CỦA ƠN GỌI LÀM MÔN ĐỆ.

VII. SỐNG SỨ ĐIỆP:

Tìm mọi cách để sống gần bên Đức Giê-su, đi vào lòng Người, chia sẻ mọi tâm tư, nguyện vọng, lý tưởng của Người… Cụ thể có thể bằng những việc sau đây:

1. Đọc Lời Chúa và cầu nguyện (Lectio divina) mỗi ngày 15-20 phút, để lắng nghe tiếng Chúa,

2. Học hỏi Thánh Kinh để hiểu biết về Chúa hơn,

3. Siêng năng tham dự các buổi cử hành phụng vụ, cầu nguyện cộng đồng,

4. Sống công bằng, bác ái, phục vụ,

5. Tham gia vào việc truyền giáo (giới thiệu Chúa với người chung quanh)