4. Ngôi mồ - Sự phát triển tâm linh.

Theo sự phát triển, niềm tin cũng có sự tiệm tiến, mà sự phát lộ ra bên ngoài là những dấu chứng đề thấy bước tiến của niềm tin.

Niềm tin nguyên thủy từ nấm mộ và cây trụ đá: Có hai hướng phát triển, bình dân và bác học.

A. Đối với người bình dân:

Nói đến tín ngưỡng phồn thực sợ rằng sẽ mất ý nhị chăng? Nếu mà không nói ra thì dường như thiếu điều gì đó cơ bản khi chứng minh sự phát triển của niềm tin. Thôi thì cứ nói cách thanh trong cõi tục như xưa Nguyễn Du đã viết và đạt đến mức thành công nào đó trong nét thanh cao độ.

Tại xứ nông nghiệp niềm tin phôi thai được phát lộ qua tín ngưỡng phồn thực. Phồn có nghĩa là nhiều, thực có nghĩa là nảy nở. Nảy nở thêm nhiều trong một thực tại khó khăn về vật chất là một ước muốn tìm thấy hạnh phúc, và no đủ. Từ một nhu cầu thực tế và thiết yếu của cuộc sống, con người bình dân đi tìm những gì thấy trong thiên nhiên để đáp ứng cho mình. Giai đọan này có thể gọi đó là giai đọan trực quan. Thấy sự sinh sôi là một thiết yếu, họ tìm thấy lối thoát cho mình là tín ngưỡng phồn thực, mà vật thờ không gì khác chính là bộ phận sinh thực khí.

Giai đọan này tồn tại rất lâu đời trong lịch sử tín ngưỡng Ở Việt Nam, người ta tìm thấy tại Vân Điển (Hà Nội) những tượng đá, hình nam nữ với bộ sinh thực khí phóng to nhiều lần xưa đến vài ngàn năm trước công nguyên, trên những tảng đá trong thung lũng Sapa, trong các nhà mồ Tây Nguyên. Nhiều phong tục rước sinh thực khí thấy ở các hội làng như Đồng Kị (Hà Bắc), Phú Thọ, Hà Tây.

Người bình dân cũng không thiếu tính tưởng tượng, những cột trụ đá và các loại hốc (núi, cây..) được phong phú hóa bằng trí tưởng tương ra thành sinh thực khí để thờ. Ở Chùa Đạm (có cây trụ thờ hình sinh thực khí có khắc nổi hình rồng thời Lý). Ngư phủ ở vùng Sở Đầm Hòn Đỏ (Khánh Hòa) thờ một khe nứt lớn trên một tảng đá mà dân gian gọi trại đi là Lỗ Lường.

Người bình dân trong tín ngưỡng phồn thực cũng thấy thể hiện một niềm tin quan trọng, con người sinh ra để sống chứ không phải để chết, chính vì vậy mà vẫn hy vọng vào sự sống nảy sinh ngay cả khi con người phải chết. Niềm tin đó được ký thác vào việc truyền sinh, nảy nở, hoa trái của con người gieo vào lòng nhân thế. Thưở hồng hoang, niềm tin ấy còn đơn sơ, dựa vào thực tại của việc sinh nở mà hy vọng, cho nên còn thấy trong tín ngưỡng phồn thực còn thấy lại trên đá những dấu ấn tạc lại ngay cả những hành vi giao phối của người cũng như của các con vật.

Khi con người tiến bộ hơn, các nghệ thuật phát triển hơn và cũng tế nhị hơn, người ta chuyển hóa hình ảnh ấy qua những hình thể mỹ miều và đặc sắc hơn.

Trống Đồng của người Việt cũng mang theo tính trừu tượng hóa hành vi ấy, phác họa bằng cách đánh trống, dùng chiếc chày dựng đứng để đánh vào mặt trống. Hình ảnh này phác họa cách giã gạo xưa kia của người Việt, hiện nay vẫn còn thấy ở nhóm dân tộc Mường.

Tại Ấn Độ, trong số các đề tài nổi bật nhất ở Bharhut và Sanchi là các hình tượng nam nữ đứng, khó có thể mà không nhắc tới những chạm trổ điêu khắc Dạ xoa nữ, một hình tượng mang đấy nét phong nhiêu, biểu tượng cho sự sinh sôi nảy nở. Một số hình tượng khác đứng theo nghi thức lễ bái, với đôi bàn tay ôm chặt trên ngực, nhiều hình tượng mang theo tính gợi cảm. Dù mỗi bức tượng hay chạm trổ có tên gọi khác nhau như Chằn cái Dạ xoa, hộ thủ, chiến sĩ hoặc Nagaraja (Vua các loài rắn), chúng đều có đặc điểm giống nhau, là liên hệ tới việc sinh sôi nảy nở. Sự sống là quan trọng, sự sống ấy không hề mất đi khi con người phải chết. Đó là điều lý giải hợp lý nhất cho các hình tượng phong nhiêu.

Một số kiểu thức nghệ thuật Phật Giáo khác, có ảnh hưởng trong vùng Đông Nam Á dọc theo bờ biển phía Đông, dọc theo sông Krishma. Khởi đầu từ nhà vua Ashoka, vùng này là quê hương của những trung tâm tu viện nổi tiếng và của một số các giảng sư vĩ đại nhất trong giới Phật Giáo.

Văn hóa Chăm ảnh hưởng từ Ấn Độ từ thế kỷ thứ 7 đến hết thế kỷ 15, với Bàlamôn giáo là yếu tố quan trọng nhất. Với biểu tượng văn hóa đặc sắc nhất không thể nào không nghĩ tới Tháp Chăm, đứng giữa trời uy nghi, sừng sững trước những sóng biển bao la. Hình thù Tháp Chăm mang hình quả núi, mang tính chất lăng mộ thờ vua, người Chăm gọi là Kalăn, có nghĩa là lăng, ngoài chức năng thờ Vua, Tháp Chăm còn thờ các thần bảo hộ cho nhà vua, trong lòng tháp chật hẹp, chỉ đủ chỗ cho pháp sư hành lễ chứ không nhằm để cho tín hữu tụ họp. Chính vì thế Tháp Chăm biểu lộ tính riêng tư. Cõi riêng tư ấy có vật thờ phổ biến nhất là Linga. Có ba loại Linga: Loặi 1 thành phần chỉ là một trụ tròn; Loại hai thành phần gồm trụ tròn và chân đế vuông; Loại ba thành phần, gồm phần trên trụ tròn, phần giữa mang hình bát giác và chân đế mang hình vuông, loại hình này biểu lộ rõ nét nhất trong ảnh hưởng Bàlamôn giáo, Phần trên cùng đại diện cho thần Shiva (Hủy diệt), phần giữa đại diện vị thần Vishnu (bảo tồn), phần vuông đế đại diện cho thần Brahma (sáng tạo).

Dòng Âm tính trong văn hóa Mẹ cũng là một dòng chảy mạnh không kém gì dòng văn hóa mang tính Dương. Như thấy các họa tiết trang trí trong văn hóa Chăm, các bầu sữa chạm trổ chung quanh các bệ tượng, người Chăm cũng thờ Thần Mẫu như Tháp Bà (Nha Trang).

Ảnh hưởng vào Việt nam nở rộ nhất là vào triều Lý (1049):

Như còn thấy di tích của Chùa Một Cột. Bình đồ của Chùa Một Cột (Dương) nằm trong một chiếc hồ vuông (Âm). Chùa Một Cột có tên chữ là Nhất Trụ Tự hay Liên Hoa Đài. Ngôi chùa này không còn tòan vẹn như thưở ban đầu thời Lý. Thành phần còn lại có thể tin là vào thời Lý là cây cột trụ chính gồm hai khúc tròn chồng khớp lên nhau, đường kính 1m 2, đội tòa nhà bên trên như cuống của đóa hoa sen nổi trên mặt hồ nước vuông nhỏ, mỗi cạnh khỏang 16m.

Với Triều Lý, Lý Thần Tôn có dịp mở hội đã đặt 81.000 cây tháp vào năm 1129, khánh thành gác Thiên Phù nơi góc Tây Nam Dàm Đàm (Hồ Tây). Khai quật khảo cổ người ta tìm thấy những mảnh vỡ của những cây tháp nung, hình dáng thắt nở rõ rệt, có đọan là tầng dưới của một cây tháp đặttrên một nền bệ hoa sen hai tầng cánh hoa, chân bệ có đính những chiếc lá Bồ Đề hay lá Sòi chạy theo khắp mặt thẳng của bệ. những cánh hoa, chiếc lá này biểu tượng cho sự sinh sôi nảy nở, phì nhiêu của đất đai, lòng bao dung của Đức Phật Từ Bi.

Tìm trong di sản văn hóa Việt ch úng ta có thể thấy bàng bạc kh ối Âm Dương đan xen nhau trong nhiều công trình kiến trúc như Tháp Bút - Đài Nghiên ở cổng Đền Ngọc Sơn (Hà Nội), cửa sổ tròn trên gác Khuê Văn (tượng trưng cho sao Khuê) soi mình xuống hồ nước hình vuông. Rồi còn nhiều biểu tương khác nữa mang hình dấu khối vuông tròn…

Từ niềm tin vào sự sống sơ khởi chúng ta đã thấy sự tiến triển trở thành tâm thức tôn giáo, ý thức về thần linh rõ rệt. Sự phong nhiêu được chuyển từ cõi tục sang cõi thiêng, từ hình thức nguyên sơ đến hình thức trang trọng, từ thô sơ đến tinh vi và sắc xảo.

(Còn tiếp)