3. Trụ tháp của niềm tin.

Có thể đọc thấy nhiều chứng từ trên các bia đá rải rác khắp các nước trên thế giới để chứng minh nền văn hóa của các dân tộc và các niềm tin tôn giáo.

Bia đá Khắc ghi Lề Luật của Thiên Chúa ký kết với Moises, đại diện cho riêng Thiên Chúa lựa chọn. Bia đá còn được Moises dựng lên 12 tấm bia để biểu hiện cho 12 chi tộc Israel.

Bia đá giống như một món quà lưu niệm sau khi ký kết Giao Ước, chứng nhận lời cam kết tiên khởi của Israel qua các thế kỷ: “Hòm bia Giao Ước là một cái tráp, trong đó đựng các bia chứng ngôn” (Xh 25, 10 -22). Bia Giao Ước là một tấm đá ghi khắc Lề Luật, dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa Israel.

Người Ấn Độ, trước cả khi Phật Giáo hình thành, trong kiến trúc đã dùng cây cột trụ là cây trụ thờ, với ý niệm về trục hòang đạo, có rất sớm trong văn chương thời Rig Veda Ấn Độ. Vua Ashoka (272 - 231 B.C) đã cho xây dựng trên các đầu cột những hình tượng công phu theo phong cách Ba Tư. Các đầu cột mang hình con bò cái, voi hoặc sư tử và những đường viền trang trí.

Trụ đá đi vào niềm tin tôn giáo của Do Thái khá sớm, Tháp Babel mà con người xây lên, biểu tượng cây trụ đá, mà lúc bấy giờ nhiều dân tộc tin rằng nơi đó biểu hiện trung tâm của vũ trụ:

“Thuở ấy, mọi người đều nói một thứ tiếng và dùng những từ như nhau. Trong khi di chuyển ở phía đông, họ tìm thấy một đồng bằng ở đất Sin-a và định cư tại đó. Họ bảo nhau: "Nào! Ta đúc gạch và lấy lửa mà nung! " Họ dùng gạch thay vì đá và lấy nhựa đen làm hồ. Họ nói: "Nào! Ta hãy xây cho mình một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ta phải làm cho danh ta lẫy lừng, để khỏi bị phân tán trên khắp mặt đất.”

ĐỨC CHÚA xuống xem thành và tháp con cái loài người đang xây. ĐỨC CHÚA phán: "Đây, tất cả chúng nó họp thành một dân, nói một thứ tiếng. Chúng mới khởi công mà đã như thế thì từ nay, chẳng có gì chúng định làm mà không làm được. Nào! Ta xuống và làm cho tiếng nói của chúng phải xáo trộn, khiến chúng không ai hiểu ai nữa." Thế là ĐỨC CHÚA phân tán họ từ chỗ đó ra khắp nơi trên mặt đất, và họ phải thôi không xây thành phố nữa. Bởi vậy, người ta đặt tên cho thành ấy là Ba-ben, vì tại đó, ĐỨC CHÚA đã làm xáo trộn tiếng nói của mọi người trên mặt đất, và cũng từ chỗ đó, ĐỨC CHÚA đã phân tán họ ra khắp nơi trên mặt đất.”.

Trụ tháp có thể chịu ảnh hưởng lòng kiêu căng, nhưng không hẳn chỉ là thế, trụ tháp con là nơi mở ra một tương lai mới, như thấy trong nền văn hóa.

Phù đồ được hình thành từ hình thể ngôi mồ nguyên thủy. Trong mỹ thuật, kiến trúc Phật Giáo, sau trụ đá là thời kỳ phù đồ trong kiến trúc. Phù đồ (Stupa) có thân chính gọi là Anda, một cái vòm hình bán cầu dựng bên trên một nền thấp. Có một cột trụ duy nhất ló lên giữa những đĩa hình tròn. Cột trụ và các chiếc dù được bao bọc bằng một hàng rào chấn song vuông vức. Như vậy, phù đồ là sự kết hợp giữa trụ và ngọn núi, cột trụ biểu tượng “ngọn núi thế giới” được minh họa thêm bằng trung tâm hòan vũ. Cột trụ ló lên mang hình ba chiếc dù chồng lên nhau, trong ý nghĩa của Phật giáo biểu tượng cho Phật, Pháp, Tăng, gọi là Tam Bảo, đồng thời cũng nói lên ý nghĩa, con người muốn nhập vào cõi Niết Bàn cần nhờ đến Ân Tam Bảo để có thể vượt qua dòng sông Luân Hồi.

Phù đồ trong tính biểu trưng còn mang ý nghĩa nơi nhập vào Niết Bàn, sau khi hòan tất vòng Luân Hồi, cho nên vừa mang tính chất ngôi mồ vừa mang theo tính chất cột trụ.

Theo niềm tin Kitô giáo, nhà Mồ là nơi chờ đợi ngày thân xác Phục Sinh, mở ra một tương lai cuối thời, vào lúc thời gian viên mãn, Đức Giêsu Kitô lại đến để hòan tất công trình cứu độ. Như vậy, Nhà mồ không là nơi chấm hết nhưng là nơi mở ra với một nhãn quan khác lạ hòan tòan.

Từ mô hình phù đồ chuyển sang mô hình kiến trúc bảo tháp. Kiến trúc Bảo tháp theo hình trạng phù đồ ở các nước theo Đại Thừa như ở Trung Hoa các nước Đông Á, thọat trông thấy có vẻ như khác với phù đồ nguyên thủy. Tháp của Đông Á phát triển theo chiều cao mà không phát triển chiều ngang, thân tháp có thể hình lục lăng nhưng ưa chuộng nhất là hình bát giác, chia ra nhiều tầng theo số lẻ. Đầu vòm của tháp là hình chóp của phù đồ và có cây trụ cột với ba dù theo ý nghĩa nguyên thủy.

Nhà mồ, cột trụ, phù đồ, bảo tháp, tất cả những công trình kiến trúc ấy đều liên hệ đến việc phụng tự.

Với nhà mồ nguyên thủy đánh dấu bằng trụ cột, người ta tìm thấy dấu chứng của việc tế lễ và lá nơi cầu mùa thửa xưa. Ngày nay ở các dân tộc cao nguyên tại Việt Nam, ngày lễ bỏ mả vẫn là một lễ hội quan trọng nhất trong năm.

Kim tự tháp có cầu thamg rộng lớn đi lên chóp đỉnh, nơi đó dùng để tế thần Mặt trời.

Với bảo tháp, có cầu thang lên tới tận chóp, cầu thang này dùng để đi vòng quanh theo chiều lên và vừa đi vừa để tụng kinh. Cốt lõi của tháp có thể là một trụ, dọc suốt theo thân tháp, hoặc để trồng mà ở giữa lòng trống ấy đặt tượng Đức Phật. Các tầng tháp có lối mở ra các hướng và đủ chỗ để chạy đàn. Theo ý nghĩa thì cái trụ tim tháp là cột trụ với tượng Phật có ý nghĩa: xá lợi tượng trưng cho thể xác, kinh, chú, tượng trưng cho tinh thần của Phật.

Sự kiện niềm tin của Kitô Giáo bắt đầu từ Ngôi Mồ trống. Ngôi mồ trống là nhắc đến nơi an nghỉ của Chúa Giêsu, Ngày thứ ba, Người đã sống lại, không con ở đấy nữa. Chúa Giêsu Phục Sinh là trọng tâm niềm tin của Kitô giáo, cả 4 Phúc Âm đều nói đến Ngôi Mộ trống và Thánh Phaolô quả quyết: “Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng”.

Do hòan cảnh của Giáo Hội sơ khai, Lễ Bẻ Bánh đầu tiên được cử hành trong những hang toại đạo, nghĩa là nơi các thánh nhân an nghỉ. Các Kitô hữu tiên khởi đã dùng nơi này làm nơi tụ họp trong Ngày của Chúa, đánh dấu Ngày Chúa sống lại và ra khỏi mồ. Khi Giáo Hội được công khai, những ngôi Thánh Đường được xây cất cách trang trọng để là nơi “cầu nguyện, cử hành và cất giữ Thánh Thể, nơi để các tín hữu hội họp, nơi có sự hiện diện của Con Thiên Chúa”. Bàn thờ của Giao Ước mới là Thập Giá Đức Kitô, nơi phát xuất các bí tích của mầu nhiệm Vượt Qua. Bàn thờ là trung tâm của Thánh Đường, trên đó “hy tế Thập Giá được hiện tại hóa dưới những dấu bí tích. Bàn thờ cũng là bàn tiệc Dân Chúa được mời đến tham dự. Trong một số nghi lễ Đông Phương, Bàn thờ còn tượng trưng cho Ngôi Mộ của Đức Kitô (vì Người đã thực sự chết và sống lại). Theo truyền thống giáo hội sơ khai, bàn thờ còn được đặt Thánh Tích của các Thánh Tử Đạo, để tôn kính và là dấu chứng của mỗi cá nhân tham dự được mời gọi tháp nhập với Đức Giêsu Kitô Tử Nạn và Phục Sinh.

Nhà mồ bắt đầu từ người việc chôn người chết khai sinh nền văn hóa nhân loại. Ngôi mồ trống bắt nguồn từ việc Chúa Giêsu đã chết và sống lại khai sinh nền văn hóa Kitô giáo. Làm cho văn hóa Kitô giáo ảnh hưởng sâu xa trong các nền văn hóa là cách thức Phục Sinh các giá trị văn hóa, đó là cách truyền giáo của ngày hôm nay.