2. Nhà mồ, một cõi tâm linh.

Từ câu chuyện Xác ướp, tôi bắt đầu suy nghĩ: Người Ai Cập cổ xưa tin rằng linh hồn bất tử nên gửi xác vào nhà mồ kiên cố, được xây theo hình dáng Kim tự tháp, có bậc lên để tế Thần Mặt Trời. Theo niềm tin xa xưa, Thần Mặt Trời là vị Thần lớn nhất mang đến vầng sáng ban ngày, được nhiều dân tộc trên thế giới cổ xưa thờ kính. “Người Ai-cập sống trên vùng đất đầy ánh sáng; nếu như họ cảm thấy sợ hãi khi mặt trời khuất bóng ban tối, kinh nghiệm cho biết mặt trời sẽ mọc lên mỗi ban mai sau khi đánh bại thần tối tăm. Mặt trời được gọi thần trên các thần, sinh ra mọi thần khác cũng như loài người. Chúng ta biết được có một bài ca cho Thần Mặt Trời do vua Pha-ra-on A-khê-na-tôn viết khoảng năm 1350, và chắc tác giả Thánh vịnh 104 cũng đã gợi hứng từ bài ca này”. Người Việt Nam gọi là Ông Trời, chỉ có nhà vua mới đủ thẩm quyền thay dân để tế Trời, người Ai Cập cổ xưa cũng thế, những bậc đi lên ở kim tự tháp thật lớn để vua dù đã khuất vẫn thay dân để tế Thần Mặt Trời. Quan tài của Pharaon được đặt trong các hộp đá (salcophagi) và được chôn sâu trong kim tự tháp. Người ta tin rằng hồn bất tử nên đã tìm ra phương pháp ướp xác nguyên lành để ngày nào đó, hồn về nhận lại xác. Theo cách ướp xác cổ xưa, người ta lấy hết những bộ phận bên trong ra, ngoại trừ trái tim được coi như là bộ phận quan trọng nhất kiểm sóat hành vi và tư tưởng của con người. Khỏang những năm 3000 B.C, các xác ướp chỉ dành cho các vị vua, nhưng khoảng 2300 B.C, cách ướp xác dành cho mọi người, miễn là có khả năng thực hiện.

Nhà mồ mang hình quả núi, trong văn hóa, quả núi mang một dấu chứng tầm nhìn về thân phận của con người giữa vũ trụ mình sinh sống rất xa; cũng như thấy ghi chứng, ngọn núi là nơi con người gặp gỡ thần linh. Ngọn núi cũng là biểu tượng trái đất con người đang sinh sống. Tôi nhận thấy rằng quả núi mang đủ các chiều tương quan, dọc và ngang, trên và dưới, âm và dương…

Đối với nhiều tôn giáo núi cao có một ý nghĩa đặc biệt trong việc tế tự, giao tiếp với thần linh, còn được xem là giao điểm của trời và đất. Nhiều nơi tôn giáo có núi thánh thiêng cho riêng mình.

Vũ trụ luận, theo quan điểm Phật Giáo, quả núi là trung tâm của vũ trụ có tên gọi là Meru, từ trên ngọn núi ấy mọc lên nhiều tầng khác nhau của thiên giới. Ngọn núi trung tâm này bao bọc bời bảy dãy núi khác đồng tâm, mỗi dãy cách xa nhau bằng một đại dương, bảy đại dương ngăn cách nhau bởi một vành đai gọi là Luân Vi. Ở xa có 4 đảo lục địa nằm ở 4 hướng, hướng Nam là ở xa nhất, thuộc lãnh địa của loài người. Tòan bộ vũ trụ được bao bọc bởi một bức tường gọi là Thiết Vi.

Người Ai Cập xây dựng lăng mộ các vua hình Kim Tự Tháp, có bậc thang đi lên trên đỉnh để thờ thần mặt trời.

Những tháp đền thờ được xây dựng vào những năm 2060 B.C được tìm thấy ở Thành Ur, Iraq.

Người Do Thái tin tưởng trên núi cao là nơi Gia Vê ngự trị, họ thường thờ phượng Thiên Chúa của họ trên ngọn núi cao, những cuộc gặp gỡ lớn cũng ở trên núi cao, như cuộc gặp gỡ giữa Moises và Giavê khi thấy bụi gai cháy, khi lên núi Sinai để nhận hai bia đá Giao Ước. Núi có cao, có huyền bí nhưng Thiên Chúa vẫn là Chúa của các núi non, núi non không phải là cái rốn của vũ trụ (Ez 38, 12), cũng không là nơi thờ phụng duy nhất trên núi này hay núi nọ mà trong tinh thần và sự thật (Ga 4, 20 -24).

Núi nói lên tính cách bền vững: Kinh nghiệm cho thấy, con người rồi sẽ đi qua, núi vẫn còn là núi, hàng hàng lớp lớp những dãy núi, mang hình ảnh của dãy Hy Mã Lạp Sơn, Trường Sơn, Tiên Bồng, Vọng Phu, Mẹ Bồng Con…Trong Kitô giáo, núi biểu tượng sự công chính trừơng tồn của Thiên Chúa (Tv 36, 7). Nhiều ngọn núi quen thuộc thời các tổ phụ gọi là “Đồi Ngàn Xưa” (St 49, 26). Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa của núi đồi khi Người dùng cân “cân núi đồi” Is 40, 12, khi Người “di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác” (Giop 9, 5) và ban cho những người có niềm tin bé nhỏ (Mt 17, 20), như thế núi non cũng chúc tụng vinh danh Thiên Chúa (Tv 148, 9).

Núi biểu lộ sự uy quyền: Núi được các tôn giáo sơ khai tôn là thần, bởi núi mang tính linh thiêng, nơi che chở những con người khi bị áp bức, nơi con người tìm về cội nguồn và đánh dấu thời kỳ trút bỏ của mình (phong tục tại Châu Phi, một thiếu niên vào rừng để sống độc lập trong ba năm để bước vào giai đọan thanh niên; Phật Giáo ý với ý niệm lên núi). Núi, vì thế là một kinh nghiệm vượt qua, một bài học cho tương lai để bước vào sự sống dồi dào. Theo ý nghĩa này, đứng trước nấm mồ, mang hình ngọn núi thu nhỏ, người sống kinh nghiệm về sự trút bỏ của mình để sống dồi dào hơn.

Núi có thể là biểu hiện của tính cao ngạo (Gr 51, 25), sự kiêu căng cao ngạo như núi cũng có thể bị san lấp thành quan lộ thẳng ngay, niềm hãnh diện và vinh quang của con người là nơi Thiên Chúa, Chúa của mọi núi đồi. Con đường lên núi, theo kinh nghiệm Phật Giáo còn là con đường xuống núi. Tu, vì thế không là xuất thế mà là nhập thế mỗi ngày thâm sâu hơn.

Thiên Chúa dùng chất liệu tư tưởng đề cao ngọn núi của nhân loại để mạc khải điều chính yếu, con người quan trọng hơn núi cao và núi cao biểu lộ sự trường tồn của sự sống con người. Bia đá đặt trên những ngôi mộ nói lên sự kỳ diệu sự sống này.

Ngọn núi (thiên nhiên) đến Kim tự tháp (núi nhân tạo) là một tiến trình tiệm tiến trong vấn đề sử dụng và chế biến vật liệu, đó cũng là một tiến trình đi từ ý thức, đến niềm tin, đến tế tự. Đó là ba giai đọan của tiến trình tiến triển văn minh cổ: Ý thức về sự chết làm thành văn hóa chôn người chết. Ý thức việc chôn người chết dần dà hình thành niềm tin và biểu lộ niềm tin ấy qua các vật dụng chôn cùng người chết. Từ niềm tin sống sao chết vậy làm nên tế tự, ban đầu là cung cấp thực phẩm cho người chết, dần rồi trở thành nghi thức tế tự. Gọi là ba giai đọan song cũng thấy rất gần với nhau như không có biên giới thời gian khỏang cách.