Tháng Mười Một về, tôi lại bâng khuâng nhớ đến Nhà Mồ, nơi đó người thân yêu cuả tôi đã nghỉ yên, Không là nơi che khuất bóng mà là nơi mở ra những cuộc đời, không phải chỉ là một nấm mồ cỏ xanh nhưng còn là một tâm tình để sống, không chỉ là nơi một người nằm yên nghỉ nhưng còn là nơi để người sống biết nghĩ về tương lai tối hậu cuả mình và để ý thức cuộc sống sẽ gieo gì trong hiện tại.
Nhà mồ làm bằng đá, hoặc khắc ghi bia đá. Đá của thưở hồng hoang, đá của tuổi vĩnh cửu bước vào cõi trường sinh, đá thiên thu nói lên ý nghĩa: con người sinh ra để sống chứ không để chết, “sống gửi, thác về”.
Đá, vì thế không những nói về tương lai mà còn nhắc lại quá khứ, một quá khứ thưở hồng hoang khi con người phải chết, một quá khứ khi con người biết chôn người quá vãng. Một quá khứ ghi lại những trang sách lịch sử văn hóa.
Đá, vì thế, mang một cõi tâm linh, không chỉ ngàn năm mà mang dấu bất diệt, không chỉ là vật chất mà là biểu hiện cột trụ linh thiêng. Trong đá, người xưa ký thác cõi tâm linh, và từ ấy có thể đọc thấy niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.
1.Tuổi của Đá, nền văn minh:
Mỗi lần tiễn biệt một người đến nơi an nghỉ cuối cùng, lòng trí tôi lại bâng khuâng, đọc từng bia mộ, nhớ lại biết bao điều dạy khuyên, nhớ bao điều người xưa đã nói, đã kết thành khối tinh hoa. Điều ấn tượng, ghi nhớ nhất là những tấm bia dựng đứng trước mỗi nấm mồ, nó không đơn giản là ghi họ tên ngày tháng năm mất của người quá cố, mà đặc biệt nó còn là dấu chứng xưa đời nhất còn lại trên nấm mồ. Đá không chỉ là tấm bia mà còn có cả hồn, hồn của con người đã chuyển vào đá, để rồi có thể nghe đá biết nói, biết buồn, biết khóc, đá nói về mình, về lịch sử nguồn gốc của con người.
Mỗi lần dừng trước tấm bia đá, nhìn xa hơn ở các nền văn minh nhân loại, tôi nhận ra, đá bước vào tuổi vĩnh cửu của con người mang theo ý nghĩa trường tồn. Các di tích hóa thạch ở Olduval Gorge, thuộc đồng bằng Serengeti, miền bắc Tanzania, Đông Phi, nổi tiếng những di tích hóa thạch hominid. Các di tích hóa thạch của các loài Australopithecine, Homo habilis, cùng với các dụng cụ bằng đá thô sơ. Con người nguyên thủy ở trong hang động bao bọc bằng đá, chết cũng nhờ đá che chở trong động hang hoặc ít nữa cũng có trụ đá đặt làm dấu.
Có thể hơi tưởng tượng một ít, thử phác họa bước tiến của nhà mồ theo các bước như sau: Nhà mồ nguyên thủy dựa vào các hang đá, hoặc có thể chôn mặt bằng, ghi dấu bằng trụ đá, sau này ngôi mộ được đắp u lên mang hình quả núi, quả núi mỗi ngày được đắp cao hơn mang hình kim tự tháp và chuyển ý nghĩa sang hình trụ đá, sau đó là các tháp đài như bửu tháp của Phật Giáo để đánh dấu nơi an nghỉ của Vị Đại Lão Hòa Thượng của một ngôi chùa, ví dụ Bửu Tháp tại Chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn mới được xây dựng.
Người cổ Homo Sapiens Neanderthalensis được tìm thấy ở thung lũng Neander nước Đức năm 1856, có niên đại thời kỳ băng hà 120.000 đến khỏang 35.000 năm trước đây, là cư dân Châu Âu và Tây Á, cho thấy họ đã bắt đầu biết chôn người chết. Theo một hình ảnh phác họa, thấy rằng người cổ Neanderthal, đang đánh dấu ngôi mồ và khóc than người đã chết. Ngôi mộ chôn người chết không sâu, trong đó họ chôn cùng người chết với những viên đá lửa, các lễ vật như những chiếc nhẫn bằng sừng thú, các vật dụng bằng xương hoặc bằng đá. Dường như niềm tin nguyên thủy đã có tư tưởng: Âm sao Dương vậy, người sống cần thứ gì người chết cũng cần thứ ấy. Đó là một triết lý đầu tiên và cơ bản. Đông và Tây có những điểm gặp gỡ chung từ nguyên thủy.
Thành quách và các đô thị được hình thành từ 6000 năm trước công nguyên, các nhà khảo cổ đã minh chứng rằng: Một số nông dân vùng Tây Á đã biết trồng trọt, cuộc sống có thặng dư hơn và họ nghĩ đến xây dựng những thành phố đầu tiên, bao gồm hệ thống đường xa, thóat nước, nơi ở có sự liên kết giữa các gia đình,. Hai trong những thành phố này là Catal Huyuk ở Thổ và Jerico ở Israel. Kinh tế chủ yếu dựa trên sản phẩm nông nghiệp và trao đổi hàng hóa. Người ta cũng tìm thấy một chiếc sọ của người phụ nữ Jerico, cố tình kéo dãn ra khi bà ta còn sống và sau khi chết cái sọ được phủ bằng vữa, và vỏ ốc, vỏ sò được đặt trong hốc mắt, và các nhà khảo cổ nghĩ rằng chiếc sọ này được dùng trong việc tế tự.
Người Do Thái xưa xem việc kẻ chết không được an táng là một bất hạnh (Tv 79, 3). Đây cũng là một hình phạt nặng nề nhất mà các ngôn sứ đã đem để đe răn kẻ vô đạo (1V 14, 11). Chính vì thế người Do Thái cũng quan tâm đến đặc biệt cho ngày an táng của chính mình, ngay khi còn sống, Ông Abraham đã xây mộ cho các tổ phụ, cho bà vợ của ông (st 23). Nhiệm vụ của con cháu là chôn cất và cũng từ nhiệm vụ chôn cất đó mà có thêm những nghi thức để an táng.
Đá là biểu hiện sự che chở, cũng là biểu hiện sự sống. Thiên Chúa là “Đá Tảng của Israel” (2Sm 23, 3), Đá Tảng cũng nói đến sự khô chồi mà chính Thiên Chúa là nguồn sự sống đã làm cho Đá nảy vọt ra nước ban sự sống.
Nhà mồ đá nguyên sơ dùng có sẵn từ thiên nhiên, khi con người văn minh hơn, tự tạo cho mình những ngôi mộ bằng đá. Nhà mồ đá, được đẽo gọt từ những tảng đá khổng lồ nhằm che chở bền vững cho người chết. Ngôi mộ được tìm thấy ở vùng Newgrange thuộc Ái Nhĩ Lan, được xây dựng khoảng 3200 B.C, có lối vào. Những địa danh như Jordhoj ở Đan Mạch (3000 B.C), Los Millares ở Tây Ban Nha (3500 - 3000 B.C) còn lại những ngôi mộ đá do con người làm ra.
Cột trụ đá hình thành trong lịch sử văn minh nhân loại khoảng 4000 B.C, những người thuộc thời đồ đá mới. Cột trụ đá là những cự thạch xếp đứng theo hàng thẳng hoặc theo vòng tròn với một khỏang cách người xưa tính tóan ước lệ không rõ để biểu thị con số của thiên văn hay con số của vòng đời người. Những con số bí ẩn của người xưa.
Cự thạch thấy ở mạn Tây Châu Âu, đặc biệt vùng Tây Bắc Nước Pháp và Anh, di tích còn lại trong nhóm cự thạch Carnac ở Pháp, niên đại khỏang 2400 B.C, nhóm cự thạch ở Anh, niên đại 2800 B.C. Nhóm cự thạch được xếp từng viên đá lớn riêng rẽ hoặc dựng đứng hai khối thành hai trụ và một khối nằm ngang trên đầu hai trụ, có một khoảng cách nhất định, xếp theo đường thẳng và vòng tròn, không hiểu đường thẳng và vòng tròn này nói gì, nhưng có lẽ biểu thị, đây là nơi tổ chức lễ hội cầu mùa, hay cầu vong linh người đã khuất.
Vùng sông Nile, người ta thấy những kim tự tháp sừng sững giữa bầu trời. Ban đầu những kim tự tháp này được xây dựng bằng gạch, với kiến trúc khổng lồ, để chôn các Pharaon vào khỏang 3100 - 2686 B.C. Cùng với kim tự tháp, người Ai Cập cổ xưa đã biết đến kỹ thuật ướp xác, để bảo tồn người khuất đi vào cõi vĩnh hằng.
Cùng với giai đọan những hòn đá dựng đứng, người ta chôn người chết trong một hang mộ. Hang mộ được phủ lấp như một ụ đất dài, bên trong có các buồng được xếp với các lớp cự thạch, đá cuội nhỏ và những mảnh ván nhỏ.
Thế kỷ thứ 3, tại Tây Trung Nước Nhật có những ngôi mộ lớn hình thành. Chúng được xây như những gian phòng, bằng đá tảng vĩ đại và được phủ đất lên thành một ụ khổng lồ, có khi đỉnh cao của mồ tới 37 m. Người chết được chôn trong đó cùng với võ khí binh đao.
Chắc chắn rằng có một cõi linh thiêng nào đó người ta tin tưởng và đã ký gửi một tâm linh, từ nhà mồ đá đến khi trở thành lăng tẩm, từ lăng tẩm tiến đến những ngôi đền, một khỏang cách rất gần giữa vật chất và tâm linh.
(Còn tiếp)
Nhà mồ làm bằng đá, hoặc khắc ghi bia đá. Đá của thưở hồng hoang, đá của tuổi vĩnh cửu bước vào cõi trường sinh, đá thiên thu nói lên ý nghĩa: con người sinh ra để sống chứ không để chết, “sống gửi, thác về”.
Đá, vì thế không những nói về tương lai mà còn nhắc lại quá khứ, một quá khứ thưở hồng hoang khi con người phải chết, một quá khứ khi con người biết chôn người quá vãng. Một quá khứ ghi lại những trang sách lịch sử văn hóa.
Đá, vì thế, mang một cõi tâm linh, không chỉ ngàn năm mà mang dấu bất diệt, không chỉ là vật chất mà là biểu hiện cột trụ linh thiêng. Trong đá, người xưa ký thác cõi tâm linh, và từ ấy có thể đọc thấy niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.
1.Tuổi của Đá, nền văn minh:
Mỗi lần tiễn biệt một người đến nơi an nghỉ cuối cùng, lòng trí tôi lại bâng khuâng, đọc từng bia mộ, nhớ lại biết bao điều dạy khuyên, nhớ bao điều người xưa đã nói, đã kết thành khối tinh hoa. Điều ấn tượng, ghi nhớ nhất là những tấm bia dựng đứng trước mỗi nấm mồ, nó không đơn giản là ghi họ tên ngày tháng năm mất của người quá cố, mà đặc biệt nó còn là dấu chứng xưa đời nhất còn lại trên nấm mồ. Đá không chỉ là tấm bia mà còn có cả hồn, hồn của con người đã chuyển vào đá, để rồi có thể nghe đá biết nói, biết buồn, biết khóc, đá nói về mình, về lịch sử nguồn gốc của con người.
Mỗi lần dừng trước tấm bia đá, nhìn xa hơn ở các nền văn minh nhân loại, tôi nhận ra, đá bước vào tuổi vĩnh cửu của con người mang theo ý nghĩa trường tồn. Các di tích hóa thạch ở Olduval Gorge, thuộc đồng bằng Serengeti, miền bắc Tanzania, Đông Phi, nổi tiếng những di tích hóa thạch hominid. Các di tích hóa thạch của các loài Australopithecine, Homo habilis, cùng với các dụng cụ bằng đá thô sơ. Con người nguyên thủy ở trong hang động bao bọc bằng đá, chết cũng nhờ đá che chở trong động hang hoặc ít nữa cũng có trụ đá đặt làm dấu.
Có thể hơi tưởng tượng một ít, thử phác họa bước tiến của nhà mồ theo các bước như sau: Nhà mồ nguyên thủy dựa vào các hang đá, hoặc có thể chôn mặt bằng, ghi dấu bằng trụ đá, sau này ngôi mộ được đắp u lên mang hình quả núi, quả núi mỗi ngày được đắp cao hơn mang hình kim tự tháp và chuyển ý nghĩa sang hình trụ đá, sau đó là các tháp đài như bửu tháp của Phật Giáo để đánh dấu nơi an nghỉ của Vị Đại Lão Hòa Thượng của một ngôi chùa, ví dụ Bửu Tháp tại Chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn mới được xây dựng.
Người cổ Homo Sapiens Neanderthalensis được tìm thấy ở thung lũng Neander nước Đức năm 1856, có niên đại thời kỳ băng hà 120.000 đến khỏang 35.000 năm trước đây, là cư dân Châu Âu và Tây Á, cho thấy họ đã bắt đầu biết chôn người chết. Theo một hình ảnh phác họa, thấy rằng người cổ Neanderthal, đang đánh dấu ngôi mồ và khóc than người đã chết. Ngôi mộ chôn người chết không sâu, trong đó họ chôn cùng người chết với những viên đá lửa, các lễ vật như những chiếc nhẫn bằng sừng thú, các vật dụng bằng xương hoặc bằng đá. Dường như niềm tin nguyên thủy đã có tư tưởng: Âm sao Dương vậy, người sống cần thứ gì người chết cũng cần thứ ấy. Đó là một triết lý đầu tiên và cơ bản. Đông và Tây có những điểm gặp gỡ chung từ nguyên thủy.
Thành quách và các đô thị được hình thành từ 6000 năm trước công nguyên, các nhà khảo cổ đã minh chứng rằng: Một số nông dân vùng Tây Á đã biết trồng trọt, cuộc sống có thặng dư hơn và họ nghĩ đến xây dựng những thành phố đầu tiên, bao gồm hệ thống đường xa, thóat nước, nơi ở có sự liên kết giữa các gia đình,. Hai trong những thành phố này là Catal Huyuk ở Thổ và Jerico ở Israel. Kinh tế chủ yếu dựa trên sản phẩm nông nghiệp và trao đổi hàng hóa. Người ta cũng tìm thấy một chiếc sọ của người phụ nữ Jerico, cố tình kéo dãn ra khi bà ta còn sống và sau khi chết cái sọ được phủ bằng vữa, và vỏ ốc, vỏ sò được đặt trong hốc mắt, và các nhà khảo cổ nghĩ rằng chiếc sọ này được dùng trong việc tế tự.
Người Do Thái xưa xem việc kẻ chết không được an táng là một bất hạnh (Tv 79, 3). Đây cũng là một hình phạt nặng nề nhất mà các ngôn sứ đã đem để đe răn kẻ vô đạo (1V 14, 11). Chính vì thế người Do Thái cũng quan tâm đến đặc biệt cho ngày an táng của chính mình, ngay khi còn sống, Ông Abraham đã xây mộ cho các tổ phụ, cho bà vợ của ông (st 23). Nhiệm vụ của con cháu là chôn cất và cũng từ nhiệm vụ chôn cất đó mà có thêm những nghi thức để an táng.
Đá là biểu hiện sự che chở, cũng là biểu hiện sự sống. Thiên Chúa là “Đá Tảng của Israel” (2Sm 23, 3), Đá Tảng cũng nói đến sự khô chồi mà chính Thiên Chúa là nguồn sự sống đã làm cho Đá nảy vọt ra nước ban sự sống.
Nhà mồ đá nguyên sơ dùng có sẵn từ thiên nhiên, khi con người văn minh hơn, tự tạo cho mình những ngôi mộ bằng đá. Nhà mồ đá, được đẽo gọt từ những tảng đá khổng lồ nhằm che chở bền vững cho người chết. Ngôi mộ được tìm thấy ở vùng Newgrange thuộc Ái Nhĩ Lan, được xây dựng khoảng 3200 B.C, có lối vào. Những địa danh như Jordhoj ở Đan Mạch (3000 B.C), Los Millares ở Tây Ban Nha (3500 - 3000 B.C) còn lại những ngôi mộ đá do con người làm ra.
Cột trụ đá hình thành trong lịch sử văn minh nhân loại khoảng 4000 B.C, những người thuộc thời đồ đá mới. Cột trụ đá là những cự thạch xếp đứng theo hàng thẳng hoặc theo vòng tròn với một khỏang cách người xưa tính tóan ước lệ không rõ để biểu thị con số của thiên văn hay con số của vòng đời người. Những con số bí ẩn của người xưa.
Cự thạch thấy ở mạn Tây Châu Âu, đặc biệt vùng Tây Bắc Nước Pháp và Anh, di tích còn lại trong nhóm cự thạch Carnac ở Pháp, niên đại khỏang 2400 B.C, nhóm cự thạch ở Anh, niên đại 2800 B.C. Nhóm cự thạch được xếp từng viên đá lớn riêng rẽ hoặc dựng đứng hai khối thành hai trụ và một khối nằm ngang trên đầu hai trụ, có một khoảng cách nhất định, xếp theo đường thẳng và vòng tròn, không hiểu đường thẳng và vòng tròn này nói gì, nhưng có lẽ biểu thị, đây là nơi tổ chức lễ hội cầu mùa, hay cầu vong linh người đã khuất.
Vùng sông Nile, người ta thấy những kim tự tháp sừng sững giữa bầu trời. Ban đầu những kim tự tháp này được xây dựng bằng gạch, với kiến trúc khổng lồ, để chôn các Pharaon vào khỏang 3100 - 2686 B.C. Cùng với kim tự tháp, người Ai Cập cổ xưa đã biết đến kỹ thuật ướp xác, để bảo tồn người khuất đi vào cõi vĩnh hằng.
Cùng với giai đọan những hòn đá dựng đứng, người ta chôn người chết trong một hang mộ. Hang mộ được phủ lấp như một ụ đất dài, bên trong có các buồng được xếp với các lớp cự thạch, đá cuội nhỏ và những mảnh ván nhỏ.
Thế kỷ thứ 3, tại Tây Trung Nước Nhật có những ngôi mộ lớn hình thành. Chúng được xây như những gian phòng, bằng đá tảng vĩ đại và được phủ đất lên thành một ụ khổng lồ, có khi đỉnh cao của mồ tới 37 m. Người chết được chôn trong đó cùng với võ khí binh đao.
Chắc chắn rằng có một cõi linh thiêng nào đó người ta tin tưởng và đã ký gửi một tâm linh, từ nhà mồ đá đến khi trở thành lăng tẩm, từ lăng tẩm tiến đến những ngôi đền, một khỏang cách rất gần giữa vật chất và tâm linh.
(Còn tiếp)