Chúa Nhật 30B Thường niên
Mc 10, 46-52
Thưa quý vị,
Truyện người mù thành Giêricô, tên là Bartimê, kết thúc cuộc hành trình của Chúa Giêsu bên ngoài thành Giêrusalem. Sau đó là các hoạt động của Ngài trong nội thành. Ngài sẽ bị bắt giữ và chịu thương khó. Trong cuộc hành trình này, Chúa Giêsu dạy dân chúng giáo lý Ngài và tiên báo ba lần về cái chết của mình. Có một điều mỉa mai trong câu chuyện hôm nay! Những người tự xưng là sáng thì lại trở nên đui mù, những kẻ nhận mình là mù như Bartimê, lại được Chúa chữa cho xem thấy. Các kinh sư tố cáo Chúa Giêsu bị quỷ Bê-ên-dê-bun ám (3,22), còn Bartimê xưng tụng Ngài là con vua David, tức Đấng cứu tinh. Chẳng ai trong đám môn đệ đã từng sử dụng danh từ ấy, kể cả Phêrô để gọi Ngài. Thực ra, trong quá trình rao giảng, Chúa Giêsu luôn luôn tránh né tên ấy. Lý do là sợ người La Mã phát động một cuộc chinh phạt lớn. Đấng cứu tinh, con vua David là nhân vật người Do Thái đang mong đợi xuất hiện để lật đổ ách thống trị của họ. Nhưng ở thời điểm này, Chúa Giêsu đã tiến đến gần thành thánh để làm tròn ý muốn của Đức Chúa Cha. Ngài sẽ mạc khải bản chất đích thực của Đấng Thiên Sai, chu toàn mọi lời hứa về Ngài, cho nên thật là hợp lý khi Bartimê dùng tên ấy để loan báo việc Ngài tiến vào thành thánh. Đấng Thiên Sai đến, không như người ta mong đợi, không dáng vẻ oai phong lẫm liệt, binh hùng tướng mạnh, đầy quyền uy. Tuy nhiên, với những ai có con mắt đức tin, thì thật là rõ ràng, sáng láng, như Bartimê đã nhìn thấy. Người ta cố gắng bóp nghẹt cổ anh, bắt anh im đi (10,48). Nhưng anh càng hô lớn tiếng: “Lạy ông Giêsu, con vua David, xin dủ lòng thương tôi” (10,49). Làm sao dập tắt được sự thật, một ngọn lửa vĩ đại đang bùng cháy trong tâm hồn anh? Bartimê loan báo trước sự kiện đám đông tung hô đón rước Ngài ở cổng thành Giêrusalem. Nhưng anh cũng làm chúng ta xấu hổ: Những kẻ mạt kiếp, hôi hám, bẩn thỉu, cặn bã của xã hội, lại nhanh chóng nhận ra Đấng Cứu Thế. Chúng ta vỗ ngực “tri thức giàu sang” lại chẳng xem thấy gì! Thế mới hay những ai có nhu cầu mới nhận ra được sự thật. Kẻ chẳng có thì không. Những ai cần được cứu vớt thì Chúa mới đáp ứng, kẻ no thoả thì Ngài lánh xa. Chúa Giêsu vào thành thánh để cứu chữa những linh hồn khốn khổ, khao khát ơn giải thoát, dù phải hy sinh mạng sống mình. Còn những kinh sư, ký luc, Pharisêu chẳng nhận ra được dấu chỉ nào hết. Ngài đã thực hiện đúng những điều Ngài rao giảng trước đó về hy sinh, phục vụ kẻ bé mọn trước mặt các môn đệ.
Đây là bài học quan trọng bậc nhất mà thánh Luca chỉ bảo, chúng ta phải sống đồng hoá với những tâm hồn nghèo khổ, bé mọn, bị chà đạp như Bartimê, để được Thiên Chúa xót thương và cứu vớt. Chút nữa thôi ở đoạn 2 câu 4, Thánh Marcô lại cho hay Chúa khen những ai? Một bà goá dâng hai đồng tiền kẽm, trị giá ¼ xu La Mã, chẳng có ý nghĩa gì, vậy mà bà vượt qua những kẻ giàu có nhất thế gian. Thường tình, khi đọc Tin Mừng chúng ta ưa thích mình đóng vai một trong các tông đồ. Nhưng chỉ nên như thế sau lúc Ngài sống lại, ban ơn Thánh Thần để các ông sống trung thực với ơn gọi của mình. Còn bây giờ cứ như Phúc Âm thuật lại, thì các ông vẫn còn nhiều bất đồng với Chúa, vẫn còn dè dặt và giữ khoảng cách với Ngài. Lời giảng và lý tưởng của Ngài đối với các ông còn quá mới mẻ và triệt để, chưa thể hoàn toàn dấn thân theo Ngài một cách khăng khít được. Cho nên nếu chúng ta coi mình như các tông đồ, chúng ta sẽ có cùng não trạng. Ngược lại, các kẻ bé mọn, lề đường, cùi hủi của Phúc Âm Marcô không có thái độ đó. Họ lập tức liên kết với Chúa, coi Ngài như cứu tinh của mình, làm cho mình được thanh sạch, khoẻ mạnh tức thời. Họ hăm hở đầu hàng vô điều kiện trước tôn nhan Ngài. Vậy thì những kẻ bé mọn, lầm than mới là mẫu mực để chúng ta đáp ứng ơn Ngài mời gọi trong lúc này. Đó là sự đáp ứng như con trẻ mà Ngài đã dạy bảo; “Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào” (10,15).
Vậy thì làm thế nào chúng ta áp dụng được truyện này vào cuộc sống thiêng liêng? Thưa phải thành thực đóng vai Bartimê, khao khát và ăn mày ơn Thiên Chúa soi sáng. Xin luôn nhớ lời Chúa Giêsu: “Phúc cho những ai đói khát sự công chính vì sẽ được no thoả” (Mt 5,6). Anh Bartimê khi gặp Chúa Giêsu đã hoàn toàn thay đổi cuộc sống. Vừa nghe Ngài gọi anh lập tức vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Chúa Giêsu. Chiếc áo của anh vừa để khoác vừa làm chăm đắp ban đêm. Quần áo của người cùng đinh. Luật pháp Do Thái cấm không được nhận áo khoác này làm vật thế chấp vay nợ. Một chút bác ái xã hội tối thiểu, bởi người cùng đinh cần nó để giữ ấm ban đêm. Chiếc áo của anh mù Bartimê có lẽ còn được trải xuống vệ đường xin tiền. Tuy nhiên, dù tài sản ít đến như vậy, anh cũng bỏ lại để đi theo Chúa Giêsu. So sánh với người thanh niên giàu có hai tuần trước, thì quả Bartimê là một mẫu người trái ngược. Thực ra anh mù thành Giêricô còn hy sinh nhiều hơn thế nữa: Anh đã bỏ nếp sống quan thuộc cũ để sẵn sàng theo Đấng Thiên Sai, giống như các tông đồ bỏ hết mọi sự, khi Thầy gọi lần đầu tiên. Quả thật Chúa đã cho anh được đôi mắt sáng, xem thấy những điều mới lạ về cuộc sống.
Trong Tin Mừng của mình, Thánh sử Marcô ưa dùng từ “lập tức”. Từ này mô tả lòng nhiệt thành đáp lại kêu mời gọi của Chúa, các tông đồ “lập tức” bỏ mọi sự mà theo Chúa, như trường hợp Chúa gọi Simon và Anrê trên bờ biển Galilêa: “Các anh hãy theo Tôi, Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá. Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà theo Người” (1,17). Anh Bartimê hôm nay cũng “lập tức” nhìn thấy được và “lập tức” vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến với Ngài, nghĩa là không trì hoãn. Anh “lập tức” theo Ngài trên con đường Ngài đi về Giêrusalem. Chắc chắn kẻ ăn xin này đã vào thành thánh cùng với Ngài như một môn đệ. Nếu chúng ta nhận được ánh sáng siêu nhiên và thực sự muốn theo Chúa Giêsu thì cũng cần Ngài dẫn lối vào thành. Ngài sẽ chỉ bảo con đường về với Đức Chúa Trời qua đau khổ và sự chết. Giêricô chỉ là một chặng vươn tới Calvario, Chúa Giêsu không dừng lại ở đó, Ngài vượt qua để lên Giêrusalem. Chúng ta muốn theo Ngài thì cũng xin Ngài mở mắt để có khả năng xem thấy những thực tại ở Giêrusalem, giống như anh mù hành khất Bartimê. Bởi Ngài là ánh sáng trần gian, không có ánh sáng ấy, chẳng ai thấy gì hết. Xin đừng kiêu ngạo, cho mình đã sáng, mà phải khiêm nhường nhận mình mù, để Ngài mở mắt cho.
Có nhiều cơ hội để chúng ta đóng vai Bartimê, ngồi ăn xin bên vệ đường đợi chờ Chúa Giêsu đi ngang qua. Một trong các cơ hội ấy là thánh lễ hôm nay. Trước bí tích Mình Máu Thánh Chúa mà chúng ta sắp cử hành, chúng ta xin Ngài soi sáng cõi lòng để nhận ra các thực tại thiêng liêng trên trần gian bằng con mắt của Chúa. Hoặc là đồng hoá với những người bất hạnh cùng kêu xin Chúa cứu giúp, hoặc là Thánh Thể nhìn thấy số phận chúng ta khốn nạn mà giơ tay che chở. Khi nghe đọc truyện Bartimê xin hãy vững dạ, Ngài cũng nói với chúng ta: “Hãy gọi anh ta lại đây” và chúng ta cũng vội vã chạy đến cùng Ngài. Xin đừng bắt chước các môn đệ thờ ơ, lãnh đạm hoặc bóp nghẹt tiếng kêu than của kẻ khác bằng gương mù, nết xấu của mình, nhưng nhiệt tình giúp đỡ thiên hạ đến với Chúa Giêsu.
Thoạt đầu Bartimê chỉ là kẻ đứng vệ đường, bên ngoài nhóm người thân cận của Chúa Giêsu, nhưng Ngài gọi anh và anh đã trở thành kẻ bên trong, gần gũi với Ngài. Cũng thế, biết bao nhiêu kẻ đứng ngoài Giáo Hội, kêu than thảm thiết, chúng ta có nghe thấy mà giúp đỡ họ gia nhập Hội Thánh không? Nhiều khi chính đức tin của những kẻ bên ngoài như Bartimê lại giúp đỡ chúng ta kiểm tra nếp sống, từ bỏ tính hư thói xấu để Chúa ban cho đời sống tươi sáng hơn. Dĩ nhiên việc Chúa Giêsu mau mắn đáp ứng lời kêu cầu của Bartimê vừa mù, vừa hành khất, cho chúng ta một gương sáng để chăm lo những nhu cầu của anh em đồng bào trong thôn xóm, giáo xứ. Chỉ nhờ chúng ta mà những nhu cầu đó được thoả mãn. Nếu chúng ta giả điếc làm ngơ, thử hỏi số phận họ ra sao, và trách nhiệm của chúng ta như đồ đệ của Chúa Giêsu thế nào?
Nhà giảng thuyết Eric Bergland (Clinton, NC) nêu ra yếu tố “diễu hành” của bài Phúc Âm và bài đọc một hôm nay. Người ta yêu thích diễu hành, thí dụ trong các buổi khai mở thể thao Olympics hoặc các lễ hội lớn. Trai gái quần áo đẹp, các vận động viên ăn mặc đồng phục, lịch sự, đi qua khán đài, vui vẻ. Mọi người bị thu hút vào các màn biểu diễn. Thì đây, bài đọc một, trích sách tiên tri Giêrêmia, chương 31, cũng nói về cuộc diễu hành vui mừng của những kẻ lưu đày trở về. Phần này gọi là “sách an ủi”. Tiên tri nói thay Thiên Chúa: “Đức Chúa đã cứu thoát dân Người, số còn sót lại của Israel. Tất cả cùng nhau trở về, nước mắt tuôn rơi. Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng qua con đường thẳng băng, trên đó chúng không còn vấp ngã, tới dòng nước ngọt ngào.” Dân đã bị phát lưu sang Babylon vì bại trận (năm 627 đến năm 586 tcn). Tiên tri Giêrêmia hứa trước Thiên Chúa sẽ mang họ về. Họ là ai? Bài đọc một kể: “Trong chúng có kẻ đui mù, què quặt, kẻ mang thai, người ở cữ.” Tất cả đều kiệt sức, mệt nhọc vì gánh nặng lưu đày. Thiên Chúa an ủi, dẫn đưa họ trở về, an lành trên con đường thẳng băng. Tại sao vậy? Vì Ngài là Cha. Ngài yêu mến dân Ngài đã tạo dựng và lựa chọn. Ngoài ra sách không nói đến lý do nào khác nữa. Đúng thật, Chúa Giêsu hôm nay thực hiện lới hứa đó. Ngài dẫn đầu một đám đông diễu hành lên thành Giêrusalem, trong đó có anh mù hành khất Bartimê.
Chúng ta cũng đang ở chốn lưu đày trần gian, cũng kinh nghiệm những nhọc nhằn của kiếp sống nô lệ: Tội lỗi, ốm đau, bệnh tật, thất nghiệp, di cư, già yếu. Chúng ta cũng cư ngụ trong đất lạ, kinh nghiệm những hoàn cảnh lạc lõng, bị tẩy chay, bị xua đuổi. Nhưng Thiên Chúa không hề quên. Ngài vẫn lưu tâm đến số phận tan nát của mỗi người. Ngài vẫn là Cha, yêu thương và săn sóc từng linh hồn. Ngài vẫn ban ơn và nâng đỡ từng con tim. Tuy nhiên, chúng ta phải noi gương Bartimê, gào thét, kêu xin Ngài dủ lòng thương, mở trí soi lòng để nhận ra những thực tại thiêng liêng. Và khi Ngài đã cứu chữa, cương quyết theo Ngài “diễu hành” về quê hương trên trời. Amen.
Mc 10, 46-52
Thưa quý vị,
Truyện người mù thành Giêricô, tên là Bartimê, kết thúc cuộc hành trình của Chúa Giêsu bên ngoài thành Giêrusalem. Sau đó là các hoạt động của Ngài trong nội thành. Ngài sẽ bị bắt giữ và chịu thương khó. Trong cuộc hành trình này, Chúa Giêsu dạy dân chúng giáo lý Ngài và tiên báo ba lần về cái chết của mình. Có một điều mỉa mai trong câu chuyện hôm nay! Những người tự xưng là sáng thì lại trở nên đui mù, những kẻ nhận mình là mù như Bartimê, lại được Chúa chữa cho xem thấy. Các kinh sư tố cáo Chúa Giêsu bị quỷ Bê-ên-dê-bun ám (3,22), còn Bartimê xưng tụng Ngài là con vua David, tức Đấng cứu tinh. Chẳng ai trong đám môn đệ đã từng sử dụng danh từ ấy, kể cả Phêrô để gọi Ngài. Thực ra, trong quá trình rao giảng, Chúa Giêsu luôn luôn tránh né tên ấy. Lý do là sợ người La Mã phát động một cuộc chinh phạt lớn. Đấng cứu tinh, con vua David là nhân vật người Do Thái đang mong đợi xuất hiện để lật đổ ách thống trị của họ. Nhưng ở thời điểm này, Chúa Giêsu đã tiến đến gần thành thánh để làm tròn ý muốn của Đức Chúa Cha. Ngài sẽ mạc khải bản chất đích thực của Đấng Thiên Sai, chu toàn mọi lời hứa về Ngài, cho nên thật là hợp lý khi Bartimê dùng tên ấy để loan báo việc Ngài tiến vào thành thánh. Đấng Thiên Sai đến, không như người ta mong đợi, không dáng vẻ oai phong lẫm liệt, binh hùng tướng mạnh, đầy quyền uy. Tuy nhiên, với những ai có con mắt đức tin, thì thật là rõ ràng, sáng láng, như Bartimê đã nhìn thấy. Người ta cố gắng bóp nghẹt cổ anh, bắt anh im đi (10,48). Nhưng anh càng hô lớn tiếng: “Lạy ông Giêsu, con vua David, xin dủ lòng thương tôi” (10,49). Làm sao dập tắt được sự thật, một ngọn lửa vĩ đại đang bùng cháy trong tâm hồn anh? Bartimê loan báo trước sự kiện đám đông tung hô đón rước Ngài ở cổng thành Giêrusalem. Nhưng anh cũng làm chúng ta xấu hổ: Những kẻ mạt kiếp, hôi hám, bẩn thỉu, cặn bã của xã hội, lại nhanh chóng nhận ra Đấng Cứu Thế. Chúng ta vỗ ngực “tri thức giàu sang” lại chẳng xem thấy gì! Thế mới hay những ai có nhu cầu mới nhận ra được sự thật. Kẻ chẳng có thì không. Những ai cần được cứu vớt thì Chúa mới đáp ứng, kẻ no thoả thì Ngài lánh xa. Chúa Giêsu vào thành thánh để cứu chữa những linh hồn khốn khổ, khao khát ơn giải thoát, dù phải hy sinh mạng sống mình. Còn những kinh sư, ký luc, Pharisêu chẳng nhận ra được dấu chỉ nào hết. Ngài đã thực hiện đúng những điều Ngài rao giảng trước đó về hy sinh, phục vụ kẻ bé mọn trước mặt các môn đệ.
Đây là bài học quan trọng bậc nhất mà thánh Luca chỉ bảo, chúng ta phải sống đồng hoá với những tâm hồn nghèo khổ, bé mọn, bị chà đạp như Bartimê, để được Thiên Chúa xót thương và cứu vớt. Chút nữa thôi ở đoạn 2 câu 4, Thánh Marcô lại cho hay Chúa khen những ai? Một bà goá dâng hai đồng tiền kẽm, trị giá ¼ xu La Mã, chẳng có ý nghĩa gì, vậy mà bà vượt qua những kẻ giàu có nhất thế gian. Thường tình, khi đọc Tin Mừng chúng ta ưa thích mình đóng vai một trong các tông đồ. Nhưng chỉ nên như thế sau lúc Ngài sống lại, ban ơn Thánh Thần để các ông sống trung thực với ơn gọi của mình. Còn bây giờ cứ như Phúc Âm thuật lại, thì các ông vẫn còn nhiều bất đồng với Chúa, vẫn còn dè dặt và giữ khoảng cách với Ngài. Lời giảng và lý tưởng của Ngài đối với các ông còn quá mới mẻ và triệt để, chưa thể hoàn toàn dấn thân theo Ngài một cách khăng khít được. Cho nên nếu chúng ta coi mình như các tông đồ, chúng ta sẽ có cùng não trạng. Ngược lại, các kẻ bé mọn, lề đường, cùi hủi của Phúc Âm Marcô không có thái độ đó. Họ lập tức liên kết với Chúa, coi Ngài như cứu tinh của mình, làm cho mình được thanh sạch, khoẻ mạnh tức thời. Họ hăm hở đầu hàng vô điều kiện trước tôn nhan Ngài. Vậy thì những kẻ bé mọn, lầm than mới là mẫu mực để chúng ta đáp ứng ơn Ngài mời gọi trong lúc này. Đó là sự đáp ứng như con trẻ mà Ngài đã dạy bảo; “Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận nước Thiên Chúa với tâm hồn một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào” (10,15).
Vậy thì làm thế nào chúng ta áp dụng được truyện này vào cuộc sống thiêng liêng? Thưa phải thành thực đóng vai Bartimê, khao khát và ăn mày ơn Thiên Chúa soi sáng. Xin luôn nhớ lời Chúa Giêsu: “Phúc cho những ai đói khát sự công chính vì sẽ được no thoả” (Mt 5,6). Anh Bartimê khi gặp Chúa Giêsu đã hoàn toàn thay đổi cuộc sống. Vừa nghe Ngài gọi anh lập tức vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến gần Chúa Giêsu. Chiếc áo của anh vừa để khoác vừa làm chăm đắp ban đêm. Quần áo của người cùng đinh. Luật pháp Do Thái cấm không được nhận áo khoác này làm vật thế chấp vay nợ. Một chút bác ái xã hội tối thiểu, bởi người cùng đinh cần nó để giữ ấm ban đêm. Chiếc áo của anh mù Bartimê có lẽ còn được trải xuống vệ đường xin tiền. Tuy nhiên, dù tài sản ít đến như vậy, anh cũng bỏ lại để đi theo Chúa Giêsu. So sánh với người thanh niên giàu có hai tuần trước, thì quả Bartimê là một mẫu người trái ngược. Thực ra anh mù thành Giêricô còn hy sinh nhiều hơn thế nữa: Anh đã bỏ nếp sống quan thuộc cũ để sẵn sàng theo Đấng Thiên Sai, giống như các tông đồ bỏ hết mọi sự, khi Thầy gọi lần đầu tiên. Quả thật Chúa đã cho anh được đôi mắt sáng, xem thấy những điều mới lạ về cuộc sống.
Trong Tin Mừng của mình, Thánh sử Marcô ưa dùng từ “lập tức”. Từ này mô tả lòng nhiệt thành đáp lại kêu mời gọi của Chúa, các tông đồ “lập tức” bỏ mọi sự mà theo Chúa, như trường hợp Chúa gọi Simon và Anrê trên bờ biển Galilêa: “Các anh hãy theo Tôi, Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá. Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà theo Người” (1,17). Anh Bartimê hôm nay cũng “lập tức” nhìn thấy được và “lập tức” vất áo choàng lại, đứng phắt dậy mà đến với Ngài, nghĩa là không trì hoãn. Anh “lập tức” theo Ngài trên con đường Ngài đi về Giêrusalem. Chắc chắn kẻ ăn xin này đã vào thành thánh cùng với Ngài như một môn đệ. Nếu chúng ta nhận được ánh sáng siêu nhiên và thực sự muốn theo Chúa Giêsu thì cũng cần Ngài dẫn lối vào thành. Ngài sẽ chỉ bảo con đường về với Đức Chúa Trời qua đau khổ và sự chết. Giêricô chỉ là một chặng vươn tới Calvario, Chúa Giêsu không dừng lại ở đó, Ngài vượt qua để lên Giêrusalem. Chúng ta muốn theo Ngài thì cũng xin Ngài mở mắt để có khả năng xem thấy những thực tại ở Giêrusalem, giống như anh mù hành khất Bartimê. Bởi Ngài là ánh sáng trần gian, không có ánh sáng ấy, chẳng ai thấy gì hết. Xin đừng kiêu ngạo, cho mình đã sáng, mà phải khiêm nhường nhận mình mù, để Ngài mở mắt cho.
Có nhiều cơ hội để chúng ta đóng vai Bartimê, ngồi ăn xin bên vệ đường đợi chờ Chúa Giêsu đi ngang qua. Một trong các cơ hội ấy là thánh lễ hôm nay. Trước bí tích Mình Máu Thánh Chúa mà chúng ta sắp cử hành, chúng ta xin Ngài soi sáng cõi lòng để nhận ra các thực tại thiêng liêng trên trần gian bằng con mắt của Chúa. Hoặc là đồng hoá với những người bất hạnh cùng kêu xin Chúa cứu giúp, hoặc là Thánh Thể nhìn thấy số phận chúng ta khốn nạn mà giơ tay che chở. Khi nghe đọc truyện Bartimê xin hãy vững dạ, Ngài cũng nói với chúng ta: “Hãy gọi anh ta lại đây” và chúng ta cũng vội vã chạy đến cùng Ngài. Xin đừng bắt chước các môn đệ thờ ơ, lãnh đạm hoặc bóp nghẹt tiếng kêu than của kẻ khác bằng gương mù, nết xấu của mình, nhưng nhiệt tình giúp đỡ thiên hạ đến với Chúa Giêsu.
Thoạt đầu Bartimê chỉ là kẻ đứng vệ đường, bên ngoài nhóm người thân cận của Chúa Giêsu, nhưng Ngài gọi anh và anh đã trở thành kẻ bên trong, gần gũi với Ngài. Cũng thế, biết bao nhiêu kẻ đứng ngoài Giáo Hội, kêu than thảm thiết, chúng ta có nghe thấy mà giúp đỡ họ gia nhập Hội Thánh không? Nhiều khi chính đức tin của những kẻ bên ngoài như Bartimê lại giúp đỡ chúng ta kiểm tra nếp sống, từ bỏ tính hư thói xấu để Chúa ban cho đời sống tươi sáng hơn. Dĩ nhiên việc Chúa Giêsu mau mắn đáp ứng lời kêu cầu của Bartimê vừa mù, vừa hành khất, cho chúng ta một gương sáng để chăm lo những nhu cầu của anh em đồng bào trong thôn xóm, giáo xứ. Chỉ nhờ chúng ta mà những nhu cầu đó được thoả mãn. Nếu chúng ta giả điếc làm ngơ, thử hỏi số phận họ ra sao, và trách nhiệm của chúng ta như đồ đệ của Chúa Giêsu thế nào?
Nhà giảng thuyết Eric Bergland (Clinton, NC) nêu ra yếu tố “diễu hành” của bài Phúc Âm và bài đọc một hôm nay. Người ta yêu thích diễu hành, thí dụ trong các buổi khai mở thể thao Olympics hoặc các lễ hội lớn. Trai gái quần áo đẹp, các vận động viên ăn mặc đồng phục, lịch sự, đi qua khán đài, vui vẻ. Mọi người bị thu hút vào các màn biểu diễn. Thì đây, bài đọc một, trích sách tiên tri Giêrêmia, chương 31, cũng nói về cuộc diễu hành vui mừng của những kẻ lưu đày trở về. Phần này gọi là “sách an ủi”. Tiên tri nói thay Thiên Chúa: “Đức Chúa đã cứu thoát dân Người, số còn sót lại của Israel. Tất cả cùng nhau trở về, nước mắt tuôn rơi. Ta sẽ an ủi và dẫn đưa chúng qua con đường thẳng băng, trên đó chúng không còn vấp ngã, tới dòng nước ngọt ngào.” Dân đã bị phát lưu sang Babylon vì bại trận (năm 627 đến năm 586 tcn). Tiên tri Giêrêmia hứa trước Thiên Chúa sẽ mang họ về. Họ là ai? Bài đọc một kể: “Trong chúng có kẻ đui mù, què quặt, kẻ mang thai, người ở cữ.” Tất cả đều kiệt sức, mệt nhọc vì gánh nặng lưu đày. Thiên Chúa an ủi, dẫn đưa họ trở về, an lành trên con đường thẳng băng. Tại sao vậy? Vì Ngài là Cha. Ngài yêu mến dân Ngài đã tạo dựng và lựa chọn. Ngoài ra sách không nói đến lý do nào khác nữa. Đúng thật, Chúa Giêsu hôm nay thực hiện lới hứa đó. Ngài dẫn đầu một đám đông diễu hành lên thành Giêrusalem, trong đó có anh mù hành khất Bartimê.
Chúng ta cũng đang ở chốn lưu đày trần gian, cũng kinh nghiệm những nhọc nhằn của kiếp sống nô lệ: Tội lỗi, ốm đau, bệnh tật, thất nghiệp, di cư, già yếu. Chúng ta cũng cư ngụ trong đất lạ, kinh nghiệm những hoàn cảnh lạc lõng, bị tẩy chay, bị xua đuổi. Nhưng Thiên Chúa không hề quên. Ngài vẫn lưu tâm đến số phận tan nát của mỗi người. Ngài vẫn là Cha, yêu thương và săn sóc từng linh hồn. Ngài vẫn ban ơn và nâng đỡ từng con tim. Tuy nhiên, chúng ta phải noi gương Bartimê, gào thét, kêu xin Ngài dủ lòng thương, mở trí soi lòng để nhận ra những thực tại thiêng liêng. Và khi Ngài đã cứu chữa, cương quyết theo Ngài “diễu hành” về quê hương trên trời. Amen.