Dư Âm Giải Nobel Hòa Bình.



Trong vụ việc này, tôi không dám đưa ra những lời phê bình nhưng quả thực, khi đọc những mẩu tin ÐGH có thể nhận lãnh Giải Nobel Hòa Bình, ÐGH là ứng viên sáng giá…., ÐGH có thể được trao tặng…, trước khi có quyết định trao giải, tôi cảm thấy hơi buồn.

Theo ý kiến cá nhân tôi, khi biết được ai đó đã đưa ÐGH vào danh sách ứng viên thì những người có trách nhiệm trong Giáo hội nên, hay phải, từ chối ngay, với lời phát biểu tương tự như thế này: “Thưa quý vị. Xin cám ơn quý vị. Vị Cha Chung của chúng tôi làm việc không phải để được ghi công, không phải để được cám ơn, không phải để được đánh giá thế này, thế nọ. Công trạng của Ngài không thể đánh giá được bằng những giá trị trần thế”.

Ðại khái chỉ có vậy. Thế nhưng không ai đã làm cái điều đại khái này. Ngược lại, chúng ta lại coi đó là một vinh dự, để rồi khi vinh dự không trọn vẹn thì chúng ta lại cố gắng giải thích này nọ. Chúng ta không phủ nhận giá trị của Giải Nobel Hòa Bình, nhưng đó là một giá trị trần thế, mà một giá trị trần thế thì không thể hoàn hảo được. Bằng chứng là Giải đã được trao cho hai ông Kissinger và Lê Ðức Thọ, hai người có trách nhiệm, ít là một phần, trong việc gây ra cuộc chiến ở quê hương thân yêu của chúng ta, khi họ đồng ý với nhau là không đánh nhau nữa. Ông Kissinger cho đó là một vinh dự, nhưng trong thâm tâm có lẽ ông đã cười thầm, ông đã phủi xong tay, ông đã phản bội một người bạn, ông đã bán đứng xong một đồng minh. Trường hợp ông Lê Ðức Thọ, ông biết rõ việc làm của ông, ông cảm thấy khôi hài, ông cảm thấy ông không xứng đáng nhận giải thưởng này, và ông đã từ chối. Chúng ta không nên thành kiến để phủ nhận cái nét tự trọng trong con người ông, một con người Việt Nam.

Tôi tin rằng Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II không là một ứng viên gì cả. Ngài chỉ là một ứng viên duy nhất: Ứng viên nguyện hiến trọn cuộc sống cho Chúa, ứng viên chăn dắt đàn chiên Chúa, ứng viên phục vụ tha nhân. Và việc làm của Ngài không thể đánh giá được, không thể so sánh được, với bất cứ một giá trị trần thế nào.

Trường hợp Mẹ Teresa Calcuta cũng vậy. Mẹ hiến trọn cuộc đời cho Chúa qua việc phục vụ tha nhân. Mẹ đã thực hiện lời dạy của Chúa một cách tuyệt vời: Kính Chúa - Yêu người. Mẹ yêu người vì kính Chúa. Mẹ yêu người vì Chúa đã dạy rằng: Ai làm cho anh em Ta chính là làm cho Ta. Mẹ yêu người không phải để được nhận lãnh một giải Nobel, một giá trị trần thế. Tuy nhiên, việc làm của Mẹ dễ được nhận thấy bởi con người trần thế, thì họ tôn vinh Mẹ. Ðơn giản vậy thôi. Mẹ không làm việc để được tôn vinh bởi con người trần thế. Việc ÐGH phong thánh cho Mẹ đủ nói lên rằng việc làm của Mẹ chỉ có thể được đánh giá với một giá trị cao quý hơn nhiều.

Tôi không có vinh dự được học Thần học, tôi cũng chẳng biết gì về Thần học, nhưng theo sự hiểu biết hạn hẹp của tôi, của một giáo dân bình thường, việc phong thánh chỉ để xác nhận một công trạng của một con người đã hy sinh vì Chúa, đã bỏ mạng sống mình để làm chứng cho đức tin nơi Thiên Chúa, đã từ bỏ mọi giá trị thế gian để đi theo con đường Chúa dạy, con đường phục vụ tha nhân. Một cuộc sống “thánh thiện” là gì nếu không phải là một cuộc sống đầy những việc thiện như cuộc sống của một vị thánh. Nếu hiểu như vậy, mọi con người đều có thể trở thành thánh mặc dầu không được phong thánh. Tôi tin rằng có nhiều vị thánh “vô danh”, nhất là tại Việt Nam, quê hương thân yêu của chúng ta. Hơn một trăm vị tử vì đạo Việt Nam được phong thánh vì họ được nhận lãnh những nhát đao khiến đầu họ lìa khỏi cổ, vì họ bị voi dày, ngựa xé, vì họ được biết đến. Nhưng còn biết bao nhiêu người chỉ vì không chịu từ bỏ đức tin mà phải nhận lãnh những phát đạn, những cực hình tới chết, bị kỳ thị để phải sống trong nhọc nhằn, chết trong tủi nhục, những người không được biết đến. Nhiều lắm. Ðức tin của những người “vô danh” này mạnh lắm. Tôi tin rằng không ai trong các vị này nghĩ rằng, hoặc hy vọng rằng, mình sẽ được phong thánh, hay tôn vinh bằng cách nào đó, khi họ tuyên xựng đức tin, khi họ “xưng Ðạo Ðức Chúa Trời ra trước mặt thiên hạ”, khi họ “thà chết chẳng thà bỏ Ðạo”, khi họ từ bỏ cuộc sống của chính mình để sống cho tha nhân.

Công việc mà Mẹ Têrêsa Calcuta đã làm trong suốt cuộc đời của Mẹ, như trên tôi đã trình bày, dễ được nhận thấy, dễ làm người ta cảm kích và cảm động. Hình ảnh của Mẹ là hình ảnh của một “sinh vật người” do Thiên Chúa tạo ra, nhỏ bé, yếu đuối, đã làm theo lời Chúa dạy, hy sinh cuộc sống mình để phục vụ những “sinh vật người” xấu số khác. Mẹ làm việc không phải để hy vọng sẽ được người ta xưng tụng, không phải để hy vọng sẽ được phong thánh. Cái hy vọng duy nhất của Mẹ, theo tôi nghĩ, chỉ là loài người sẽ thực sự thương yêu nhau, san sẻ cho nhau, thôi đừng tranh chấp, thôi đừng giết chóc. Hành trang mà Mẹ mang theo suốt cuộc đời phục vụ của Mẹ chỉ là lời cầu nguyện và chính thân xác yếu đuối của Mẹ. Việc ÐGH phong thánh cho Mẹ chỉ mang một ý nghĩa nhắc nhở loài người, con cái Chúa nói riêng, hãy sống theo gương Mẹ mà thôi. Do vậy, công trạng của Mẹ cũng không thể được đánh giá bằng một giá trị thế tục, bằng một giải này, giải nọ, bằng những lời xưng tụng đầu môi chót lưỡi. Mẹ không cần một giải Nobel, nhưng Mẹ cũng không thể cấm cản người ta cứ trao tặng Mẹ. Quả thực, những ai đó cũng muốn đem cái gương phục vụ của Mẹ cho thế giới soi chung. Chỉ có vậy thôi.

Trường hợp của ÐGH thì khác. Tôi nghĩ rằng kết quả của những công việc Ngài làm không đập ngay vào mắt người đời, nhưng có những ảnh hưởng lớn lao, sâu rộng, cả về không gian lẫn thời gian. ÐGH không đi đến từng người bệnh, từng người cùng khổ để an ủi họ, để giúp chữa lành cho họ. Nhưng chính Ngài đã giúp loại trừ được cái căn nguyên tai hại nhất gây ra sự cùng khổ, gây ra những bệnh tật cho một phần lớn thế giới, cho nhiều thế hệ đã qua, và có thể vẫn còn rơi rớt ở vài phần đất trên thế giới. Chính Ngài đã giúp loại trừ được cái căn nguyên gây ra sự cùng khổ cả về vật chất lẫn tinh thần. Chính Ngài đã giúp loại bỏ cái căn nguyên tạo ra bóc lột, đàn áp, bất công, và bất nhân. Thế giới đã thở phào nhẹ nhõm khi thấy một chủ thuyết bệnh hoạn đã qua đi, như một đám mây đen đã bị xua đi, trả lại bầu trời trong sáng cho con người. Và còn nhiều việc làm khác của ÐGH cũng có những giá trị to lớn mà tôi không thể kể ra hết hoặc không biết hết. Ðiển hình là trong dịp kỷ niệm 25 năm ở tước vị Giáo Hoàng vừa qua của Ngài, một đài truyền thông của Mỹ đã đưa ra một số những công việc mà ÐGH đã thực hiện và đề nghị dân chúng sắp xếp giá trị ưu tiên. Tôi nghĩ rằng mọi công việc của ÐGH đều nhắm đến một ưu tiên duy nhất: Phục vụ Giáo hội Chúa - Phục vụ tha nhân.

Như trên tôi vừa trình bày, việc làm của Mẹ Têrêsa Calcuta, cũng như việc làm của ÐGH Gioan Phaolô II, không thể đánh giá được bằng một giá trị trần thế nào cả. Tuy nhiên, trong việc trao Giải Nobel Hòa Bình năm nào, Ủy ban xét duyệt đã làm đúng khi trao giải cho Mẹ, một cá nhân đã hy sinh trọn cuộc đời vì tha nhân. Họ đã vinh danh “một cá nhân” có cuộc sống thánh thiện để làm gương cho những cá nhân khác. Ngược lại, tôi tin rằng năm nay, Ủy ban duyệt xét cũng làm đúng khi họ không trao giải cho ÐGH, mà trao cho bà luật sư người Iran. Người ta đã thấy rằng bà luật sư cần đến Giải Nobel hơn. Ðó là một nhận định thực tế. Chắc chắn với giải này, bà luật sư sẽ dễ dàng hơn trong công việc của bà trong tương lai, bà sẽ dễ ăn nói hơn, bà sẽ có uy tín hơn, và đương nhiên bà sẽ nổi tiếng hơn. Một khi bà nổi tiếng thì các bạo quyền khó bịt miệng bà. Giải Nobel vì vậy, sẽ là một trang cụ rất ìch lợi và thiết thực cho bà. Và người ta đã trao cho bà cái trang cụ cần thiết ấy. Một lần nữa, người ta lại vinh danh “một cá nhân” để làm gương cho những cá nhân khác. Trong khi đó, ÐGH không phải là “một cá nhân” bình thường Ngài là “một cá nhân chăn dắt hơn một tỉ cá nhân khác”. Ảnh hưởng của Ngài, uy tín của Ngài, sự kính trọng mà thế giới dành cho Ngài đã quá rộng lớn. Như vậy thì một Giải Nobel Hòa Bình có giúp gì hơn trong công việc của Ngài đâu. Tóm lại, ÐGH không cần đến một Giải Nobel Hòa Bình. Ðó chính là cái lý do mà người ta không trao giải cho Ngài. Ðó là một quyết định hợp lý.

Tôi nghĩ rằng trong Giải Nobel Hòa Bình năm nay, nếu có chuyện không đúng chính là các con cái ÐGH đã không cám ơn người ta để rút tên Ngài khỏi danh sách ứng viên. Ðiều hơi buồn của tôi là ở chỗ đó.