Têrêsa- đôi mắt của trái tim.

Người ta bảo tiếng sét ái tình là định mệnh hai chiều gặp gỡ giữa ấn tượng của mắt nhìn và rung động của trái tim. Chẳng biết có đúng không? Chỉ hiểu đơn giản rằng nếu đôi mắt thể hiện tốt chức năng tiếp nhận ấn tượng thì trái tim sẽ vận dụng hết khả năng rung động để cảm nhận, từ đó mà phản ứng bộc phát; “ngày đầu đến tìm nhau tim trao vào ánh mắt, mắt chìm vào yêu đương” (Nửa đời yêu em, Lam Phương). Với đôi bạn tình, lắm lúc phải nhắm mắt lại để cơ quan tiếp nhận ngơi nghỉ cho bộ máy rung cảm hoạt động tích cực hơn; khi bộ máy rung cảm hoạt động tối đa thì hành động ắt sẽ phản ứng rất tức thời và quyết liệt. Trong một số trường hợp, cả ba chức năng không hoạt động đồng bộ nhưng luân phiên biến chuyển. Thế nhưng, có một con người mà cả mắt nhìn, con tim, và hành động đồng loạt hoạt động hết công suất không hề mỏi mệt. Đó là Mẹ Têrêsa Calcutta- đấng sáng lập dòng Thừa Sai Bác Ái, người mà cả thế giới hôm nay ngắm nhìn Giáo hội Công giáo tôn vinh.

Hôm nay, người ta nói về con người của Mẹ rất nhiều, các phương tiện truyền thông kể về Mẹ cũng chẳng ít. Và có lẽ gần năm nghìn nữ tu Thừa Sai Bác Ái cũng chưa từng bao giờ rộn ràng hoan hỉ như những ngày này; ơn thánh của buổi lễ hôm nay tại Vatican được chung vui cách rất đặc biệt bởi ba nghìn vé mời danh dự hàng đầu đã phát tặng không cho những người vô gia cư. Niềm vui của bác ái, đúng là bác ái, mọi lúc mọi nơi cho mọi người. Hiệp thông với niềm vui ấy để tri ân cuộc đời của Mẹ, xin được gợi tả chân dung một Têrêsa như đôi mắt của trái tim.

1. Từ ấn tượng của đôi mắt:

Têrêsa, nhà hoạt động toàn cầu ấy chẳng hề một lần xuất hiện như vị nguyên thủ quốc gia với đoàn tùy tùng tiền hô hậu ủng bệ vệ oai phong. Têrêsa, nữ đại- sứ- lưu- động ấy chưa một lần ngồi vào vòng đàm phán thương lượng “tiền trao cháo múc” mưu lược toan tính. Têrêsa ấy, con người của những kẻ bần cùng nghèo đói nhất xuất hiện như làn gió mát mùa thu xoa dịu trận nắng gắt mùa hè đã qua và để lại ấn tượng êm ái khó quên trước những cơn lạnh cắt da mùa đông sẽ đến. Ai gặp Mẹ, dù một lần cũng bị cuốn hút. Ai nhìn Mẹ, dù xa xa thoáng qua hay gần gũi cận kề cũng có một ấn tượng. Ấn tượng bị cuốn hút bởi một đôi mắt rất ấn tượng.

Đôi mắt của Mẹ không quyến rũ các nhà làm phim Hollywood, cũng chẳng mơ mộng gợi hứng cho các nhà họa sĩ tô vẽ. Đôi mắt của Mẹ tinh anh và sắc bén để nhận biết giá trị và cảm nhận rủi ro từ những mảnh đời bần cùng tận số. Những bước đường góc phố Mẹ đi qua, không một kẻ cơ nhỡ nào bị bỏ sót. Đôi mắt ấy sáng ngời như đèn chiếu soi rọi từng hang hẻm ngóc ngách để kiếm tìm những sinh linh thoi thóp như ngọn đèn bão ngoi ngóp trong lốc xoáy cuộc đời.

Ngày xa xưa ấy người con gái Albani đã không đón nhận tín hiệu ngoại lai để thu về rung cảm cho riêng mình một chút kỉ niệm thuở thanh xuân; trái lại, trên chuyến tàu ngày 10 tháng 9 năm 1946 khởi hành từ Calcutta đi Darjeeling, đôi mắt Têrêsa đã tiếp sóng một tín hiệu định mệnh mới. Làn sóng phát đi vô tình từ những phận người lê lết lang bạt trên hè phố như những tín hiệu kĩ thuật số digital đã được Têrêsa cảm hóa trong suy tư. Ấn tượng trong đôi mắt hôm ấy đã không ngừng rung động con tim của Têrêsa.

2. Đến rung cảm của trái tim:

Ai cũng biết, người nữ tu Thừa Sai Bác Ái không bao giờ được giữ một đồng xu trong túi- chỉ một xu thôi cũng không. Đồng tiền vấy đục suy tư, các chị quyết liệt giũ bỏ vướng bận ấy. Thế cũng còn chưa thấm, mỗi một nữ tu chỉ giữ duy nhất hai bộ đồ để thay bận luân phiên. Ngặt nghèo quá! Mẹ Têrêsa quan niệm chỉ khi nào túi rỗng tay không thì tiếng nói của con tim mới nguyên thủy nguyên vẹn. Thế đó, trái với quan niệm thị trường phổ thông dễ hiểu của đa phần, đường lối của Mẹ Têrêsa là vậy. Mẹ không muốn con tim bị ảnh hưởng bởi bất cứ động lực nguy cơ nào mà chỉ rung động thuần khiết bởi những giao cảm thiện- mĩ. Mẹ vào đời với người bần cùng, hơi bị nghèo cũng còn là chưa nghèo, đối tượng rung cảm của Mẹ là những người nghèo đói bần cùng nhất trong số những người nghèo.

Trong phục vụ, Mẹ không theo đuổi văn hoá dịch vụ kiểu Mỹ- tới đầu xới đầu thấy trước lấy trước, mà trái lại Mẹ đi tìm đi kiếm những ai không còn một cơ hội sống- như- người- sống. Thê lương bi đát bệ rạc bao nhiêu thì Mẹ rung cảm bấy nhiêu. Nghe kể lại những năm đầu thập niên 50, khi thiếu nữ Têrêsa đơn độc hoạt động ngang dọc xông pha trên mọi nẻo đường của Calcutta giữa đa phần tín hữu Hindu, với một con tim rung cảm không ngại ngùng ngừng nghỉ, cuối cùng Mẹ đã thuyết phục được chính quyền giao cho một ngôi đền cũ để khởi đầu một ngôi nhà mới mang tên Nirmal Hriday- Pure Heart. Đó là ngôi nhà đầu tiên dành cho những người vất vưởng hấp hối ngoài đường. Có người được Mẹ đưa về đó rồi chết, có người chết lạnh trên đường trong vòng tay sưởi ấm của Mẹ; một điểm chung là tất cả những người như thế đã “được” chết sau những khoảnh khắc may mắn được đối xử như người với trọn vẹn nhân ái.

Chẳng hiểu Mẹ được ban tặng một quả tim với cấu trúc tuần hoàn huyết thống như thế nào, đặc biệt ra làm sao, vĩ đại đến dường nào. Chỉ biết rằng nhờ Mẹ và các chị thừa sai của Mẹ mà vô số cuộc đời buồn đã chết bằng nụ cười diễm phúc, nói cách nào đó thì những người ấy đã tìm thấy thiên đường trước khi lìa dương thế. Những rung cảm của trái tim mang tên Têrêsa ấy đã thao thức một tâm hồn ngập tràn bác ái đến vô biên.

3. Để hiến thân không mỏi mệt.

Sau những năm tháng đằng đẵng bước đi không mỏi mệt Mẹ đã đột quị (1985, Rome) ngay khi đang viếng thăm Đức Thánh Cha. Tiếp đến là lao phổi (1991, Mexico) rồi sốt rét (1996); vẫn không ngừng những bước chân phục vụ, cuối cùng quả tim vĩ đại đã bộc phát tái biến chứng. Quả tim bằng máu thịt đã không dung chứa nổi sức lao động phi thường, lá phổi dung dị trong dáng hình mong manh nhỏ bé bị bào mòn kiệt quệ bởi một đời “tình cho không biếu không” mọi lúc mọi nơi cho mọi người và vì mỗi người. Không chỉ riêng quả tim đó trao đi tặng phẩm yêu thương cho những ai hấp hối lìa đời hay những kẻ tả tơi rơi rách, mà lá phổi ấy còn mang đi những hơi thở đem lại niềm vui gọi mời biết bao tâm hồn đồng thời quảng đại đồng hành. Không chỉ những màu áo sari nền trắng viền xanh lúc ẩn lúc hiện xa gần ngang dọc khắp nơi, mà còn thấp thoáng những tâm hồn thiện nguyện thiện chí ngày đêm cộng tác nối rộng vòng tay trải dài sức sống từng mọi nẻo đường trên khắp thế giới cho công trình sống đời thừa sai rao truyền bác ái. Têrêsa không chỉ là một tình ca dâng hiến mà còn là khúc hát gọi mời mỗi người mọi nơi.

Vóc dáng gầy gòm bé nhỏ trong bộ sari nền trắng viền xanh bình thường giản dị nhất của người bản xứ (Calcutta) làm sáng lên khuôn mặt già nua nhăn nheo dãi dầm nắng bụi, vẻ bình an thanh thoát trên khuôn mặt không hề mỏi mệt khiến nhiều người âu lo khi cúi xuống thấy đôi chân khô cứng hơn đôi dép cũ từng trải bước tứ phương. Bộ đồ sari đó, đôi dép mòn đó cùng với một cuộc đời mang tên Têrêsa đã ra vào tới lui tất bật khắp chốn từ Giáo đô Vatican đến văn phòng Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, rồi nào là dinh tổng thống, phủ thủ tướng, tư thất hoàng gia, và còn nhiều nữa và nhiều nữa. Nhưng có lẽ cuộc đời của Mẹ chỉ vui khi tất bật ở những khu ổ chuột ổ gà hôi tanh xác bọ phân bò; nếu Mẹ có rảo bước, như đã từng bước đến những nơi sang trọng lộng lẫy oai nghi thì cũng chỉ để lên tiếng cứu đời cho những xác- người- sống vấy bẩn hôi tanh ấy thôi. Cả một đời lặn lội như thế, từ sáng sớm đến đêm hôm trong mưa nặng lạnh gió lẫn khi nắng đẹp sáng trời- cũng không hề mệt mỏi.

Ấn tượng trong đôi mắt nhìn có tên gọi Têrêsa, hôm nay, đang rung cảm trái tim địa cầu. Thế đấy, một chân dung thừa sai đang đi vào lịch sử đương đại cách huyền diệu biết bao. Têrêsa- đôi mắt đẹp của trái tim bác ái.