CHÚA NHẬT 29B THƯỜNG NIÊN
THEO GƯƠNG ĐỨC KI-TÔ
PHỤC VỤ CON NGƯỜI
1. Theo gương Đức Ki-tô phục vụ
Đức Giê-su vừa loan báo cho môn đệ biết về cuộc thương khó của Người, không phải lần đầu tiên, nhưng là lần thứ ba. Như thế có nghĩa đây là một vấn đề quan trọng. Nhưng các môn đệ không quan tâm gì, bằng cớ là họ vừa tranh cãi nhau chuyện ai lớn, ai nhỏ, chuyện chiếu trên chiếu dưới. Và Đức Giê-su nắm ngay cơ hội để cho môn đệ biết phải suy nghĩ như thế nào, lựa chọn làm sao, phải có thái độ nào, tinh thần nào, mới xứng đáng là môn đệ của Ngài.
Để chuẩn bị chúng ta đón nhận giáo huấn của Chúa Giê-su, thì bài đọc 1 cho thấy người Tôi Trung của Thiên Chúa phải bị nghiền nát vì đau khổ,. ... hiến thân làm lễ vật đền tội. ... để làm cho muôn người nên công chính. Truyền thống Tân Ước hiểu người Tôi Trung đó, chính là Đức Giê-su. Còn tác giả thư gửi tín hữu Do-thái thì khẳng định : Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Và đến đây thì chúng ta đã sẵn sàng để đón nhận lời giáo huấn của Chúa Giê-su. Ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ mọi người. Nếu ta muốn biết tại sao thì Chúa cho ta lời giải thích : Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người. Như thế, ta có thể nói : toàn bộ phụng vụ Lời Chúa hôm nay có thể gói ghém trong hai chữ PHỤC VỤ.
2. Bối cảnh tôn giáo
Lời Chúa đến với chúng ta vào một thời điểm hết sức đặc biệt. Trước hết, trong những ngày này, toàn thể Giáo Hội Công Giáo đang nô nức chuẩn bị mừng 25 năm phục vụ của Đức Gio-an Phao-lô II trong cương vị Giáo Hoàng, người (cũng như tất cả các vị tiền nhiệm) tự nhận là “đầy tớ các đầy tớ của Chúa”, hay là “người phục vụ của các người phục vụ”. Và công việc phục vụ của ngài thì vô cùng phong phú, nhưng có nhà báo phương Tây gói ghém trong mấy chữ : Người mạnh mẽ bênh vực quyền của Thiên Chúa và quyền của con người.
Kế đến, ngày hôm nay, Mẹ Tê-rê-xa thành Can-cút-ta được phong chân phước. Mẹ đã dành trọn cuộc đời để noi gương và theo lệnh Chúa Giê-su, phục vụ những người nghèo, những người bị bỏ rơi, những người bất hạnh.
Vẫn trong bối cảnh tôn giáo, một biến cố cũng mới xảy ra là tuần vừa qua các Giám Mục Việt Nam đã họp đại hội thường niên. Tôi chưa có dịp đọc lá Thư chung nên chưa rõ các ngài sẽ nói với chúng ta những gì, nhưng tôi đoán là khó lòng mà có được một tài liệu độc đáo hơn, súc tích hơn, sâu sắc hơn là lá thư ngỏ mà năm 2002 vừa qua, cũng nhân kỳ đại hội các Giám Mục, các ngài đã gửi đến các nhà lập pháp của chúng ta, và đầu năm nay tôi đã có dịp đọc cho anh chị em nghe vài đoạn. Nội dung lá thư ngỏ ấy có thể tóm tắt trong mấy chữ : phục vụ con người. Đức Tổng Giám Mục của chúng ta là người đầu tiên phổ biến lá thư ngỏ đó. Uỷ ban Đoàn Kết mời ngài đi họp, ngài xin kiếu vì bận công việc mục vụ, nhưng ngài vội nắm lấy cơ hội để gửi cho Uỷ Ban lá thư ngỏ. Giá mà tờ báo Công Giáo và Dân Tộc lúc đó nhanh nhẩu phổ biến lá thư ngỏ đó như họ đang hăng hái đăng tải các bài viết nhân dịp Đức Tổng của chúng ta đi lãnh mũ hồng y thì hay biết chừng nào. Chưa hết, khi được Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố gửi thư kêu gọi giới Công giáo đóng góp vào công việc xoá đói giảm nghèo, thì một lần nữa, Đức Tổng cũng chụp ngay cơ hội để gửi lá thư ngỏ nói trên cho Chính quyền Thành phố. Ta có cảm tưởng như Đức Tổng chỉ chờ cho có cơ hội để phổ biến lá thư ngỏ kia thôi. Và biết đâu việc ngài được Đức Giáo Hoàng trao tặng mũ hồng y lại không liên quan đến việc thời gian vừa qua Đức Tổng của chúng ta qua việc phổ biến lá Thư ngỏ của Hội Đồng Giảm Mục Việt Nam đã tìm ra cách hữu hiệu nhất, đúng đắn nhất để góp phần vào việc phục vụ con người theo giáo huấn của Chúa Ki-tô trong hoàn cảnh hiện thời của đất nước.
3. Bối cảnh xã hội
Xã hội chúng ta đang sống hôm nay là một xã hội đang phát triển, với vô vàn vô số những vấn đề như ta dễ dàng nhận thấy qua báo chí, qua truyền thành truyền hình. Nhưng đâu là vị trí của con người trong quá trình phát triển đó. Trong báo Tuổi Trẻ Chủ nhật ngày 05-10-2003, ở mục “Tiêu điểm” (trang 4-5) dưới tựa đề “Quá trình phát triển phải lấy con người làm trung tâm”, tác giả Tương Lai cho thấy rằng trong hoàn cảnh cụ thể của xã hội hôm nay, quá trình phát triển CHƯA lấy con người làm trung tâm, hay nói cách khác, mục tiêu tối hậu chưa phải là phục vụ con người. Tôi xin trích :.... Nói quan tâm đến con người một cách chung chung thì ai cũng nói được. Nhưng trong cuộc đời chỉ có những con người cụ thể. Đó là anh công nhân giữa hàng chục công nhân trong số 200 người bị chấm dứt hợp đồng trái phép phải phơi nắng trước cổng Công ty Top One để chờ cơ quan chức năng xuống can thiệp bảo vệ quyền lợi “nhưng không thấy ai đoái hoài tới” (Tuổi trẻ 9-9-2003). Đó là những khu chế xuất, khu công nghiệp, trong những công ty sau khi từ nơi làm việc trở về phải chịu cơ cực trong cảnh “hắt hiu nhà trọ công nhân” với “nỗi buồn của những phận đời chan đầy nước mắt, niềm đau của kiếp sống tha hương” (Lao động 10-8-2003). Đó còn là những “người lao động thời vụ” đang bu quanh các khu chế xuất, khu công nghiệp còn “không có chỗ ổn định, công việc thì hết sức bấp bênh, không được đào tạo, khi quyền lợi bị xâm hại không biết kêu ai”, thân phận của họ lại còn khốn khổ hơn những “phận đời chan đầy nước mắt”. Đó là những người “công nhân đang bị đối đãi đầy bất công nếu đem so sánh với những đóng góp của họ. Khu ổ chuột, những khu nhà trọ rách nát, nồng nặc mùi rác rưởi lẽ nào mãi là chỗ đi về của họ” (Tuổi Trẻ 6-9-2003). Liệu những con người đó, những người lao động bằng xương bằng thịt cụ thể ấy, đang lao động trên chính đất nước mà họ đang làm chủ này có thuộc vào phạm trù “lấy con người làm trung tâm” của quá trình phát triển đất nước không ?. ....
Nếu thật sự quán triệt “quá trình phát triển phải lấy con người làm trung tâm” thì đã không có chuyện để cho ngành giáo dục đào tạo, nơi gánh trách nhiệm đào tạo con người, hun đúc hiền tài - nguyên khí quốc gia, lại cho ra những kết quả thảm hại với chỉ 14% thí sinh có tổng điểm ba môn thi từ 15 điểm trở lên và có đến 67,9% đạt tổng điểm ba môn thi 10 điểm trở xuống trong kỳ thi tuyển đại học và cao đẳng 2003. ....
Nếu thật sự quán triệt “con người là trung tâm” trong mọi hoạt động kinh tế xã hội thì đã không xem “trẻ đường phố” là đối tượng “thu gom”. Người ta chỉ thu gom phế liệu, ai lại thu gom con người ! Và rồi nếu thật sự quan tâm đến con người, những người bệnh đang phải gánh chịu tình trạng tăng giá thuốc hàng chục phần trăm (%), có loại tăng đến 80% do tác động của thông tư 08 liên bộ Tài chính và Y tế thì người có trách nhiệm gây nên chuyện đó sẽ không thể trả lời một cách vô trách nhiệm : “Tôi chỉ thừa lệnh chứ không tham gia. Tôi chỉ ký thôi” (Người Lao động 26-9-2003).
Tuy nhiên có thể nói : ở đây tác giả cũng chỉ mới đụng tới vấn đề chứ chưa đề ra được một giải pháp như lá Thư ngỏ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam :
Có lẽ đến đây anh chị em đang thầm bảo tôi : thì đọc lá Thử ngỏ lẹ lẹ lên cho bà con nhờ.... Để khỏi quá dài, tôi bỏ bớt Nhập đề và Kết luận. Bây giờ tôi xin đọc :
“Phục vụ con người là mục đích tối cao” của mọi tổ chức và cơ chế xã hội (xem Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI). Khẳng định này đặt con người làm mục đích, làm cứu cánh, làm trọng tâm của mọi hoạt động văn hoá, kinh tế, xã hội trong cộng đồng dân tộc. Phải chăng khẳng định này muốn nói lên chân lý căn bản về phẩm giá con người. Từ chân lý căn bản nảy ra những nhu cầu, những đòi hỏi bức thiết phải đáp ứng trong hoàn cảnh hiện tại để xây dựng một xã hội nhân bản hơn cho Tổ quốc Việt Nam. Những đòi hỏi bức thiết đó gồm hai việc chính sau đây : I. Xoá bỏ dần những khuyết tật hiện hữu của xã hội; II. Phát huy những giá trị nhân bản làm cho mọi công dân ngày càng sống ấm no hạnh phúc, sống “độc lập, tự do và hạnh phúc”, sống xứng với phẩm giá con người.
I. Xoá bỏ những khuyết tật hiện hữu của xã hội.
1. Xoá bỏ khuyết tật lớn thứ nhất là hiện tượng tha hoá con người.Sự tha hoá là hiện tượng đánh mất phẩm giá con người. Hiện tượng này xuất hiện và lớn dần trong xã hội hiện nay :
- khi chủ nghĩa tiêu thụ đưa đẩy con người vào trong một mạng lưới những thoả mãn hời hợt, giả dối; - khi lao động được tổ chức nhằm bảo đảm tối đa cho lợi nhuận mà không lưu tâm đến cải thiện đời sống và thăng tiến phẩm giá người lao động;
- khi diễn ra sự đảo ngược giữa phương tiện và mục đích : con người vốn là mục đích của sự phát triển thì lại bị biến thành đơn thuần là phương tiện sản xuất;
- khi tự do được coi như là quyền được làm bất cứ điều gì mình thích, bất cứ điều gì mà cảm tính của mình cho là có lợi trước mắt cho bản thân, cho phe phái, thay vì được coi như là quyền làm những gì mà lương tâm thấy được phép làm vì công ích, vì lợi ích của thế hệ hiện tại và mai sau. Khi tách lìa chân lý về phẩm giá con người, tự do chỉ còn là sự tuỳ tiện hoặc ngẫu hứng của những kẻ có quyền lực và thế lực. Tự do như thế, thay vì đem lại sự an cư lạc nghiệp và hạnh phúc cho mọi người, có nguy cơ tạo ra những bất công chồng chất trong xã hội.
2. Xoá bỏ khuyết tật lớn thứ hai là cơ chế bất công và tha hoá con người.
Cơ chế xin-cho là một điển hình về cơ chế bất công và tha hoá. Cơ chế xin-cho là một cơ chế bất công và tha hoá con người vì những lý do sau đây :
Cơ chế xin-cho biến những quyền tự do của công dân thành những thứ quyền Nhà Nước nắm trong tay và ban bố lại cho người dân dưới dạng những cái phép. Như thế cơ chế xin-cho vừa xoá đi các quyền tự do của người dân, vừa biến một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân thành một chủ nhân ông nắm trong tay các quyền tự do của người dân và thi ân cho họ theo cảm tính hoặc ngẫu hứng của mình.
Theo thông tin của báo chí, cơ chế xin-cho còn là nguyên nhân làm thất thoát 50% từ các nguồn thu vào công quỹ, và làm thất thoát 50% của phần còn lại khi phải chi ra cho công ích. Điều này có nghĩa là một thiểu số nhỏ những người có thế lực và quyền lực thì hưởng 75% từ công quỹ quốc gia (trong con số 75%, có 50.000 tỷ đông/năm của riêng ngành xây dựng), phần còn lại của dân số là hơn 70 triệu dân chỉ hưởng được 25%. Thực tế này tạo ra một tình trạng bất công trầm trọng trong xã hội và không ngừng làm gia tăng hố sâu cách biệt giàu nghèo trong lòng một dân tộc. Chính vì thế mà tham nhũng một cách có hệ thống qui mô trong xã hội ngày nay là một cản trở hết sức to lớn cho việc phát triển đất nước cũng như cho việc phát huy phẩm giá con người.
II. Phát huy những giá trị nhân bản làm cho xã hội ngày càng nhân bản hơn.
1. Phát huy phẩm giá và nhân cách con người. Công việc này đòi hỏi mọi tổ chức, mọi cơ chế, trong các quan hệ xã hội, phải quan tâm tôn trọng con người như là trọng tâm của mọi hoạt động văn hoá, kinh tế, xã hội, nghĩa là phải hướng các sinh hoạt văn hoá, kinh tế, xã hội đi đến sự phát triển và thăng tiến con người toàn diện với cả ba mặt vật chất, tinh thần và tâm linh làm nên phẩm giá và nhân cách con người. Hình như hệ thống giáo dục trong xã hội ngày nay chỉ nghiêng về chuyển giao kiến thức chuyên môn hơn là quan tâm phát triển nhân cách con người. Định hướng này có nguy cơ tạo ra những lớp người hụt hẫng, què quặt, dị tật cho dân tộc.
2. Phát triển người trên nền tảng chân lý. Một xã hội được coi là có trật tự và phù hợp với nhân phẩm khi đặt nền tảng trên chân lý. Chân lý căn bản trong quan hệ giữa người với người là mọi người đều bình đẳng về nhân phẩm. Chân lý này đòi hỏi phải gạt bỏ moi kỳ thị và phân biệt đối xử, phải xoá đi những hình thức chuyên chế, phải loại trừ mọi gian dối xảo trá ngày nay đang tràn lan trong mọi lãnh vực của cuộc sống con người và xã hội.
3. Phát huy tình liên đới trong cộng đồng dân tộc. Tình liên đới chỉ được xây dựng và phát huy vững bền trên nền tảng tôn trọng con người và các quyền của họ, tôn trọng sự tự lập chính đáng và quyền tự quyết của mọi tổ chức công dân, tôn trọng các giá trị đạo đức trong truyền thống văn hoá. Tình liên đới đòi hỏi phải nhìn xa hơn bản thân của tổ chức, của phe phái để phục vụ cho sự phát triển vững bền, cho sự thăng tiến lâu dài của con người, gia đình và xã hội.
4. Phát huy tính phụ đới của tổ chức xã hội. Việc xây dựng tình liên đới và đoàn kết trong lòng một dân tộc chỉ đạt kết quả khi mọi tổ chức xã hội thể hiện được tính phụ đới. Tính phụ đới là một đặc tính của tổ chức xã hội trong đó một tập thể cấp cao không can thiệp vào nội bộ của một tập thể cấp thấp, không làm mất thẩm quyền và tính tự lập của tập thể cấp thấp, song tạo điều kiện cho nó có được tự do phối hợp hoạt động của mình với những hoạt động của các tập thể khác trong xã hội. Trong tổ chức xã hội mang tính phụ đới, mọi công dân, mọi tập thể công dân, tôn giáo hay không tôn giáo, không phân biệt giai cấp, được tự do sáng kiến và hoạt động nhằm phát triển và thăng tiến con người và gia đình, củng cố nền tảng pháp lý quốc gia. Tính phụ đới không cho phép một tổ chức hay tập thể xã hội, dù là tổ chức cao cấp nhất như Nhà Nước, chiếm độc quyền trong công cuộc phát triển, vì lẽ đây là sự nghiệp chung của toàn dân, của mọi thành phần xã hội trong cộng đồng dân tộc. Vả lại độc quyền là con đường dẫn đến chuyên chế và độc tài, quan liêu và bao cấp, áp bức và bất công, là những tệ nạn vừa đánh mất phẩm giá con người vừa cản trở việc phát triển đất nước.
Tính phụ đới theo nghĩa trên là nền tảng để xây dựng một xã hội dân chủ, một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân. Thiếu nền tảng này, Nhà Nước của dân, do dân và vì dân, từ một tổ chức phục vụ nhân dân, trở thành một cỗ máy thống trị độc tài, và nhân dân từ địa vị làm chủ đất nước trở thành công cụ mù quáng và miễn cưỡng phục vụ cỗ máy đó. Sự đảo ngược đó làm tha hoá con người và phân hoá xã hội.
5. Phát huy ý thức và thiện chí phục vụ công ích. Trước hết công ích là những điều kiện cần thiết cho việc thi hành các quyền tự do của mọi công dân, cho việc phát huy phẩm giá con người. Do đó, chức năng phục vụ cho công ích đòi hỏi tổ chức Nhà Nước :
(1) phải tạo điều kiện đảm bảo cho mọi công dân, mọi tổ chức xã hội được hưởng những tự do xứng hợp với phẩm giá con người và cần thiết cho sự phát triển đất nước;
(2) phải xoá bỏ những luật lệ bất công và những biện pháp trái với luân thường đạo lý trong truyền thống văn hoá của dân tộc. Cơ chế xin-cho là một điển hình về luật lệ bất công. Phá thai hằng năm hơn cả triệu trường hợp là một điển hình về biện pháp trái với luân thường đạo lý mà những hậu quả đã và đang diễn ra không biết đưa tương lai dân tộc đi về đâu.”
KẾT LUẬN
Cách đây 25 năm, khi xuất hiện lần đầu tiên trên bao lơn điện Va-ti-căng để ngỏ lời với dân Chúa trong tư cách vị Giáo Hoàng vừa đắc cử, lời đầu tiên của Đức Gio-an Phao-lô II là Anh em đừng sợ. Lời đó khiến ta nhớ lại lời Chúa Giê-su khi Ngài xuất hiện trên mặt nước mà đến với các Tông Đồ : Thầy đây ! Anh em đừng sợ (Mc 6,50). Hôm nay cũng vậy, nếu ta muốn noi gương phục vụ của Mẹ Tê-rê-xa, của Đức Giáo Hoàng, người tự nhận là “đầy tớ các đầy tớ của Thiên Chúa”, và nhất là nếu ta muốn noi gương của Đấng đã đến không phải để cho người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người thì lời được gửi đến cho mỗi người chúng ta hôm nay cũng là Anh em đừng sợ !
Nhà thờ Phan-xi-cô Đa-kao, 19-10-2003
THEO GƯƠNG ĐỨC KI-TÔ
PHỤC VỤ CON NGƯỜI
1. Theo gương Đức Ki-tô phục vụ
Đức Giê-su vừa loan báo cho môn đệ biết về cuộc thương khó của Người, không phải lần đầu tiên, nhưng là lần thứ ba. Như thế có nghĩa đây là một vấn đề quan trọng. Nhưng các môn đệ không quan tâm gì, bằng cớ là họ vừa tranh cãi nhau chuyện ai lớn, ai nhỏ, chuyện chiếu trên chiếu dưới. Và Đức Giê-su nắm ngay cơ hội để cho môn đệ biết phải suy nghĩ như thế nào, lựa chọn làm sao, phải có thái độ nào, tinh thần nào, mới xứng đáng là môn đệ của Ngài.
Để chuẩn bị chúng ta đón nhận giáo huấn của Chúa Giê-su, thì bài đọc 1 cho thấy người Tôi Trung của Thiên Chúa phải bị nghiền nát vì đau khổ,. ... hiến thân làm lễ vật đền tội. ... để làm cho muôn người nên công chính. Truyền thống Tân Ước hiểu người Tôi Trung đó, chính là Đức Giê-su. Còn tác giả thư gửi tín hữu Do-thái thì khẳng định : Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. Và đến đây thì chúng ta đã sẵn sàng để đón nhận lời giáo huấn của Chúa Giê-su. Ai muốn làm đầu anh em, thì phải làm đầy tớ mọi người. Nếu ta muốn biết tại sao thì Chúa cho ta lời giải thích : Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người. Như thế, ta có thể nói : toàn bộ phụng vụ Lời Chúa hôm nay có thể gói ghém trong hai chữ PHỤC VỤ.
2. Bối cảnh tôn giáo
Lời Chúa đến với chúng ta vào một thời điểm hết sức đặc biệt. Trước hết, trong những ngày này, toàn thể Giáo Hội Công Giáo đang nô nức chuẩn bị mừng 25 năm phục vụ của Đức Gio-an Phao-lô II trong cương vị Giáo Hoàng, người (cũng như tất cả các vị tiền nhiệm) tự nhận là “đầy tớ các đầy tớ của Chúa”, hay là “người phục vụ của các người phục vụ”. Và công việc phục vụ của ngài thì vô cùng phong phú, nhưng có nhà báo phương Tây gói ghém trong mấy chữ : Người mạnh mẽ bênh vực quyền của Thiên Chúa và quyền của con người.
Kế đến, ngày hôm nay, Mẹ Tê-rê-xa thành Can-cút-ta được phong chân phước. Mẹ đã dành trọn cuộc đời để noi gương và theo lệnh Chúa Giê-su, phục vụ những người nghèo, những người bị bỏ rơi, những người bất hạnh.
Vẫn trong bối cảnh tôn giáo, một biến cố cũng mới xảy ra là tuần vừa qua các Giám Mục Việt Nam đã họp đại hội thường niên. Tôi chưa có dịp đọc lá Thư chung nên chưa rõ các ngài sẽ nói với chúng ta những gì, nhưng tôi đoán là khó lòng mà có được một tài liệu độc đáo hơn, súc tích hơn, sâu sắc hơn là lá thư ngỏ mà năm 2002 vừa qua, cũng nhân kỳ đại hội các Giám Mục, các ngài đã gửi đến các nhà lập pháp của chúng ta, và đầu năm nay tôi đã có dịp đọc cho anh chị em nghe vài đoạn. Nội dung lá thư ngỏ ấy có thể tóm tắt trong mấy chữ : phục vụ con người. Đức Tổng Giám Mục của chúng ta là người đầu tiên phổ biến lá thư ngỏ đó. Uỷ ban Đoàn Kết mời ngài đi họp, ngài xin kiếu vì bận công việc mục vụ, nhưng ngài vội nắm lấy cơ hội để gửi cho Uỷ Ban lá thư ngỏ. Giá mà tờ báo Công Giáo và Dân Tộc lúc đó nhanh nhẩu phổ biến lá thư ngỏ đó như họ đang hăng hái đăng tải các bài viết nhân dịp Đức Tổng của chúng ta đi lãnh mũ hồng y thì hay biết chừng nào. Chưa hết, khi được Mặt Trận Tổ Quốc Thành Phố gửi thư kêu gọi giới Công giáo đóng góp vào công việc xoá đói giảm nghèo, thì một lần nữa, Đức Tổng cũng chụp ngay cơ hội để gửi lá thư ngỏ nói trên cho Chính quyền Thành phố. Ta có cảm tưởng như Đức Tổng chỉ chờ cho có cơ hội để phổ biến lá thư ngỏ kia thôi. Và biết đâu việc ngài được Đức Giáo Hoàng trao tặng mũ hồng y lại không liên quan đến việc thời gian vừa qua Đức Tổng của chúng ta qua việc phổ biến lá Thư ngỏ của Hội Đồng Giảm Mục Việt Nam đã tìm ra cách hữu hiệu nhất, đúng đắn nhất để góp phần vào việc phục vụ con người theo giáo huấn của Chúa Ki-tô trong hoàn cảnh hiện thời của đất nước.
3. Bối cảnh xã hội
Xã hội chúng ta đang sống hôm nay là một xã hội đang phát triển, với vô vàn vô số những vấn đề như ta dễ dàng nhận thấy qua báo chí, qua truyền thành truyền hình. Nhưng đâu là vị trí của con người trong quá trình phát triển đó. Trong báo Tuổi Trẻ Chủ nhật ngày 05-10-2003, ở mục “Tiêu điểm” (trang 4-5) dưới tựa đề “Quá trình phát triển phải lấy con người làm trung tâm”, tác giả Tương Lai cho thấy rằng trong hoàn cảnh cụ thể của xã hội hôm nay, quá trình phát triển CHƯA lấy con người làm trung tâm, hay nói cách khác, mục tiêu tối hậu chưa phải là phục vụ con người. Tôi xin trích :.... Nói quan tâm đến con người một cách chung chung thì ai cũng nói được. Nhưng trong cuộc đời chỉ có những con người cụ thể. Đó là anh công nhân giữa hàng chục công nhân trong số 200 người bị chấm dứt hợp đồng trái phép phải phơi nắng trước cổng Công ty Top One để chờ cơ quan chức năng xuống can thiệp bảo vệ quyền lợi “nhưng không thấy ai đoái hoài tới” (Tuổi trẻ 9-9-2003). Đó là những khu chế xuất, khu công nghiệp, trong những công ty sau khi từ nơi làm việc trở về phải chịu cơ cực trong cảnh “hắt hiu nhà trọ công nhân” với “nỗi buồn của những phận đời chan đầy nước mắt, niềm đau của kiếp sống tha hương” (Lao động 10-8-2003). Đó còn là những “người lao động thời vụ” đang bu quanh các khu chế xuất, khu công nghiệp còn “không có chỗ ổn định, công việc thì hết sức bấp bênh, không được đào tạo, khi quyền lợi bị xâm hại không biết kêu ai”, thân phận của họ lại còn khốn khổ hơn những “phận đời chan đầy nước mắt”. Đó là những người “công nhân đang bị đối đãi đầy bất công nếu đem so sánh với những đóng góp của họ. Khu ổ chuột, những khu nhà trọ rách nát, nồng nặc mùi rác rưởi lẽ nào mãi là chỗ đi về của họ” (Tuổi Trẻ 6-9-2003). Liệu những con người đó, những người lao động bằng xương bằng thịt cụ thể ấy, đang lao động trên chính đất nước mà họ đang làm chủ này có thuộc vào phạm trù “lấy con người làm trung tâm” của quá trình phát triển đất nước không ?. ....
Nếu thật sự quán triệt “quá trình phát triển phải lấy con người làm trung tâm” thì đã không có chuyện để cho ngành giáo dục đào tạo, nơi gánh trách nhiệm đào tạo con người, hun đúc hiền tài - nguyên khí quốc gia, lại cho ra những kết quả thảm hại với chỉ 14% thí sinh có tổng điểm ba môn thi từ 15 điểm trở lên và có đến 67,9% đạt tổng điểm ba môn thi 10 điểm trở xuống trong kỳ thi tuyển đại học và cao đẳng 2003. ....
Nếu thật sự quán triệt “con người là trung tâm” trong mọi hoạt động kinh tế xã hội thì đã không xem “trẻ đường phố” là đối tượng “thu gom”. Người ta chỉ thu gom phế liệu, ai lại thu gom con người ! Và rồi nếu thật sự quan tâm đến con người, những người bệnh đang phải gánh chịu tình trạng tăng giá thuốc hàng chục phần trăm (%), có loại tăng đến 80% do tác động của thông tư 08 liên bộ Tài chính và Y tế thì người có trách nhiệm gây nên chuyện đó sẽ không thể trả lời một cách vô trách nhiệm : “Tôi chỉ thừa lệnh chứ không tham gia. Tôi chỉ ký thôi” (Người Lao động 26-9-2003).
Tuy nhiên có thể nói : ở đây tác giả cũng chỉ mới đụng tới vấn đề chứ chưa đề ra được một giải pháp như lá Thư ngỏ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam :
Có lẽ đến đây anh chị em đang thầm bảo tôi : thì đọc lá Thử ngỏ lẹ lẹ lên cho bà con nhờ.... Để khỏi quá dài, tôi bỏ bớt Nhập đề và Kết luận. Bây giờ tôi xin đọc :
“Phục vụ con người là mục đích tối cao” của mọi tổ chức và cơ chế xã hội (xem Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI). Khẳng định này đặt con người làm mục đích, làm cứu cánh, làm trọng tâm của mọi hoạt động văn hoá, kinh tế, xã hội trong cộng đồng dân tộc. Phải chăng khẳng định này muốn nói lên chân lý căn bản về phẩm giá con người. Từ chân lý căn bản nảy ra những nhu cầu, những đòi hỏi bức thiết phải đáp ứng trong hoàn cảnh hiện tại để xây dựng một xã hội nhân bản hơn cho Tổ quốc Việt Nam. Những đòi hỏi bức thiết đó gồm hai việc chính sau đây : I. Xoá bỏ dần những khuyết tật hiện hữu của xã hội; II. Phát huy những giá trị nhân bản làm cho mọi công dân ngày càng sống ấm no hạnh phúc, sống “độc lập, tự do và hạnh phúc”, sống xứng với phẩm giá con người.
I. Xoá bỏ những khuyết tật hiện hữu của xã hội.
1. Xoá bỏ khuyết tật lớn thứ nhất là hiện tượng tha hoá con người.Sự tha hoá là hiện tượng đánh mất phẩm giá con người. Hiện tượng này xuất hiện và lớn dần trong xã hội hiện nay :
- khi chủ nghĩa tiêu thụ đưa đẩy con người vào trong một mạng lưới những thoả mãn hời hợt, giả dối; - khi lao động được tổ chức nhằm bảo đảm tối đa cho lợi nhuận mà không lưu tâm đến cải thiện đời sống và thăng tiến phẩm giá người lao động;
- khi diễn ra sự đảo ngược giữa phương tiện và mục đích : con người vốn là mục đích của sự phát triển thì lại bị biến thành đơn thuần là phương tiện sản xuất;
- khi tự do được coi như là quyền được làm bất cứ điều gì mình thích, bất cứ điều gì mà cảm tính của mình cho là có lợi trước mắt cho bản thân, cho phe phái, thay vì được coi như là quyền làm những gì mà lương tâm thấy được phép làm vì công ích, vì lợi ích của thế hệ hiện tại và mai sau. Khi tách lìa chân lý về phẩm giá con người, tự do chỉ còn là sự tuỳ tiện hoặc ngẫu hứng của những kẻ có quyền lực và thế lực. Tự do như thế, thay vì đem lại sự an cư lạc nghiệp và hạnh phúc cho mọi người, có nguy cơ tạo ra những bất công chồng chất trong xã hội.
2. Xoá bỏ khuyết tật lớn thứ hai là cơ chế bất công và tha hoá con người.
Cơ chế xin-cho là một điển hình về cơ chế bất công và tha hoá. Cơ chế xin-cho là một cơ chế bất công và tha hoá con người vì những lý do sau đây :
Cơ chế xin-cho biến những quyền tự do của công dân thành những thứ quyền Nhà Nước nắm trong tay và ban bố lại cho người dân dưới dạng những cái phép. Như thế cơ chế xin-cho vừa xoá đi các quyền tự do của người dân, vừa biến một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân thành một chủ nhân ông nắm trong tay các quyền tự do của người dân và thi ân cho họ theo cảm tính hoặc ngẫu hứng của mình.
Theo thông tin của báo chí, cơ chế xin-cho còn là nguyên nhân làm thất thoát 50% từ các nguồn thu vào công quỹ, và làm thất thoát 50% của phần còn lại khi phải chi ra cho công ích. Điều này có nghĩa là một thiểu số nhỏ những người có thế lực và quyền lực thì hưởng 75% từ công quỹ quốc gia (trong con số 75%, có 50.000 tỷ đông/năm của riêng ngành xây dựng), phần còn lại của dân số là hơn 70 triệu dân chỉ hưởng được 25%. Thực tế này tạo ra một tình trạng bất công trầm trọng trong xã hội và không ngừng làm gia tăng hố sâu cách biệt giàu nghèo trong lòng một dân tộc. Chính vì thế mà tham nhũng một cách có hệ thống qui mô trong xã hội ngày nay là một cản trở hết sức to lớn cho việc phát triển đất nước cũng như cho việc phát huy phẩm giá con người.
II. Phát huy những giá trị nhân bản làm cho xã hội ngày càng nhân bản hơn.
1. Phát huy phẩm giá và nhân cách con người. Công việc này đòi hỏi mọi tổ chức, mọi cơ chế, trong các quan hệ xã hội, phải quan tâm tôn trọng con người như là trọng tâm của mọi hoạt động văn hoá, kinh tế, xã hội, nghĩa là phải hướng các sinh hoạt văn hoá, kinh tế, xã hội đi đến sự phát triển và thăng tiến con người toàn diện với cả ba mặt vật chất, tinh thần và tâm linh làm nên phẩm giá và nhân cách con người. Hình như hệ thống giáo dục trong xã hội ngày nay chỉ nghiêng về chuyển giao kiến thức chuyên môn hơn là quan tâm phát triển nhân cách con người. Định hướng này có nguy cơ tạo ra những lớp người hụt hẫng, què quặt, dị tật cho dân tộc.
2. Phát triển người trên nền tảng chân lý. Một xã hội được coi là có trật tự và phù hợp với nhân phẩm khi đặt nền tảng trên chân lý. Chân lý căn bản trong quan hệ giữa người với người là mọi người đều bình đẳng về nhân phẩm. Chân lý này đòi hỏi phải gạt bỏ moi kỳ thị và phân biệt đối xử, phải xoá đi những hình thức chuyên chế, phải loại trừ mọi gian dối xảo trá ngày nay đang tràn lan trong mọi lãnh vực của cuộc sống con người và xã hội.
3. Phát huy tình liên đới trong cộng đồng dân tộc. Tình liên đới chỉ được xây dựng và phát huy vững bền trên nền tảng tôn trọng con người và các quyền của họ, tôn trọng sự tự lập chính đáng và quyền tự quyết của mọi tổ chức công dân, tôn trọng các giá trị đạo đức trong truyền thống văn hoá. Tình liên đới đòi hỏi phải nhìn xa hơn bản thân của tổ chức, của phe phái để phục vụ cho sự phát triển vững bền, cho sự thăng tiến lâu dài của con người, gia đình và xã hội.
4. Phát huy tính phụ đới của tổ chức xã hội. Việc xây dựng tình liên đới và đoàn kết trong lòng một dân tộc chỉ đạt kết quả khi mọi tổ chức xã hội thể hiện được tính phụ đới. Tính phụ đới là một đặc tính của tổ chức xã hội trong đó một tập thể cấp cao không can thiệp vào nội bộ của một tập thể cấp thấp, không làm mất thẩm quyền và tính tự lập của tập thể cấp thấp, song tạo điều kiện cho nó có được tự do phối hợp hoạt động của mình với những hoạt động của các tập thể khác trong xã hội. Trong tổ chức xã hội mang tính phụ đới, mọi công dân, mọi tập thể công dân, tôn giáo hay không tôn giáo, không phân biệt giai cấp, được tự do sáng kiến và hoạt động nhằm phát triển và thăng tiến con người và gia đình, củng cố nền tảng pháp lý quốc gia. Tính phụ đới không cho phép một tổ chức hay tập thể xã hội, dù là tổ chức cao cấp nhất như Nhà Nước, chiếm độc quyền trong công cuộc phát triển, vì lẽ đây là sự nghiệp chung của toàn dân, của mọi thành phần xã hội trong cộng đồng dân tộc. Vả lại độc quyền là con đường dẫn đến chuyên chế và độc tài, quan liêu và bao cấp, áp bức và bất công, là những tệ nạn vừa đánh mất phẩm giá con người vừa cản trở việc phát triển đất nước.
Tính phụ đới theo nghĩa trên là nền tảng để xây dựng một xã hội dân chủ, một Nhà Nước của dân, do dân và vì dân. Thiếu nền tảng này, Nhà Nước của dân, do dân và vì dân, từ một tổ chức phục vụ nhân dân, trở thành một cỗ máy thống trị độc tài, và nhân dân từ địa vị làm chủ đất nước trở thành công cụ mù quáng và miễn cưỡng phục vụ cỗ máy đó. Sự đảo ngược đó làm tha hoá con người và phân hoá xã hội.
5. Phát huy ý thức và thiện chí phục vụ công ích. Trước hết công ích là những điều kiện cần thiết cho việc thi hành các quyền tự do của mọi công dân, cho việc phát huy phẩm giá con người. Do đó, chức năng phục vụ cho công ích đòi hỏi tổ chức Nhà Nước :
(1) phải tạo điều kiện đảm bảo cho mọi công dân, mọi tổ chức xã hội được hưởng những tự do xứng hợp với phẩm giá con người và cần thiết cho sự phát triển đất nước;
(2) phải xoá bỏ những luật lệ bất công và những biện pháp trái với luân thường đạo lý trong truyền thống văn hoá của dân tộc. Cơ chế xin-cho là một điển hình về luật lệ bất công. Phá thai hằng năm hơn cả triệu trường hợp là một điển hình về biện pháp trái với luân thường đạo lý mà những hậu quả đã và đang diễn ra không biết đưa tương lai dân tộc đi về đâu.”
KẾT LUẬN
Cách đây 25 năm, khi xuất hiện lần đầu tiên trên bao lơn điện Va-ti-căng để ngỏ lời với dân Chúa trong tư cách vị Giáo Hoàng vừa đắc cử, lời đầu tiên của Đức Gio-an Phao-lô II là Anh em đừng sợ. Lời đó khiến ta nhớ lại lời Chúa Giê-su khi Ngài xuất hiện trên mặt nước mà đến với các Tông Đồ : Thầy đây ! Anh em đừng sợ (Mc 6,50). Hôm nay cũng vậy, nếu ta muốn noi gương phục vụ của Mẹ Tê-rê-xa, của Đức Giáo Hoàng, người tự nhận là “đầy tớ các đầy tớ của Thiên Chúa”, và nhất là nếu ta muốn noi gương của Đấng đã đến không phải để cho người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người thì lời được gửi đến cho mỗi người chúng ta hôm nay cũng là Anh em đừng sợ !
Nhà thờ Phan-xi-cô Đa-kao, 19-10-2003