Thiên Chúa vốn là một vị Thiên Chúa ẩn giấu. Người ẩn giấu chứ không vắng mặt.
Người ta đã hao tốn biết bao giấy mực để cố khám phá vị Thiên Chúa ẩn giấu ấy.
Gần hai ngàn năm lịch sử trước Chúa Giáng sinh, con người đã hình dung Thiên Chúa với nhiều dung mạo khác nhau.
Nhưng nơi Ðức Giêsu nhập thể, Thiên Chúa trở nên gần gũi thân quen hơn.
Ðức Giêsu vẫn cứ là một thắc mắc, một tra vấn lớn: Ngài là ai?
Câu hỏi mà Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ vẫn vang dội qua các thế hệ: Anh em bảo Thầy là ai?
Ðức Giêsu, một con người lịch sử sống tại Palestina cách đây hơn 2000 năm. Người là một thực tại đầy mầu nhiệm. Những người sống đồng thời với Ngài nhìn thấy những việc lạ Ngài làm, nghe những lời Người giảng dạy nhưng họ không nhận ra thực tại thần linh của Người là Con Thiên Chúa Hằng Sống. Họ nhìn Người như một Tiên tri, một Êlia, một Gioan Tẩy Giả, một người chuẩn bị cho nhân loại chứ chưa phải là Thiên Chúa. Bởi vậy câu hỏi thứ nhất: người ta nghĩ Thầy là ai? chỉ là câu hỏi nhập đề để gợi ý thức nơi các môn đệ. Câu hỏi thứ hai quan trọng hơn: Phần các con, các con bảo Thầy là ai? Người không hỏi: anh em nói Thầy đến để làm gì? mà hỏi về chân tính của Người "Thầy là ai". Chúa hỏi một cách chân thành về căn tính của Người với mục đích là để kêu mời các môn đệ đi sâu vào trong tình thân ái của Người trước khi sai phái họ đi.
Ðức Giêsu có thể tuyên bố chân tính của mình thay vì đặt câu hỏi như thế. Nhưng đó không phải là cách hành động của Người. Người không muốn tự giới thiệu mình, tự định nghĩa về mình. Người muốn kẻ khác khám phá mình dần dần và trình bày kết quả. Người muốn được một lời tuyên xưng phát xuất từ một nổ lực tìm hiểu chứ không muốn các môn đệ chứng nhận thụ động một công thức.
Câu trả lời của Thánh Phêrô được 3 tác giả Nhất Lãm ghi lại theo 3 kiểu:
Thầy là Ðức Kitô (Mc 8, 29)
Ðấng Kitô của Thiên Chúa (Lc 9, 20)
Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống (Mt 16, 16)
Qua tước hiệu Kitô, Phêrô tuyên xưng quyền năng mà Ðức Giêsu biểu lộ qua các phép lạ.
Ðấng Kitô của Thiên Chúa diễn tả một cái nhìn sâu xa hơn về nguồn gốc của Ðức Giêsu. Mathêu nối kết cả hai tước hiệu ấy lại: Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.
Lời tuyên tín của Phêrô có một giá trị vững vàng, diễn tả niềm tin duy nhất của các Tông Ðồ.
Ðức Giêsu xác nhận, không phải xác thịt nhưng là Cha trên trời đã ban, soi sáng cho Phêrô: Này anh Simon, con ông Giona, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha Thầy, đấng ngự trên trời.
Chúng ta không có được diễm phúc gặp gỡ Ðức Giêsu, một con người bằng xương bằng thịt, ở giữa loài người, ăn uống ngủ nghỉ, đi đứng nói năng như mọi người; một Ðức Giêsu mà các môn đệ đã từng được mắt thấy tai nghe và sờ tận tay; một Ðức Giêsu mà các ông đã thấy làm phép lạ, nghe Người giảng dạy, chứng kiến Người bị bắt, bị đóng đinh, thấy Người phục sinh.
Các môn đệ biết Thầy mình như một con người, nhưng cuộc sống hành động, cách ăn nết ở, những lời rao giảng, lập trường tôn giáo, nhất là tình yêu thương đối với mọi người, đặc biệt đối với ngươì tội lỗi đã giúp các ông dần dần khám phá ra Người là Ðấng Kitô.
Hôm nay, không ai có thể gặp gỡ Ðức Giêsu Nazareth nữa, vì Người không còn ở giữa chúng ta bằng xương bằng thịt, Người đã "Lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha" Vậy làm sao có thể biết được Người, gặp gỡ được Người?
Không thể biết được Ðức Giêsu nếu chỉ muốn biết Người theo quan điểm thông thường, mà phải biết Người với con mắt đức tin, đón nhận cái biết đó như một hồng ân Thiên Chúa ban tặng vì chính Ðức Giêsu đã nói: "Không ai đến được với Thầy, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho" (Ga 6, 65). Nói cách khác, không phải chỉ đơn thuần là chúng ta tìm đến với Ðức Giêsu, mà chính Người đến với chúng ta, bởi vì Người là Ðấng "Hiện có, đã có và đang tới" (Kh 1, 8).
Ðạo của Ðức Giêsu không chỉ là một đạo lý mà là một Con Ðường, và con đường ấy lại là chính Ðức Giêsu (Ga 14, 6). Ðây không phải là một lý thuyết mà là một con người, vì thế tìm biết Ðức Giêsu không chỉ tìm hiểu lời giảng dạy hay giáo lý của Người mà còn tìm hiểu Người đã sống lời Người rao giảng như thế nào.
Có thể Ðức Giêsu là con người rất đơn sơ giản dị, sống hoà mình với mọi người, không biết đến bất cứ một hình thức kỳ thị hay đối xử phân biệt nào. Trái lại, một trong những nét nổi bật của Người là thích gần gũi, và tỏ lòng ưu ái đối với những kẻ bé nhỏ nghèo hèn, những người tội lỗi, những kẻ bị khinh khi. Tất cả cuộc đời, mọi lời nói và việc làm của Người và cả đến cuộc khổ nạn của Người chỉ tóm gọn trong hai chữ Vì Yêu. Vì Yêu nhân loại mà Người đã đến trong trần gian để ở giữa mọi người. Vì Yêu nhân loại mà Người đã chấp nhận cuộc khổ nạn và cái chết. Chính cái chết Vì Yêu của Chúa trên thập giá đã mạc khải trọn vẹn chân tính của Người là hiện thân của Thiên Chúa, hiện thân của Tình Yêu.
Vì Ðức Giêsu là hiện thân của Tình Yêu Thiên Chúa, nên Thánh Gioan đã nói với chúng ta rằng: chỉ có một cách duy nhất để biết Thiên Chúa, đó là yêu thương anh em (1Ga 4, 7-8). Cũng chính tình yêu huynh đệ ấy sẽ làm cho mọi người nhận biết chúng ta là môn đệ Ðức Giêsu (Ga 13, 35) và tin vào Ðức Giêsu là Ðấng Thiên Chúa đã sai đến trần gian (Ga 17, 21-23).
Chính cộng đồng giáo hội, chính nơi cuộc sống đời thường giữa anh chị em mình mà chúng ta biết và gặp gỡ Ðức Giêsu. Sống yêu thương như Chúa đã yêu là gặp gỡ Chúa và làm chứng nhân cho tình yêu. Những người nghèo hèn bé nhỏ được Chúa ưu ái hơn cả nên gặp gỡ họ là gặp gỡ chính Người vậy.
Người ta đã hao tốn biết bao giấy mực để cố khám phá vị Thiên Chúa ẩn giấu ấy.
Gần hai ngàn năm lịch sử trước Chúa Giáng sinh, con người đã hình dung Thiên Chúa với nhiều dung mạo khác nhau.
Nhưng nơi Ðức Giêsu nhập thể, Thiên Chúa trở nên gần gũi thân quen hơn.
Ðức Giêsu vẫn cứ là một thắc mắc, một tra vấn lớn: Ngài là ai?
Câu hỏi mà Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ vẫn vang dội qua các thế hệ: Anh em bảo Thầy là ai?
Ðức Giêsu, một con người lịch sử sống tại Palestina cách đây hơn 2000 năm. Người là một thực tại đầy mầu nhiệm. Những người sống đồng thời với Ngài nhìn thấy những việc lạ Ngài làm, nghe những lời Người giảng dạy nhưng họ không nhận ra thực tại thần linh của Người là Con Thiên Chúa Hằng Sống. Họ nhìn Người như một Tiên tri, một Êlia, một Gioan Tẩy Giả, một người chuẩn bị cho nhân loại chứ chưa phải là Thiên Chúa. Bởi vậy câu hỏi thứ nhất: người ta nghĩ Thầy là ai? chỉ là câu hỏi nhập đề để gợi ý thức nơi các môn đệ. Câu hỏi thứ hai quan trọng hơn: Phần các con, các con bảo Thầy là ai? Người không hỏi: anh em nói Thầy đến để làm gì? mà hỏi về chân tính của Người "Thầy là ai". Chúa hỏi một cách chân thành về căn tính của Người với mục đích là để kêu mời các môn đệ đi sâu vào trong tình thân ái của Người trước khi sai phái họ đi.
Ðức Giêsu có thể tuyên bố chân tính của mình thay vì đặt câu hỏi như thế. Nhưng đó không phải là cách hành động của Người. Người không muốn tự giới thiệu mình, tự định nghĩa về mình. Người muốn kẻ khác khám phá mình dần dần và trình bày kết quả. Người muốn được một lời tuyên xưng phát xuất từ một nổ lực tìm hiểu chứ không muốn các môn đệ chứng nhận thụ động một công thức.
Câu trả lời của Thánh Phêrô được 3 tác giả Nhất Lãm ghi lại theo 3 kiểu:
Thầy là Ðức Kitô (Mc 8, 29)
Ðấng Kitô của Thiên Chúa (Lc 9, 20)
Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống (Mt 16, 16)
Qua tước hiệu Kitô, Phêrô tuyên xưng quyền năng mà Ðức Giêsu biểu lộ qua các phép lạ.
Ðấng Kitô của Thiên Chúa diễn tả một cái nhìn sâu xa hơn về nguồn gốc của Ðức Giêsu. Mathêu nối kết cả hai tước hiệu ấy lại: Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.
Lời tuyên tín của Phêrô có một giá trị vững vàng, diễn tả niềm tin duy nhất của các Tông Ðồ.
Ðức Giêsu xác nhận, không phải xác thịt nhưng là Cha trên trời đã ban, soi sáng cho Phêrô: Này anh Simon, con ông Giona, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha Thầy, đấng ngự trên trời.
Chúng ta không có được diễm phúc gặp gỡ Ðức Giêsu, một con người bằng xương bằng thịt, ở giữa loài người, ăn uống ngủ nghỉ, đi đứng nói năng như mọi người; một Ðức Giêsu mà các môn đệ đã từng được mắt thấy tai nghe và sờ tận tay; một Ðức Giêsu mà các ông đã thấy làm phép lạ, nghe Người giảng dạy, chứng kiến Người bị bắt, bị đóng đinh, thấy Người phục sinh.
Các môn đệ biết Thầy mình như một con người, nhưng cuộc sống hành động, cách ăn nết ở, những lời rao giảng, lập trường tôn giáo, nhất là tình yêu thương đối với mọi người, đặc biệt đối với ngươì tội lỗi đã giúp các ông dần dần khám phá ra Người là Ðấng Kitô.
Hôm nay, không ai có thể gặp gỡ Ðức Giêsu Nazareth nữa, vì Người không còn ở giữa chúng ta bằng xương bằng thịt, Người đã "Lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha" Vậy làm sao có thể biết được Người, gặp gỡ được Người?
Không thể biết được Ðức Giêsu nếu chỉ muốn biết Người theo quan điểm thông thường, mà phải biết Người với con mắt đức tin, đón nhận cái biết đó như một hồng ân Thiên Chúa ban tặng vì chính Ðức Giêsu đã nói: "Không ai đến được với Thầy, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho" (Ga 6, 65). Nói cách khác, không phải chỉ đơn thuần là chúng ta tìm đến với Ðức Giêsu, mà chính Người đến với chúng ta, bởi vì Người là Ðấng "Hiện có, đã có và đang tới" (Kh 1, 8).
Ðạo của Ðức Giêsu không chỉ là một đạo lý mà là một Con Ðường, và con đường ấy lại là chính Ðức Giêsu (Ga 14, 6). Ðây không phải là một lý thuyết mà là một con người, vì thế tìm biết Ðức Giêsu không chỉ tìm hiểu lời giảng dạy hay giáo lý của Người mà còn tìm hiểu Người đã sống lời Người rao giảng như thế nào.
Có thể Ðức Giêsu là con người rất đơn sơ giản dị, sống hoà mình với mọi người, không biết đến bất cứ một hình thức kỳ thị hay đối xử phân biệt nào. Trái lại, một trong những nét nổi bật của Người là thích gần gũi, và tỏ lòng ưu ái đối với những kẻ bé nhỏ nghèo hèn, những người tội lỗi, những kẻ bị khinh khi. Tất cả cuộc đời, mọi lời nói và việc làm của Người và cả đến cuộc khổ nạn của Người chỉ tóm gọn trong hai chữ Vì Yêu. Vì Yêu nhân loại mà Người đã đến trong trần gian để ở giữa mọi người. Vì Yêu nhân loại mà Người đã chấp nhận cuộc khổ nạn và cái chết. Chính cái chết Vì Yêu của Chúa trên thập giá đã mạc khải trọn vẹn chân tính của Người là hiện thân của Thiên Chúa, hiện thân của Tình Yêu.
Vì Ðức Giêsu là hiện thân của Tình Yêu Thiên Chúa, nên Thánh Gioan đã nói với chúng ta rằng: chỉ có một cách duy nhất để biết Thiên Chúa, đó là yêu thương anh em (1Ga 4, 7-8). Cũng chính tình yêu huynh đệ ấy sẽ làm cho mọi người nhận biết chúng ta là môn đệ Ðức Giêsu (Ga 13, 35) và tin vào Ðức Giêsu là Ðấng Thiên Chúa đã sai đến trần gian (Ga 17, 21-23).
Chính cộng đồng giáo hội, chính nơi cuộc sống đời thường giữa anh chị em mình mà chúng ta biết và gặp gỡ Ðức Giêsu. Sống yêu thương như Chúa đã yêu là gặp gỡ Chúa và làm chứng nhân cho tình yêu. Những người nghèo hèn bé nhỏ được Chúa ưu ái hơn cả nên gặp gỡ họ là gặp gỡ chính Người vậy.