CHÚA THÁNH THẦN TRONG SỨ MẠNG TÂN PHÚC ÂM HÓA (P.3)& (P.4)

III. THẦN KHÍ SỰ SỐNG

1. Sống thật sự là gì?

1.1. Cuộc sống hiện nay.

Rất nhiều người muốn sống hoàn toàn theo tự nhiên như chim muông, hoa cỏ và hô hào người khác cùng làm nên một kỷ nguyên mới (new age). Người ta thành lập những câu lạc bộ hay bãi tắm không cần mặc quần áo, khuyến khích đi bộ, đi xe đạp thay vì đi xe hơi, xe gắn máy để khói và xăng không gây ô nhiễm không khí, giảm giờ lao động xuống chỉ còn 5 ngày một tuần để có giờ nghỉ ngơi nhiều hơn, buông thả theo mọi nhu cầu của bản năng trong việc ăn uống, vui chơi, yêu đương để khỏi bị các chứng căng thẳng (stress) và mặc cảm theo như lời khuyên của các nhà phân tâm học, ông S. Freud. Thế nhưng càng sống như thế, người ta càng cảm thấy cuộc sống chẳng có ý nghĩa nào cao đẹp. Và cuối cùng, người ta cũng phải chạy trốn chính cuộc sống ấy bằng những viên thuốc an thần, bằng những liều cần sa, ma túy, bằng những ly rượu, chai bia, thậm chí nhiều người còn tự tử để thoát ly.[1] 1.2. Vậy sống là gì?

Sự sống thật sự nơi con người có lý trí, có trái tim, có ý chí không phải chỉ được ăn ngon, mặc đẹp và thỏa mãn tham vọng và dục vọng, nhưng còn là sự hiểu biết, yêu thương, ước muốn những điều tốt đẹp mà người Cha Tạo Hóa đã đăt trong tinh thần của con cái mình qua tiếng nói của lương tâm chân chính. Từ đó, ta hiểu được câu định nghĩa về sự sống của Hardon: “Sống là một hoạt động nội tại, là yếu tính của một hữu thể hoạt động từ bên trong từ sự sống của Thiên Chúa cho đến mỗi dạng sống trong vũ trụ. Bản tính càng cao thì sự sống phát xuất từ hữu thể ấy càng sâu xa” (Hardon, từ điển thần học Công Giáo, 1985). Tuy nhiên, con người chỉ hiểu và sống trọn vẹn sự sống đó nhờ Chúa Thánh Thần vì chính Ngài đã ban sự sống cho tất cả.[2] 2. Chúa Thánh Thần ban sự sống như thế nào?

Tuyên xưng Chúa Thánh Thần là Đấng Ban Sự Sống: ta hiểu rằng sự sống là ân huệ cao quí vô song của Thiên Chúa đối với con người cũng như vạn vật. Khi gặp nguy hiểm đe dọa đến tính mạng, người ta có thể sẵn sàng bỏ tất cả, đánh đổi tất cả, miễn sao giữ được mạng sống mình. Người ta quí chuộng, bảo vệ sự sống nhưng lại không hiểu ai đã ban tặng sự sống đó cho mình để tìm về với nguồn sống ấy và sống dồi dào. Chúng ta thường biết ơn cha mẹ đã sinh ra ta, nhưng cha mẹ chưa phải là nguồn sống. Ông bà tổ tiên cũng không phải là nguồn sống vì tất cả đều đã chết đi dù rằng họ muốn sống lâu dài. Họ chỉ là những người nhận sự sống từ nguồn sống duy nhất chính là Thiên Chúa, vì chỉ có Ngài mới là Đấng Hằng Sống. Vậy Chúa ban sự sống cho ta và muôn loài như thế nào?

2.1. Thiên Chúa ban sự sống cho vạn vật.

Trong sáh Sáng Thế Ký, Thiên Chúa dựng nên muôn loài bằng Lời Ngài phán và Thần Khí Chúa bay là là trên mặt nước (St 1,1). Ngay từ khởi thủy, Lời Thiên Chúa và Thần Khí cùng hoạt động và hòa nhịp với nhau. Giống như ở nơi con người, lời nói và hơi thở phát ra luôn đi đôi với nhau, thì Thiên Chúa cũng dùng Lời để tạo ra vòm trời và dùng hơi thở từ miệng Ngài để tạo ra thiên binh hay các vì tinh tú (Tv 33,6; G 34,14 tt).

Sự sống theo quan điểm Thánh Kinh chính là sự hiện hữu của vạn vật được Thần Khí sống động của Thiên Chúa tác thành chứ không phải chỉ giới hạn riêng nơi các động vật hay nơi con người. Hơi thở sự sống đó tỏa lan khắp mặt đất:

Sinh khí của Ngài, Ngài gửi tới

Là chúng được dựng nên

Và Ngài đổi mới mặt đất này (Tv 103,30).

Vì thế vạn vật luôn luôn sống động: núi đồi nhảy múa, sông hồ vỗ tay…vạn vật vô tri cũng có linh hồn. Đây không phải là quan niệm thần hóa theo kiểu đạo Lão biến thể ở Á Châu từ cây đa, bếp lò cho đến sông núi đều là thần thánh như: “đất có thổ công, sông có hà bá’, mà đây chỉ muốn nói lên ý nghĩa hiện hữu của vạn vật chỉ tìm được trong Thiên Chúa.

Xét về phương diện hữu thể, ta hiểu rằng vạn vật không thể tự nhiên mà có, dù chỉ là một hạt bụi có vẻ như vô tình rơi xuống mặt bàn làm việc của ta. Chúng có mặt, hiện hữu được nhờ Thần Khí của Đấng Tạo Hóa. Ngài đã dựng nên chúng vì chính Ngài là nguồn của hiện hữu.[3] 2.2. Thiên Chúa ban sự sống cho con người.

Nếu Thiên Chúa ban sự sống cho vạn vật nhờ bởi Hơi Thở thổi ra bằng Lời và Thần Khí tiềm ẩn trong vạn vật, thì Ngài lại ban sự sống cho con người một cách đặc biệt. Ngài đã thổi hơi thở sống động của mình vào khối bùn đất bất động để tạo thành con người (St 2,7). Thần Khí ấy làm cho con người trở nên hình ảnh giống như Thiên Chúa (St 1,26-27). Đó là sự sống của một con người đầy tự do, hạnh phúc, khôn ngoan, xinh đẹp và kéo dài mãi mãi vì được chia sẻ hơi thở thần linh của chính Thiên Chúa, nguồn của Chân Thiên Mỹ, của hạnh phúc vô biên và sự sống vĩnh hằng.

Tuy nhiên, con người đã không sống theo Thần Khí của Thiên Chúa và đã nghe theo lời xúi giục của ma quỉ. Chúng cũng dùng lời nói bằng hơi thở xấu xa của chúng để cám dỗ con người và con người bị mê hoặc bởi tà khí này để tự ý cắt đứt mối liên hệ với Thiên Chúa. Do đó, đương nhiên con người cảm thấy mình mất mát tất cả những ân sủng cao quý do Thần Khí mang lại. Con người giống như Ađam cảm thấy xấu hổ vì mình trần truồng (St 3,25). Cuộc sống của con người trở nên tăm tối, nặng nề cho chính mình và cho người khác. Hơn nữa, sự sống của vũ trụ vạn vật, vì gắn bó chặt chẽ với con người, nên “vạn vật bị cưỡng bức lệ thuộc sự hư nát” (Rm 8,20) cùng với con người qua cái chết và sự hủy diệt diễn ra hàng ngày trên trái đất.

Thế nhưng, Thiên Chúa vẫn tiếp tục yêu thương con người và vũ trụ vạn vật. Ngài hứa sẽ ban dồi dào Thần Khí cho tất cả khi thời gian đến hồi viên mãn để phục hồi sự sống thần linh cho tất cả. Thời viên mãn ấy đã đến với Đức Giêsu Kitô. Người là Người Con yêu dấu của Thiên Chúa đã tình nguyện xuống thế làm người để ban thêm đầy tràn Thần Khí của Thiên Chúa cho mọi người, mọi vật trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời”(Jn 3,16; Rm 8,1-2). Như thế sự sống được thăng hoa và ban dồi dào cho tất cả, không phải chỉ là sự sống vào thuở ban đầu, nhưng là sự sống của chính Con Thiên Chúa. Sự sống này được ban nhờ Chúa Thánh Thần. “Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn đều là con cái Thiên Chúa…Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta kêu lên Abba ! Cha ơi !” (Rm 8,14-15).[4] 3. Một con đường chắc chắn để đón nhận Thần Khí Sự Sống.

Chúng ta quả quyết rằng con đường chắc chắn nhất để đón nhận Thần Khí Ban Sự Sống là kết hợp với Đức Giêsu Kitô trong Giáo Hội Công Giáo. Chúng ta có quyền nói lên sự khẳng định này, vì Kitô Giáo khác biệt với các tôn giáo khác ở điểm cơ bản là: trong khi các tôn giáo khác, con người đi tìm Thiên Chúa, thì ở Kitô Giáo, chính Thiên Chúa đi tìm con người trong suốt dòng thời gian và lịch sử. Qua mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa, chính Thiên Chúa đích thân đến nói với con người và vạch đường cho con người tìm đến với Ngài. “Không ai thấy Thiên Chúa bao giờ, nhưng Con Một Thiên Chúa, Đấng hằng ở cung lòng Chúa Cha tỏ cho biết” và chính Đức Giêsu đã khẳng định “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy”(Jn 14,6).

Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể là Đức Giêsu Kitô đã sống dồi dào và sống mạnh mẽ như một con người hoàn hảo, chỉ trừ tội lỗi (Hiến chế mục vụ số 22) vì Người đã kết hợp mật thiết với Chúa Thánh Thần trong từng giây phút sống của đời mình. Mọi hoạt động của Đức Giêsu đều xảy ra và thực hiện trong Thần Khí từ lúc nhập thể cho đến lúc sống lại (Lc 4,1; 4,14; 10,17,20; Mt 4,1; 10,21).

Đức Giêsu Nagiareth là Đấng đến trong Thánh Thần và Người mang Chúa Thánh Thần như ân huệ riêng của chính con người mình để “thông truyền rộng rãi cho tất cả những ai tin vào Người qua Giáo Hội”. Người đã minh chứng sự sống dồi dào và hoàn hảo của mình với Thánh Thần qua những lời rao giảng đầy uy quyền, qua những dấu hiệu lạ lùng để chữa lành bệnh tật, để xua trừ ma quỷ và tác động trên vạn vật. Do đó, muốn sống như Chúa Giêsu, chúng ta cần phải đón nhận Thần Khí của Người đã ban xuống cho Giáo Hội trong dịp lễ Ngũ Tuần và còn được ban liên tục qua các bí tích của Giáo Hội Công Giáo.[5]

Lm. Giuse Đỗ văn Thụy

HỘI THỪA SAI VIỆT NAM

________________________________________

[1] Lm Nguyễn ngọc Sơn, Tĩnh tâm mùa Vọng 1997, Bài giảng năm C, p. 156

[2] Lm Nguyễn ngọc Sơn, Tĩnh tâm mùa Vọng 1997, Bài giảng năm C, p. 159

[3] Lm Nguyễn ngọc Sơn, Tĩnh tâm mùa Vọng 1997, Bài giảng năm C, p. 160-161

[4] Lm Nguyễn ngọc Sơn, Tĩnh tâm mùa Vọng 1997, Bài giảng năm C, p. 162-163

[5] Lm Nguyễn ngọc Sơn, Tĩnh tâm mùa Vọng 1997, Bài giảng năm C, p. 166

CHÚA THÁNH THẦN TRONG SỨ MẠNG TÂN PHÚC ÂM HÓA (P.4)

IV. THẦN KHÍ TÌNH YÊU

Làn khí ta hít vào buồng phổi biến máu đen thành máu đỏ chảy về tim. Tim bơm dòng máu bổ dưỡng đó đi khắp thân thể để nuôi sống từng tế bào, thúc đẩy mọi bộ phận hoạt động. Trái tim còn đập là con người còn sống và bao lâu còn sống, con người còn muốn yêu và muốn được yêu thương. Đó là sự sống tự nhiên ở trong ta. Trong đời sống siêu nhiên, Thần Khí cũng biến dòng máu đen tội lỗi của con người đỏ lại mãi mãi để cùng đập chung một nhịp sống với trái tim của Thiên Chúa vì Thiên Chúa hằng sống cũng là Thiên Chúa yêu thương (1Jn 4,8.16). Thần Khí Sự Sống, do đó, cũng là Thần Khí Tình Yêu.

Người tín hữu chúng ta ngày nay có lẽ chưa hiểu về tình yêu cao cả vô biên vì chưa biết thở hít Thần Khí này của Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta cùng tìm hiểu Thiên Chúa ban Thần Khí Tình Yêu cho chúng ta như thế nào và làm sao để có thể hít thở được Thần Khí này. [1]

1. Thiên Chúa ban tặng Thần Khí Tình Yêu.

1.1. Tình yêu trong đời sống thâm sâu của Thiên Chúa.

“Trong đời sống thâm sâu của chính mình, Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Jn 4,8.16), Tình yêu thuộc bản thể Thiên Chúa và chung cho cả Ba Ngôi. Còn Chuá Thánh Thần là tình yêu bản vị với tư cách là Thần Khí của Chúa Cha và Chúa Con. Vì vậy, “Ngài thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa” (1Cr 2,10), “với tư cách là Tình Yêu – Ân Huệ bất thụ tạo’ (Đức Gioan Phaolô II, thông điệp về Chúa Thánh Thần số 10).

Từ muôn thuở, Thiên Chúa là Tình Yêu. Ngài muốn yêu và muốn được yêu. Ngài đi tìm đối tượng để yêu, nhưng không có ai hay bất cứ cái gì xứng đáng với tình yêu của Ngài. Do đó, Ngài đã yêu chính mình. Đây không phải là tình yêu vị kỷ nhưng nói lên đặc tính của tình yêu là luôn thoát ra ngoài mình để tìm đối tượng cho tình yêu. Nếu không có đối tượng nào xứng đáng thì chủ thể sẽ yêu lại chính mình.

Rồi khi yêu, Thiên Chúa đã trao ban “tất cả” những gì của mình cho người mình yêu. Đó là thiên tính hằng hữu và lập tức Ngôi con được sinh ra, có chung một thiên tính như Ngôi Cha. Chúa Thánh Thần chính là tình yêu trao ban, tình yêu ân huệ của Chúa Cha trao cho Chúa Con.

Chúa Con, trong tư cách là một ngôi vị, là chủ thể, bây giờ yêu ngược lại Chúa Cha và trao ban tất cả những gì của mình cho đối tượng mình yêu. “Những gì đó” cũng chính là thiên tính hằng hữu đã nhận được từ nơi Chúa Cha. Và lập tức, Chúa Thánh Thần phát sinh cách nhiệm mầu từ tình yêu Chúa Cha và Chúa Con trao cho nhau. Như vậy, “có thể nói được rằng trong Chúa Thánh Thần, đời sống thân mật của Thiên Chúa duy nhất và Ba Ngôi hoàn toàn trở thành ân huệ, thành tình yêu hỗ tương giữa Ba Ngôi, và qua Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa “hiện hữu” dưới hình thức ân huệ. Chính Chúa Thánh Thần là ngôi vị biểu lộ một sự tự hiến như thế, biểu lộ Đấng là tình yêu này” (Thông điệp về Chúa Thánh Thần số 10; Thánh Tôma Aquinô, Tổng luận Thần học, I.q. 37-38).[2]

1.2. Tình yêu được ban tặng cho con người.

Đối với con người, tình yêu ấy không tiềm ẩn nhưng được biểu lộ rõ ràng vì Thiên Chúa dựng nên con người giống như Ngài (St 1,26). Ngài dựng nên con người có nam có nữ (St 1,27) để các ngôi vị ấy đi tìm nhau và biểu lộ tình yêu cho nhau như Ba Ngôi Thiên Chúa. Tình yêu chính là tình cảm thắm thiết thúc đẩy người nam, người nữ tìm đến nhau, gắn bó với nhau, hòa nhập thành một trong nhau theo hình ảnh một Thiên Chúa duy nhất. Tình yêu ấy được Thánh Thần đặt vào trong tâm trí con người, để bằng một trái tim duy nhất, con người trải rộng tình yêu đến tất cả: yêu Chúa, yêu người, yêu trời, yêu đất, yêu vạn vật, yêu quê hương, yêu nghề nghiệp…

Tình yêu tuy ở trong con người để tạo nên những khóai cảm thể xác và rung động trong tâm hồn nhưng nó lại vượt quá con người vì không bắt nguồn từ trái tim con người. Phân tích trái tim và bộ óc bằng khoa học tự nhiên, ta cũng chỉ tìm thấy những cấu trúc vật chất tương tự như bất cứ một sinh vật nào. Thế mà con người vẫn đang yêu, đang sống, đang suy tư. Hiểu được tình yêu, sự sống, tư tưởng vượt quá con người để tìm về tận cội nguồn của chúng, ta mới có thể yêu thật sự, sự sống dồi dào và suy nghĩ thanh cao. Tình yêu thật sự là ân huệ cao cả nhất của Thiên Chúa Tạo Hóa.[3]

1.3. Con người phản bội tình yêu Thiên Chúa và không còn thở được Thần Khí Tình Yêu.

Con người nguyên thủy đã khứớc từ Ân Huệ và Tình Yêu của Thiên Chúa (DV 35) và quay trở về với chính mình, lấy mình làm trung tâm của tình yêu. Nhưng một khi cắt đứt với Thiên Chúa là nguồn tình yêu, nguồn sự sống và chân thiện mỹ như một bệnh nhân tự giật đứt ống dưỡng khí và dây dẫn máu vào cơ thể mình, thì đương nhiên con người không thể nào lại không thù ghét con người, thù ghét chính mình và vạn vật, đồng thời con người sẽ phải tàn tạ, xấu xí, sai lầm và cuối cùng phải chết. Đó là do tội nguyên tổ và cũng là tội của từng người chúng ta. Chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể vạch trần tội lỗi từ lúc khởi đầu của loài người, vì Ngài là Tình Yêu của Chúa Cha, Chúa Con và cũng là Ân Huệ bất thụ tạo mà Thiên Chúa muốn thông ban cho con người (DV 35).

Ngay từ khởi đầu, Thiên Chúa đã hứa sẽ cứu độ con người qua hình ảnh người phụ nữ và dòng giống sẽ đạp giập đầu con rắn (St 3). Rồi qua các ngôn sứ Cựu Ước, nhất là ngôn sư Egiêkien: “Thiên Chúa sẽ ban tặng một quả tim mới, sẽ đặt Thần Khí mới vào lòng con người. Ngài sẽ bỏ đi quả tim bằng đá ra khỏi thân mình con người và sẽ ban tặng một quả tim bằng thịt” (Ez 36,25). Lời hứa ấy sẽ được Đức Giêsu Kitô thực hiện sau này trong cuộc tạo dựng mới qua hình ảnh Ađam mới với trái tim mở rộng trên cây thập gía và khi Người gục đầu tắt thở:”Người trao ban Thần Khí” (Jn 19,30).[4]

2. Con người hiện nay chưa thở hít Thần Khí Tình Yêu.

2.1. Con người gặp những thách đố về tình yêu.

Con người ngày nay, bị ảnh hưởng bởi học thuyết của Sigmund Freud và chạy theo lối sống văn minh hưởng thụ, đang muốn tháo gỡ tính dục khỏi mọi quy luật luân lý khách quan. Người ta giản lược tính dục thành một trò chơi, thành một món hàng tiêu thụ như ta đang thấy những người nước ngoài đổ xô đến các nước Á Châu như Thái Lan, Indonêsia, Malaxia và cả Việt Nam để mua vui. Hơn nữa, các phương tiện truyền thông xã hội như báo chí, phim ảnh, internet lại bị xếp đồng lõa với nền văn hóa này với bao hình ảnh gợi dục, dâm loạn đồi trụy.

Vì con người còn hiểu lầm tình yêu là tình dục nên sống buông thả theo những đòi hỏi của xác thịt mà quên đi những yêu cầu về tinh thần. Người ta sợ rằng nếu không thỏa mãn những đòi hỏi ấy, tinh thần con người sẽ bị dồn nén, bị khủng hoảng và không phát triển toàn diện về tâm lý, chứ không hiểu rằng con người là một với linh hồn và thể xác, nên cả hai phần đều cần phải phát triển đồng đều (GS 14).

Hiểu lầm như thế nên người ta chỉ đi tìm những cách thức, những vỉ thuốc, những dụng cụ, những tư thế làm tình thế nào cho đạt được những khoái cảm tột đỉnh, mà bỏ qua sự hòa hợp tâm hồn. Kết quả là tình yêu chân thực không thể nào phát triển trong tâm hồn con người, vì họ không thở hít được Thần Khí Tình Yêu của Chúa Thánh Thần dù con người không ngừng nói đến hoặc ca ngợi tình yêu. Hơn nữa, những tội ác xúc phạm đến tình yêu này lại kéo theo tội ác xúc phạm đến sự sống với các bào thai bị giết ngay trong bụng mẹ, với nhiều cuộc sát hại vì những cuộc tranh giành gái đẹp, hay những trò say sỉn do ma túy, cần sa để có thể gây kích thích hoặc kéo dài thời gian làm tình.[5]

2.2. Con người cần phải học lại bài học tình yêu.

Chỉ có Chúa Thánh Thần là đấng yêu thương mới có thể dạy chúng ta hiểu biết trọn vẹn về tình yêu Thiên Chúa. Nhờ Chúa Thánh Thần, con người sẽ đặt tình yêu vào vị trí trung tâm của đời sống, chứ không phải tiền tài, danh vọng, sắc đẹp. Vì con người được tạo dựng bởi tình yêu Thiên Chúa, nên “tình yêu là ơn gọi của con người”(Đức JP II, thư gới các gia đình, 1995, số 13). Càng đặt tình yêu và đúng trung tâm và đích điểm của đời sống, con người càng sống trong bình an, niềm vui và hạnh phúc, vì ai yêu và được yêu một cách đứng đắn đều cảm nhận được hạnh phúc.[6]

2.3. Cảm nghiệm được tình yêu của vạn vật.

Hơn nữa, nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn, con người còn cảm nhận được tình yêu tiềm ẩn của vạn vật để yêu lại chúng, thăng hoa chúng và dẫn đưa chúng vào cuộc sống vĩnh hằng của đại gia đình con cái Thiên Chúa.Thật vậy, vạn vật yêu quí sự sống không thua kém con người. Một con giun dù bị ta vô tình đạp trúng đứt làm hai, vẫn cố lê nửa phần còn lại về nơi đất ẩm. Một thân cây dù bị chặt ngang, vẫn cố nhu ra những chồi lá non. Thế mà trong mỗi bữa ăn, biết bao nhiêu tôm cá, rau củ đã sẵn sàng hy sinh mạng sống cho con người chỉ vì chúng yêu con người, muốn con người sinh tồn bằng chính sự sống của chúng để con người ca tụng Tạo Hóa thay cho chúng. Chúng mong ước được sống mãi mãi nhờ con người, vì chỉ có con người mới có thể sống mãi do tình thần vượt lên trên cả vật chất, không gian và thời gian.

Tuy nhiên, nhiều khi con người đã không cảm nhận được tình yêu vạn vật và xem chúng như những phương tiện để thỏa mãn cho lòng ích kỷ bạo tàn hay tham vọng vô bờ bến của mình. Con người cần phải nhìn lại vạn vật như những đứa em nhỏ trong đại gia đình Thiên Chúa vì Thiên Chúa muốn qui tụ tất cả những đứa con tản mát về một mối nhờ Đức Giêsu Kitô là anh cả giữa một đàn em đông đúc (Rm 8,29). Bằng tấm lòng rộng mở, con người chúng ta mới có thể hát lên “bài ca thụ tạo’ như thánh Phanxicô nghèo khó với cách xưng hô như: anh mặt trời, chị mặt trăng, em sơn ca, em cúc, em hồng…Có tình yêu mãnh liệt của Chúa Thánh Thần, ta mới có thể “rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,16), mới truyền cho gío yên biển lặng, bánh cá hóa nhiều như Đức Giêsu Kitô, mới đưa vạn vật chung hưởng sự sống vĩnh hằng với ta qua những sinh hoạt tiếp xúc hằng ngày trong đời sống trên trần thế này.[7]

Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy

HỘI THỪA SAI VIỆT NAM

________________________________________

[1] Lm Nguyễn ngọc Sơn, Tĩnh tâm mùa Vọng 1997, Bài giảng năm C, p. 169