Nền văn hóa Mẹ sản sinh ra nền văn hoá bầu bí. Nhắc đến văn hoá Mẹ là giống như mưa lớn gặp lúc triều cường tràn ngập nhiều miền vùng khác nhau. Văn hoá Mẹ là nền văn hoá tình thương, trọng tình hơn trọng lý. Có thể sánh ví Tình Yêu ấy là Tình Yêu Sáng Tạo, chính trong Tình Yêu Sáng Tạo mà các Thọ Tạo tìm thấy hạnh phúc trong yêu thương và được bảo tồn.

Dân gian tin rằng cả một nước là một đại gia đình, cùng chung huyết thống, cùng chung mái nhà Việt Nam. Dù thuộc sắc tộc này hay sắc tộc kia, họ đều có một mái nhà chung Việt Nam, một đất Mẹ nuôi nấng. Họ được gắn kết với nhau bằng dòng sữa Mẹ ngọt ngào ấy, nên rằng, người ta vẫn thường hằng khuyên nhau: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống mà chung một giàn”. Từ tâm lý hướng về Mẹ, người Việt đi đến triết lý Mẹ, Mẹ là người gia trưởng chứ không phải là cha. Luân lý phụ quyền là ảnh hưởng của Nho Giáo sau này.

Theo nguyên lý phát sinh, Mẹ là cội nguồn sinh ra các con cái, mẹ là người nuôi dưỡng, mẹ là người dạy dỗ, là người chăm sóc những đứa con từ mới sanh cho đến khi tới mộ. Không chỉ con người mới có mẹ, những vật vô tri vô giác kia cũng có mẹ: Mẹ đất, mẹ nước, mẹ lúa, mẹ rừng, mẹ sông, mẹ suối…Mẹ hiện diện khắp nơi, có mẹ mới có gia đình, đạo lý dân Việt là ở đó.

Từ văn hoá Mẹ lan rộng và ảnh hưởng sâu xa trong tâm thức dân Việt như ta thấy. Vào buổi sơ khai, những khi chưa có ngành khoa học phát triển để chống lại sự dữ, nguyên lý Mẹ trở thành bảo pháp, che chở, phù trì cho con cái. Mẹ, vì thế mang một uy quyền, sự dữ có mạnh như sóng gió nhưng cũng khép mình với mẹ sông, dã thú dù có hung tàn vẫn phải khép mình với mẹ núi. Chính vì thế mới có những thần sấm của đạo nhân nghĩa được vang lên bên bờ Sông Như Nguyệt: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”. Triết lý Mẹ sản sinh ra lối sống hài hoà, yêu chuộng hoà bình, lấy nhân nghĩa để xử thế, đem con tim mà cai quản muôn dân. Lịch sử xưa nhiều lần ghi chép, mặc dầu khi chiến thắng quân Trung Hoa trên Đất Việt, vẫn đồng ý cống nạp những tượng vàng để đổi lấy an bình cho bờ cõi. Đã không hằn thù nhưng còn nối những mối tình giao hảo. Đã không trả thù nhưng còn kết mối thâm giao. Tình yêu làm nên những trang sử kỳ vĩ ấy, đúc kết trong thần sấm tại sông Như Nguyệt. Chỉ có khát mong hoà bình là lớn hơn tất cả mọi khát mong. Nếu khi ta đọc đoạn Tin Mừng: Người thanh niên giàu có hỏi Chúa Giêsu một điều mà anh hằng khao khát: Làm sao để sống sự sống đời đời, thì nền văn hoá Mẹ của Việt Nam đã sẵn có tấm lòng về bán tất cả những gì anh có (Những hiềm thù, báo oán, giận hờn, căm phẫn, lọc lừa, dối trá…) để đổi lấy hoà bình.

Mẹ trở thành tín ngưỡng của dân Việt, ngọn nguồn và giáo lý của tín ngưỡng ấy thì mênh mông, không thể liệt kê, bởi vì, người Việt không theo đạo nhưng sống đạo. Sống đạo, chính vì thế mà không thể giới hạn chiều sâu, rộng, tầm cao, thấp nhưng bàng bạc trong đời sống, hình thành nên văn hoá bầu bí.

Xem xét hệ thống thần linh trong Tứ phủ, ngoài những nét độc đáo của các mẫu còn có bên cạnh các cô, các cậu chết trẻ, những vị anh hùng liệt sỹ hy sinh vì đất nước, kể cả những người chỉ hình thành từ hư cấu những câu chuyện dân gian như bà Lê Mại Đại vương, cô Cam Đường, Bắc Lệ, Ba Bông, bà Ngự Tân… Mẹ có ở khắp nơi, nơi đâu mà không có mẹ. Và ở đâu có Mẹ, người ta tin tưởng ở đấy có sự an bình.

Mẹ trở thành nguyên lý, Mẹ trở thành con đường của Đạo, hình thành tín ngưỡng Đạo Mẫu. Mẫu đạo thì không: “Kính nhi viễn chi”, nghĩa là không “càng kính bao nhiêu càng đứng xa bấy nhiêu để mà kính”. Mẫu đạo là chạy đến, là gần gũi, muốn đến tận nơi được chở che trong lòng Mẹ, được vòng tay Mẹ ôm ấp. Văn hoá Mẹ, dù không “kính nhi viễn chi” nhưng vẫn không làm mất đi lòng hiếu kính. Ta có thể nghe lời kinh hiếu biểu lộ ấy qua dòng thơ Ave Maria của Hàn Mặc Tử:

“Như sóng lộc triều nguyên ơn phước cả.

Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng.

Thơm tho bay cho đến cõi thiên đàng.

Huyền diệu biến thành muôn kinh trọng thể”…

Chất liệu của thờ kính thuộc về trần thế, và tấm lòng của hiếu kính hoá vàng trong huyền diệu của cõi linh thiêng. Cõi linh thiêng không cách xa cõi trần thế mà ngay ở trong lòng, phát lộ ra trong lời kinh trên môi miệng.

Nên rằng, tín ngưỡng không chỉ dừng lại ở hình thức cúng bái, trong tín ngưỡng đạo mẫu còn có cả những nét sinh hoạt được diễn ra bằng nghệ thuật hoặc bằng những diễn đạt qua những điệu múa, bằng những áng bản chầu văn. Nếu có dịp đi xem một bản giá đồng, ta có cảm tưởng như đi xem một vở kịch, một điệu múa, mà ngôn ngữ ở đây chủ yếu là các động tác. Bằng ngôn ngữ không lời ấy mới có thể bắt gặp được mối giao cảm tiên trần, giải thoát con người khỏi những trần tục vương mắc. Nội dung của các bài chầu văn ấy nhắm về giáo dục tình yêu, khi thì gợi nhớ tình thuỷ chung, khi thì gợi nhớ những đức hạnh của một người nữ, khi thì biểu hiện chữ nhẫn để nêu nét kiên trung…Tất cả những nét đặc trưng ấy biểu đạt một nền luân lý, lấy nhân nghĩa đễ cư xử, lấy luân thường làm đạo lý…Tất cả những bài học ấy nhằm giáo dục một cộng đồng biết sống yêu thương đùm bọc, để xây dựng mối ấm êm từ trong gia đình đến xã hội. Sự thanh bình ấy được diễn tả qua các đặc trưng dạo chơi trên những du thuyền, bềnh bồng thả trôi trên con nước, lãng du trên những bình nguyên. Những ý niệm ấy tràn khắp cả các đoạn văn chầu, đó là biểu hiện của một tâm hồn thanh bình không vương tội ác, yêu lắm sắc màu thiên nhiên và thương lắm cuộc đời.

Thử tìm nội dung tuy muộn thời của vài bài giáng bút, ta sẽ thấy những điều đó được tỏ lộ:

“Muốn cho trai gái thảo hiền

Mọi điều dạy bảo phải chuyên đêm ngày

Và nghe người nói xưa nay

Uốn cây nên uốn những ngày còn non

Dạy con từ thưở còn son

Đến khi cả lớn, ắt khôn hơn người

Dạy ăn, dạy nói, dạy cười

Dạy đi thong thả, dạy ngồi nết na.”

Dạy các điều luân lý nhưng lại liên hệ những bậc anh hùng trong sử sách thì thường có nhắc:

“Chuyện bà Trưng thưở trước

Chuyện chị Triệu khi xưa

Hỏi em đã nghe chưa

Biểu trung trinh lừng lẫy

Tiếng anh hùng lừng lẫy…”

Mẹ là nguồn cội, nên cũng là nơi bắt đầu sự sống và đạo lý của làm con là Uống nước nhớ nguồn và truyền thống ấy làm nên những văn hoá khác nhau mà sẽ muôn đời ghi nhớ khắc sâu.

Khi nói đến văn hoá Mẹ, thì không dễ gì cho bằng để triển khai Tình Yêu của Thiên Chúa trong nền văn hoá ấy.