ƠN GỌI VÀ SỨ MẠNG CỦA GIÁO DÂN TRONG GIÁO HỘI VÀ TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY

A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

Giúp các học viên tái khám phá những điểm chính yếu thuộc ơn gọi và sứ mạng của mình trong Giáo Hội cũng như trong thế giới. Để anh chị em xác tín hơn và dấn thân cách trưởng thành hơn.

B. TIẾP CẬN VẤN ĐỀ

1. Ngày nay người ta thường nói “Giáo dân là Mùa Xuân của Giáo Hội” “Thiên niên kỷ thứ III là thiên niên kỷ của Giáo dân”. Anh chị có cảm nghĩ gì khi nghe những câu nói đó?

2. Phẩm giá của giáo dân xuất phát từ đâu? Làm sao để mọi người trân trọng phẩm giá ấy?

3. Theo anh chị Giáo Hội và hàng giáo dân Việt Nam phải làm gì để giáo dân trở thành Mùa Xuân của Giáo Hội? Giáo Hội và hàng giáo dân phải làm gì để thiên niên kỷ thứ III này là thiên niên kỷ của Giáo dân?

C. HỌC HỎI THÁNH KINH & CÔNG ĐỒNG

Trước khi tìm hiểu học hỏi về nền tảng Lời Chúa và giáo huấn của Công Đồng Vatican II về người giáo dân, chúng ta hãy nhìn qua quan niệm sai lầm trước đó để thấy rõ hơn cuộc Cách Mạng thiêng liêng mà Công Đồng Vatican II đã thực hiện.

I. QUAN NIỆM SAI LẦM, HẸP HÒI, MIỆT THỊ GIÁO DÂN TRƯỚC CÔNG ĐỒNG VATICAN II:

Nhìn vào lịch sử Giáo hội trong những gì liên quan tới giáo dân (bài đọc thêm), chúng ta có cảm tưởng Giáo hội đã đi một vòng tròn “khó hiểu”: sau hai mươi thế kỷ, Giáo hội lại trở lại đúng khởi điểm thuở ban đầu. Nói cách cụ thể: sau hai mươi thế kỷ, người giáo dân tìm lại được căn tính riêng của mình và căn tính ấy được toàn Giáo hội nhìn nhận và trân trọng. Quả vậy, ngay từ lúc hình thành, Giáo hội đã rất coi trọng mọi Kitô hữu, không hề có phân biệt giữa giáo sĩ và giáo dân. Nhưng nhiều thế kỷ sau đó, người giáo dân như bị “xuống giá” cách trầm trọng. Phải mãi cho đến thế kỷ XX và nhất là tới Công Đồng Vatican II (1962-1965), gía trị người giáo dân mới được phục hồi.

1.1 Bản tổng hợp giáo luật khoảng năm 1140:

Giáo dân là những người được phép lấy vợ, canh tác, kiện tụng, cúng tiền vào nhà thờ, nộp thuế thập phân. Dù vậy, họ vẫn được cứu rỗi nếu họ làm lành lánh dữ

1.2 Bộ giáo luật năm 1917:

Điều 107: “Giáo dân là người không phải là giáo sĩ”

Điều 682: “Giáo dân là những người nhận từ hàng giáo phẩm những ơn ích thiêng liêng và nhất là những trợ lực cần thiết cho sự cứu rỗi

1.3 Ngay cả Công Đồng Vatican I cũng chưa quan tâm đến giáo dân. Công Đồng này trong thời gian chuẩn bị có 18 lược đồ liên quan tới bậc tu trì và có 28 lược đồ liên quan tới cơ chế Giáo Hội. Thế mà chỉ 1 trong 28 lược đồ này đề cập đến người giáo dân, với một tựa đề dài lê thê: “Việc chỉnh đốn lại luân lý quần chúng, đặc biệt là trước những vấn đề nguội lạnh, lộng ngôn, say sưa, dâm dục, ca kịch, khiêu vũ, xa hoa, truyền bá hình ảnh và sách vở đồi trụy, giáo dục con cái, thợ thuyền, tôi tớ, thánh hóa các ngày lễ, đấu kiếm, tự sát, đồng bóng, những tổ chức bí mật

II. NỀN TẢNG LỜI CHÚA

* ”Tất cả chúng ta đã được rửa tội trong một Thánh Thần độc nhất để làm thành một Thân Thể” (1 Cr 12,13);

* “Anh em là Thân Thể Chúa Kitô, vì mỗi người đều là chi thể” (1 Cr 12,27);

* “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên:”Ap-ba Cha ơi”. Vậy anh em không còn phải là nô lệ, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” (Gl 4,6-7; Rm 8,15-16).

III. GIÁO HUẤN CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II VỀ GIÁO DÂN

3.1 Định nghĩa (“thế nào là người giáo dân?):

3.1.1 Công ĐồngVatican II đã đưa ra định nghĩa “mới” và “tích cực” về giáo dân trong mối quan hệ trực tiếp của người ấy với Chúa Giêsu Kitô, với Giáo hội của Người:

Giáo dân là những đã được tháp nhập vào Thân Thể Chúa Kitô, nhờ Phép Rửa Tội, đã trở nên Dân Chúa và tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương gỉa của Chúa Kitô theo cách của họ. họ là những người đang thực hiện sứ mệnh của toàn dân Kitô giáo trong Hội Thánh và trong thế giới theo phận vụ riêng của mình. Tính cách trần thế là tính cách riêng biệt và đặc thù của giáo dân” (Hiến Chế tín lý về Giáo Hội, số 31).

3.1.2 Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân nhắc lại quan điểm của Đức Pio XII:

Đức Giáo Hoàng Pio XII đã khẳng định: các tín hữu và chính xác hơn, các giáo dân, có mặt ở hàng ngũ tiên phong trong đời sống Giáo hội; nhờ đó, Giáo hội trở thành nguyên lý sống động cho xã hội nhân loại. Chính vì thế họ là những người trước hết phải có ý thức luôn luôn sáng suốt rằng không những mình thuộc về Giáo hội, mà còn là chính Giáo hội, tức là cộng đoàn tín hữu trên trần gian, dưới sự lãnh đạo của một vị thủ lãnh chung là Đức Giáo Hoàng và các vị Giám mục hiệp thông với ngài. Người giáo dân là Giáo hội

(Đức Pio XII, Diễn từ đọc trước các tân Hồng y ngày 20.2.1946, AAS 38, 1946,149; Kitô hữu giáo dân, số 9)

3.2 Phẩm giá và sự bình đẳng của giáo dân:

Công Đồng đã đề cập đến nền tảng khiến mọi Kitô hữu có cùng phẩm gía và bình đẳng với nhau:

Chỉ có một Thiên Chúa, một đức tin, một phép rửa, một dân Thiên Chúa, cùng chung một phẩm giá của những chi thể đã được tái sinh trong Đức Kitô, cùng có một ân huệ làm con cái Thiên Chúa, một ơn gọi nên trọn lành, một ơn cứu độ và một niềm hy vọng duy nhất và một đức ái không phân chia.Vì thế trong Đức Kitô và trong Giáo Hội, không còn có sự hơn kém vì nguồn gốc hay dân tộc, vì địa vị xã hội hoặc vì nam nữ” (Hiến Chế tín lý về Giáo Hội, số 32).

Tất cả mọi người bình đẳng thực sự, bình đẳng về phương diện phẩm giá và hoạt động chung của mọi tín hữu để xây dựng Thân Thể Chúa Kitô.

3.3 Ơn gọi nên thánh của giáo dân:

Công Đồng khẳng định mọi Kitô hữu đều được mời gọi nên thánh:

Tất cả mọi người trong Giáo Hội đều được kêu gọi nên thánh, như lời Thánh Tông Đồ dậy: “Vì Thiên Chúa muốn anh em được thánh hóa….Chúa Kitô, Thầy dậy và mẫu mực thần linh của mọi sự trọn lành, đã giảng dậy cho tất cả và cho mỗi một môn đệ bất luận thuộc cảnh vực nào, một đời sống thánh thiện mà chính Người vừa là Đấng ban phát, vừa là Đấng hoàn tất: Vậy các con hãy trở nên trọn lành như Cha các con ở trên trời” (Mt 5,48). Bởi vậy Người sai Thánh Thần đến với mọi người, để từ bên trong Ngài thôi thúc họ yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn cùng hết sức ho (x. Mc 12,30) và yêu thương nhau như Chúa Kitô yêu thương họ (x. Ga 13,34; 15,12). Vì thế mọi người đều thấy rõ ràng tất cả các Kitô hữu, bất cứ theo bậc sống hay địa vị nào đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô giáo và đến sự trọn lành của đức Ái” (Hiến Chế tín lý về Giáo Hội, số 39 và 40).

3.3 Con đường nên thánh của Giáo Dân:

Nếu các linh mục, tu sĩ có con đường nên thánh của họ, thì giáo dân cũng có con đường nên thánh của mình, xuyên qua các thực tại mà họ sống. Sau đây là đôi nét về con đường nên thánh của giáo dân:

3.3.1 Sống kết hợp với Đức Kitô:

Đời sống của bất kỳ Kitô hữu nào cũng phải bắt nguồn từ chính Chúa Giêsu Kitô, gắn bó chặt chẽ với Người. Nhưng sự kết hiệp của người giáo dân với Đức Kitô có nét riêng là bắt nguồn từ các buổi cử hành phụng vụ và kéo dài qua cuộc sống, xuyên qua những giờ phút suy niệm và cầu nguyện và nhất là phải trải rộng trong thế giới, trong môi trường nghề nghiệp, trong gia đình. “Phàm điều gì anh em làm, ngôn hành bất luận, mọi sự hết thảy hãy làm vì Danh Chúa Giêsu, và nhờ Ngài, hãy cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Cr 3,17).

3.3.2 Đời sống Tin Cậy Mến (Nhân đức đối thần)

(1) Chỉ trong ánh sáng đức tin và suy niệm Lời Chúa mới có thể giúp ta:

* nhận ra Thiên Chúa mà “trong Ngài ta sống, ta cử động, ta có” (Cv 17,28),

* tìm kiếm ý muốn Ngài trong mọi sự,

* thấy Chúa Kitô trong mọi người, cả kẻ quen và người lạ,

* phê phán đúng đắn về ý nghĩa đích thực và gía trị của các thực tại trần thế, xét nơi bản thân chúng cũng như trong tương quan của chúng với cứu cánh của con người.

(2) “Trong khi tưởng niệm Thánh Gía và sự Phục Sinh của Chúa, những người có đức tin ấy, sống trong niềm Hy Vọng một ngày kia sẽ được tỏ ra là con cái của Thiên Chúa

Trong cuộc sống lữ hành này, họ được giấu ẩn trong Thiên Chúa cùng với Đức Kitô và được giải thoát khỏi nô lệ của cải vật chất để tìm kiếm những của cải sẽ còn mãi đến sự sống đời đời, họ quảng đại đem hết sức lực mở rộng Nước Thiên Chúa và đem tinh thần Tin Mừng thấm nhuần và hoàn thiện các thực tại trần thế

(3) “Lòng yêu thương phát xuất từ Thiên Chúa thúc đẩy họ làm việc thiện cho hết mọi người, nhất là những anh em cùng một đức tin, cởi bỏ mọi sự xấu xa, mọi thứ gian giảo và gỉa hình, ghen tương, và những lời gièm pha, và như vậy họ lôi kéo mọi người đến với Đức Kitô

3.3.3 Trong tinh thần Bát Phúc

“…..Lòng mến của Thiên Chúa đã được đổ xuống lòng ta nhờ bởi Thánh Thần Ngài đã ban cho ta (Rm 5,5) làm cho giáo dân có sức biểu lộ tinh thần các Mối Phúc Thật cách cụ thể trong đời sống của họ:

- theo chân Đức Giêsu nghèo khó, họ không nản lòng khi thiếu thốn, cũng không kiêu căng khi dư dật;

- bắt chước Đức Kitô khiêm hạ, họ không háo danh (Gl 5,26), họ chuyên lo làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn là làm đẹp lòng người ta;

- và chịu bách hại vì công chính; vì nhớ Lời Chúa:”Nếu ai muốn đi sau Ta, thì hãy chối bỏ chính mình, vác lấy khổ giá của mình và hãy theo Ta” (Mt 16,24);

- “ Sống với nhau trong tình thân hữu Kitô giáo, họ sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau khi cần thiết

3.3.4 Mỗi người trong điều kiện sống của mình

Công đồng nhấn mạnh: “Con đường nên thánh của giáo dân phải mang sắc thái đặc biệt tùy theo cảnh sống: hôn nhân và gia đình, độc thân, góa bụa, đau yếu, sinh hoạt nghề nghiệp và xã hội

Trong Giáo Hội có nhiều con đường tu đức do các vị thánh khởi xướng. Người giáo dân có thể học ở các “linh đạo” ấy những gì thích hợp với mình. Nhưng điều quan trọng nhất là “họ cần hết sức coi trọng khả năng chuyên môn, ý thức gia đình và ý thức công dân cũng như những đức tính liên quan tới đời sống xã hội (sự lương thiện, tinh thần công bình, lòng thành thực, nhân hậu, quả cảm). Không có những đức tính ấy, không thể có đời sống Kitô hữu đích thực được

3.4 Tính “trần thế”: nét riêng biệt và đặc thù của Giáo Dân:

Vì ơn gọi riêng, người giáo dân có bổn phận tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách đảm nhận các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và nghĩa vụ của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội: tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ. Đó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Am, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình; và như thế, với lòng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là với bằng chứng đời sống, họ bộc lộ Chúa Kitô cho kẻ khác. Chính họ là người có nhiệm vụ đặc biệt phải soi sáng và xếp đặt những thực tại trần gian có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng phát triển và ngày một phong phú hơn lên theo Thánh Ý Đức Kitô, hầu ca tụng Đấng Sáng Tạo và Cứu Độ

(HC tín lý về Giáo Hội, số 31).

3.5 Ơn Gọi làm Tông Đồ của Giáo Dân:

Giáo Hội được khai sinh là để làm cho Nước Chúa Kitô rộng mở trên khắp hoàn cầu, hầu làm vinh danh Thiên Chúa Cha; tức là làm cho mọi người tham dự vào việc chuộc tội và cứu rỗi, để rồi nhờ họ, toàn thể vũ trụ thực sự được qui hướng về Chúa Kitô. Mọi hoạt động của Nhiệm Thể hướng về mục đích này gọi là việc tông đồ, công việc mà Giáo Hội thực hiện nhờ tất cả các chi thể, tùy theo những cách thức khác nhau. Bởi vì ơn gọi làm Kitô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ

(Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân, số 2).

Giáo dân có bổn phận và quyền làm tông đồ do chính việc kết hợp với Chúa Kitô là Đầu. Họ được chính Chúa chỉ định làm việc tông dồ, vì phép Rửa Tội sát nhập họ vào Nhiệm Thể Chúa Kitô, phép Thêm Sức làm cho họ nên mạnh mẽ nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Họ được thánh hiến vào chức vụ tư tế, vương gỉa và dân tộc thánh (x. 1P2, 2-10), hầu trong mọi việc họ dâng những lệ vật linh thiêng và làm chứng cho Chúa Kitô ở mọi nơi trên hoàn cầu

(Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân, số 3).

3.6 Ba lãnh vực của Tông Đồ Giáo Dân:

3.6.1 Phúc âm hóa và thánh hóa con người:

Sứ mệnh của Hội Thánh nhằm cứu độ con người, sự cứu độ nhờ đức tin vào Chúa Kitô và nhờ ân sủng Người ma thành đạt được. Vậy việc Tông đồ của Giáo Hội và của tất cả các chi thể trong Giáo Hội trước hết nhằm loan báo Phúc Âm Chúa Kitô bằng lời nói, việc làm và nhằm chuyển thông ân sủng của Người cho trần gian. Công việc này được thực hiện nhất là do chức vụ giảng dậy và ban các bí tích, đặc biệt được trao cho hàng giáo sĩ, trong chức vụ đó, cả giáo dân cũng phải hoàn tất phần quan trọng của mình là để trở nên “những kẻ hợp tác với chân lý” (3 Ga 8). Nhất là trong lãnh vực này, việc tông đồ giáo dân và nhiệm vụ chủ chăn bổ túc cho nhau.

Người giáo dân có rất nhiều cơ hội làm việc tông đồ rao giảng Phúc Am và thánh hóa. Chính chứng tá của đời sống Kitô và những việc lành được làm với tinh thần siêu nhiên có sức lôi kéo người ta đến đức tin và đến với Thiên Chúa, vì Chúa phán: “Sự sáng các con phải soi trước mắt người ta, như vậy để họ xem thấy việc lành các con mà ngợi khen Cha các con ở trên trời” (Mt 5,16)

Tuy nhiên việc tông đồ này không chỉ ở tại việc làm chứng bằng đời sống. Người tông đồ đích thực còn tìm dịp loan truyền Chúa Kitô bằng lời nói hoặc cho người chưa tin để đưa họ đến đức Tin, hoặc cho tín hữu để giáo huấn họ, củng cố và thúc đẩy họ sống sốt sáng hơn vì “tình yêu Chúa Kitô thôi thúc chúng ta” (2 Cr 5,14) và trong lòng mọi người phải âm vang lời Thánh Tông Đồ: “Thật khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Am (1 Cr 9,16).”

(Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân, số 6).

3.6.2 Canh tân trật tự trần thế:

Giáo dân thực sự thi hành việc tông đồ bằng công việc của mình để rao giảng Phúc Âm và hoàn hảo hóa những việc thuộc phạm vi trần thế, sao cho công việc của họ thuộc lãnh vực này làm chứng tỏ tường về Chúa Kitô và góp phần vào việc cứu độ nhân loại. Vì bản chất riêng biệt của người giáo dân là sống giữa đời và làm việc đời nên chính họ được Thiên Chúa mời gọi để một khi tràn đầy tinh thần Kitô giáo, họ làm việc tông đồ giữa đời như men trong bột

(Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân, số 2).

3.6.3 Hành động bác ái, dấu ấn của việc tông đồ:

Mọi hoạt động tông đồ phải bắt nguồn và lấy sức mạnh từ đức bác ái. Nhưng một vài công việc tự bản chất của chúng có thể biểu lộ tình yêu cách sống động. Chúa Kitô đã muốn những việc đó là dấu chỉ của sứ mệnh cứu độ (x. Mt 11,4-5).

Giới răn quan trọng nhất trong lề luật là yêu mến Thiên Chúa hết tâm hồn và yêu tha nhân như chính mình (x. Mt 22,37-40). Thật vậy, Chúa Kitô đã làm cho giới răn bác ái đối với tha nhân thành một giới răn riêng của Người và mặc cho nó một ý nghĩa mới phong phú hơn, khi Người muốn đồng hóa mình với anh em như chính đối tượng của bác ái, Người nói: ”Bao nhiêu lần các ngươi làm những việc dó cho một trong những người hèn mọn là anh em Ta đây, tức là các ngươi làm cho Ta vậy” (Mt 25,40)….Và Người đã dùng đức ái làm dấu hiệu riêng của các môn đệ Người, khi Người nói: ”Nếu các con yêu thương nhau, thiên hạ cứ dấu ấy mà nhận biết các con là môn đệ Thầy” (Ga 13,35).

Ngày nay công cuộc bác ái có thể và phải nhắm tới tất cả mọi người và mọi nhu cầu. Ở đâu có người thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu nhà ở, thiếu thuốc men, thiếu việc làm, thiếu giáo dục, thiếu các phương tiện cần thiết để sống xứng danh con người, ở đâu có người đau khổ vì nghịch cảnh, ốm yếu, chịu cảnh lưu đầy, tù ngục, thì ở đó bác ái Kitô giáo phải tìm gặp, ân cần săn sóc, ủi an và xoa dịu họ bằng những trợ giúp thích đáng

(Sắc lệnh Tông Đồ Giáo Dân, số 8).

3.6.4 Trong chiều hướng của Hội Thánh:

Việc tông đồ giáo dân, cá nhân hay tập thể, phải được đặt vào đúng chỗ trong công cuộc tông đồ của toàn thể Hội Thánh. Hơn nữa điều cốt yếu của việc tông đồ Kitô giáo là liên kết những người đã được Chúa Thánh Thần đặt lên chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa. Việc cộng tác giữa các tổ chức tông đồ khác nhau rất cần thiết, cần phải có tôn trọng và phối hợp hài hòa…”

IV. MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA GIÁO DÂN VÀ GIÁO SĨ, GIÁO PHẨM

Nói đến mối tương quan giữa giáo dân và giáo sĩ, giáo phẩm là một điều hết sức tế nhị, vì rất dễ đụng chạm và bị hiểu lầm. Nhưng chúng ta cũng không có gì phải sợ mà tránh né, vì chúng ta cũng chỉ làm công việc là học hỏi các hướng dẫn của Công Đồng Vatican II. Mặt khác chính khi xác định được mối tương quan giữa giáo dân với giáo phẩm mà chúng ta biết rõ gía trị của mình hơn.

Công đồng Vatican II nói rất rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của người giáo dân trong mối tương quan với hàng giáo phẩm, giáo sĩ. Chúng ta có thể tìm thấy trong Hiến Chế tín lý về Giáo Hội (số 37), trong Sắc lệnh về Chức vụ và Đời sống các linh mục (số 6). Ngoài ra chúng ta còn tìm thấy trong Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân của Đức Gioan Phaolô II (II,29):

4.1 Hiến Chế tín lý về Giáo Hội, số 37 xác định quyền lợi và nghĩa vụ của giáo dân trong mối tương quan với hàng giáo phẩm như dưới đây:

4.1.1 Với hàng Giáo phẩm: giáo dân có:

* QUYỀN được lãnh nhận một cách dồi dào những ơn trợ lực từ kho tàng thiêng liêng của Giáo hội, nhất là từ Lời Chúa và Bí tích;

* QUYỀN bày tỏ những nhu cầu và ước vọng của mình, trong tinh thần tự do, tin tưởng phù hợp với tư cách của những con cái Thiên Chúa và anh em Đức Kitô;

* KHẢ NĂNG VÀ NGHĨA VỤ (đôi khi) nói lên cảm nghĩ của mình về những việc liên quan tới lợi ích của Giáo hội trong tinh thần chân thành, can đảm, khôn ngoan, kính trọng và bác ái;

* BỔN PHẬN tuân theo những chỉ thị mà hàng Giáo phẩm quyết định với tư cách thày dạy và lãnh đạo Giáo hội.

4.1.2 Với giáo dân: hàng Giáo phẩm:

* PHẢI NHÌN NHẬN và NÂNG CAO PHẨM GIÁ và TRÁCH NHIỆM của giáo dân trong Giáo hội;

* NÊN CHẤP NHẬN những ý kiến khôn ngoan của giáo dân, tin cẩn giao cho họ những công tác để họ phục vụ Giáo hội;

* NÊN KHUYẾN KHÍCH giáo dân lãnh lấy phần trách nhiệm của họ và tôn trọng sự tự do chính đáng của mọi người trong lãnh vực trần thế.

4.2 Sắc lệnh về Chức Vụ và Đời Sống các linh mục xác định:

Các linh mục phải lãnh đạo cộng đồng làm sao để không tìm lợi ích riêng cho mình, nhưng tìm lợi ích cho Đức Giêsu Kitô (Pl 2,21) bằng cách kết hợp cố gắng của mình với cố gắng của giáo dân và xử sự với họ theo gương Thầy là Đấng đến ở giữa mọi người, không phải để được hầu hạ, nhưng là để hầu hạ và hiến mạng sống mình làm gía chuộc thay cho nhiều người “ (Mt 20,28).

Cụ thể, Sắc lệnh vạch ra 6 chỉ dẫn sau đây cho các linh mục:

(1) “Các linh mục phải chân thành nhìn nhận và thăng tiến phẩm gía của giáo dân và vai trò riêng của họ trong sứ mệnh Hội thánh;

(2) “Các linh mục phải chân thành kính trọng sự tự do chính đáng mà mọi người có quyền được hưởng trong lãnh vực trần thế;

(3) “Các linh mục phải sẵn lòng lắng nghe giáo dân, cứu xét các nguyện vọng của họ trong tinh thần huynh đệ, nhìn nhận kinh nghiệm và khả năng chuyên môn của họ trong các lĩnh vực khác nhau của hoạt động nhân bản, để cùng với họ có thể nhận biết các dấu chỉ của thời đại;

(4) “Trong khi nghiệm xét các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, các ngài phải lấy tinh thần đức tin mà khám phá và nhận ra các đoàn sủng muôn hình vạn trạng của giáo dân, từ những đoàn sủng nhỏ bé nhất đến những đoàn sủng cao vượt nhất. Các ngài sẽ vui mừng nhìn nhận và nhiệt thành phát huy các đoàn sủng ấy;

(5) “Trong những hồng ân mà Thiên Chúa ban tràn đầy trên các tín hữu như thế, phải đặc biệt lưu tâm đến những ơn lôi kéo một số giáo dân tiến xa hơn trên đường thiêng liêng;

(6) “Cũng thế, các linh mục phải biết tin tưởng giáo dân để giao phó cho họ những trách nhiệm trong việc phục vụ Hội thánh, để cho họ được tự do và có điều kiện hoạt động, hơn nữa còn khuyến khích họ mỗi khi gặp cơ hội thuận tiện phải biết tự mình có sáng kiến mà hành động

(Sắc lệnh về chức vụ và đời sống các linh mục, số 9).

4.3 Tông huấn “Người Kitô hữu giáo dân” (Christifideles Laici) của Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II là Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục 1987 về “Ơn gọi và Sứ mạng của Giáo dân trong Giáo hội và thế giới”, ngoài các quyền mở rộng công tác tông đồ và quyền tham gia vào các đại hội đồng giáo phận, giáo hạt, giáo xứ của giáo dân, còn nêu lên một quyền lợi khác là quyền tự do thành lập hội đoàn trong Giáo hội:

Trước tiên phải công nhận là người tín hữu giáo dân có quyền tự do thành lập hội đoàn trong Giáo hội. Quyền tự do này là một quyền lợi thật, nó không phải chỉ là hình thức “nhân nhượng” của giáo quyền mà là hậu quả đương nhiên của Phép Rửa” (Người Kitô hữu giáo dân, II, 29).

(Ghi chú: Năm tiêu chuẩn của một hội đoàn giáo dân:

* Mục đích tiên quyết: ơn gọi nên thánh của người tín hữu;

* Dấn thân tuyên xưng đức tin công giáo;

* Hiệp nhất với các chủ chăn;

* Thực hiện công tác truyền bá Phúc Am;

* Phục vụ nhân phẩm toàn diện con người đúng theo học thuyết xã hội của Giáo Hội).

D. THẢO LUẬN & ỨNG DỤNG

1. Anh chị có cảm nghĩ gì sau khi khám phá lại nền tảng Thánh kinh, Thánh truyền của Hội thánh và Giáo huấn của Công đồng Vatican II liên quan tới người giáo dân?

2. Làm thế nào để những hiểu biết, nhận thức mới của anh chị thay đổi đời sống của anh chị và của những người chung quanh?

3. Để thực hiện việc thay đổi ấy anh chị sẽ gặp phải những khó khăn nào? Khó khăn nào được kể là lớn nhất, khó vượt qua nhất? Tại sao?

Đ. TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU I:

NGƯỜI GIÁO DÂN QUA DÒNG LỊCH SỬ.

Để chuẩn bị cho Thượng Hội đồng các Giám mục thế giới thảo luận về Ơn gọi và Sứ mạng Giáo dân trong Giáo hội và trong thế giới, tạp chí Fêtes et Saisons số 411-tháng 1.1987 đã dành trọn 30 trang để trình bày một tài liệu về “VAI TRÒ VÀ SỨ MẠNG CỦA GIÁO DÂN TRONG GIÁO HỘI VÀ TRONG THẾ GIỚI” với tựa đề “LÀ NHỮNG NGƯỜI ĐÃ LÃNH NHẬN BÍ TÍCH PHÉP RỬA, CHÚNG TA HÃY CÙNG NHAU CHUẨN BỊ THƯỢNG HỘI ĐỒNG THẾ GIỚI”. Tài liệu mang bốn nội dung chính sau đây:

Người giáo dân qua dòng lịch sử của Giáo hội.

Công đồng Vatican II và Giáo luật mới nói gì về giáo dân?

Những thắc mắc và những vấn nạn đang được nêu lên.

Lời Chúa nói gì với chúng ta?

Đây là một công trình của nhiều linh mục Pháp, gồm: Francois Montfort, Jean Dujardin (bề trên tổng quyền Hội dòng Oratoire, Pháp), Gaston Pietri và Guy Regnier (thuộc Văn phòng Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Pháp) và Yves Congar, Dòng Đa Minh.

Trong phần tài liệu tham khảo này, chúng ta sẽ nhìn lại những nét lớn của “NGƯỜI GIÁO DÂN QUA DÒNG LỊCH SỬ”

Vai trò người giáo dân đã biến đổi qua dòng lịch sử, rất nhiều khi phụ thuộc ở những vấn đề mà xã hội đặt ra cho Giáo hội, nhưng cũng có lúc do tác động bất ngờ của Thánh Linh, Đấng làm xuất hiện những nhân vật gây đảo lộn những tính toán của loài người.

Chúng ta hãy đọc lại những trang sử đó.

A. NHỮNG THẾ KỶ ĐẦU TIÊN

1) Trong giáo hội sơ khai không có 'giáo dân'

Cho tới cuối thế kỷ thứ 2, mọi người đã chịu Phép Rửa, đều được coi là thuộc về Dân đã tuyển chọn, không phân biệt ai. Theo nguyên ngữ, tất cả đều là những người “thừa kế” (clercs), bởi vì họ đều tham dự vào “di sản” (cleros: từ Hy Lạp có nghĩa là di sản) tức là di sản mà Chúa đã dành riêng cho mình giữa loài người.

Thực tại nền tảng là thực tại của Bí tích Phép Rửa, được sống như một ơn gọi. Mỗi người Kitô hữu đều coi mình được mời gọi truyền giáo. Và vì thế, hết thảy mọi tín hữu đều bình đẳng về phẩm giá. Điều đó không có nghĩa là không có sự khác biệt trong những vai trò và trách nhiệm.

2) Vào thế kỷ thứ 3, ‘giáo dân’ xuất hiện

Việc các cộng đoàn Kitô hữu phát triển đòi phải có một tổ chức mới. Cần phải xác định vai trò của mỗi người trong cộng đoàn phụng vụ và cần phải tự hỏi về vai trò của người chỉ thuần đã lãnh nhận Phép Rửa.

Người ta dùng tới từ “giáo dân”(laic) nhưng từ ấy không hề mang một ý “tiêu cực” nào hết. Rút từ nguyên ngữ Hy Lạp “laos”, giáo dân có nghĩa là“một dân của những người được tập hợp lại”. Vì thế, từ “giáo dân” không có nghĩa đối nghịch với từ giáo sĩ. Chỉ đơn thuần có nghĩa: vì là người đã được triệu tập nên phải luôn sẵn sàng để phục vụ Giáo hội, để đáp ứng hết mọi nhu cầu của Giáo hội.

3) Vào thế kỷ thứ 5, đúng là người giáo dân đã có đó

Vào thời kỳ bách hại đạo, có một mối cám dỗ rất to lớn là đưa vào trong nội bộ Kitô giáo sự phân biệt giữa những người “chết vì đạo” (martyrs) có một uy tín rất lớn về mặt đạo đức và những người có trách nhiệm nhưng đôi khi đã sai phạm. Từ đó, có phản ứng ngược lại của loại người sau, viện lý rằng sự yếu đuối không thể đặt quyền bính thành vấn đề. Ngay Thánh Phêrô, đứng đầu các Tông đồ, mà còn phản bội Chúa nữa là!

Vì thế cho nên, quyền bính được củng cố và kể từ sau những cuộc bách hại đạo (thế kỷ thứ 4), người nào chịu Phép Rửa mà không là giáo sĩ liền trở thành “giáo dân”. Nhưng đồng thời người giáo dân bị coi là dưới hàng giáo sĩ khi cuốn “Giáo huấn các Tông đồ” (cuối thế kỷ thứ 4) diễn tả vai trò Giám mục mà lại nói như sau: ”Người giáo dân chỉ là những đứa con nít phải canh chừng”. Từ giai đoạn này, việc phân biệt đã hoàn toàn rõ nét. Và còn kéo dài cho tới ngày hôm nay. Như vậy có nghĩa là giáo dân không còn đóng một vai trò gì ư? Có chứ, bởi vì họ đóng một vai trò trong cái xã hội đã chính thức trở thành Kitô giáo và tinh thần sáng kiến thì lúc nào cũng sẵn đó. Lịch sử cung cấp cho chúng ta nhiều thí dụ:

B. THỜI TRUNG CỔ

1) Điều mâu thuẫn: hàng giáo sĩ tự vệ chống lại giáo dân

Vào thế kỷ thứ 9 và thứ 10, Phương Tây Kitô giáo bước vào thời kỳ phong kiến. Các lãnh chúa là những người có quyền hành tại địa phương không bị ai kiểm soát, bổ nhiệm người vào các chức vụ của Giáo hội. Họ không thể “truyền chức” nhưng họ “tấn phong” người vào các chức vụ. Vì thế cho nên họ cũng có quyền hành. Cuộc tranh cãi sẽ kéo dài lâu năm và cuộc cải cách dưới triều đại Giáo hoàng Gregor được coi như một công trình “giải phóng” hàng giáo sĩ. Nhưng kết quả là phía giáo sĩ có một thái độ nghi ngờ dai dẳng đối với bất kỳ vai trò nào của người giáo dân trong Giáo hội.

2) Người giáo dân là nguyên nhân phát sinh các cuộc canh tân thiêng liêng

Đáng lẽ phải kể ra nhiều thí dụ điển hình. Nhưng chúng ta hãy tạm thỏa mãn với mô hình danh tiếng nhất: đó là trường hợp người giáo dân Thánh Phanxicô thành Assisi (1182-1286).

Sử gia J.Le Goff đã nói: một cách nào đó Phanxicô đã sáng tạo ra linh đạo giáo dân “khi lật đổ cái nắp đậy mà một nền văn hóa mang tính giáo sĩ đã chụp lên trên nền văn hóa lâu đời truyền thống của nhân loại”.

Những bức họa của thánh Phanxicô, sau khi Ngài chết, thường trình bày Ngài với một bộ y phục của một trợ tế. Thực tế không chắc là Phanxicô đã là một trợ tế; nhưng việc đó tiêu biểu cho một “não trạng” cho rằng Vị Thánh Khó Nghèo không thể nào có được một sự tỏa sáng như thế mà lại không phải là giáo sĩ.

C. GIAI ĐOẠN HIỆN ĐẠI (THẾ KỶ THỨ 16-17)

1) Cuộc cải cách Tin Lành

Chủ trương Tin lành, trước hết, chẳng phải là một phản ứng chống lại những lạm dụng của Giáo hội. Cũng không hẳn chỉ là hậu quả của những biến chuyển kinh tế xã hội, nhưng chủ yếu đó là một phong trào rao giảng Tin Mừng. Vì thế phong trào này dành cho Lời Chúa một vai trò quan trọng nhất và đã làm ra rất nhiều sách giáo lý. Phong trào này là việc ý thức về tình trạng “không được phúc âm hóa”, đặc biệt tại các miền thôn quê.

Khởi đầu phong trào được chính các giáo sĩ “tung ra”, nhưng phong trào phát triển và xây dựng nền móng bằng cách dựa vào các vua chúa và nhiều giáo dân.

LUTHER (1483-1586) đã xây dựng những mục tiêu cho một nền thần học giáo dân:

+ bằng cách đề cao việc trực tiếp đọc Thánh Kinh, không qua một trung gian có thẩm quyền nào,

+ bằng cách làm cho rõ bản chất của Giáo hội để phục vụ Tin Mừng,

+ bằng cách khôi phục lại gía trị của chức tư tế cộng đồng.

Rất tiếc là Luther đã quan niệm một cách quá đáng, coi chức tư tế cộng đồng y như là một khí giới chống lại chức tư tế thừa tác và hàng giáo phẩm. Mặt khác ngôn ngữ của ông lại quá khó hiểu. Ví dụ ông viết: “Hết mọi Kitô hữu đều thực sự thuộc về Giáo hội. Giữa họ không hề có sự khác biệt nào, ngoại trừ sự khác biệt về chức vụ….Chính Phép Rửa, việc loan báo Tin Mừng và Đức Tin là những yếu tố duy nhất tạo nên tình trạng Giáo hội và thiết lập Dân Kitô giáo

2) Cuộc cải cách Công giáo

Công đồng Trentô (1545-1563) đã phản ứng chống lại tình trạng lẫn lộn của Tin Lành; nhưng để nhấn mạnh đến tính cách đặc thù của chức linh mục thừa tác, Công đồng đã bỏ qua không đả động gì đến chức tư tế cộng đồng của những người đã chịu Phép Rửa.

Tuy thế các nhà cải cách công giáo đã không hề quên rằng bất cứ ai đã chịu Phép Rửa đều có trách nhiệm đối với đời sống Giáo hội. Ví dụ vào cuối thế kỷ thứ 16, khi Philipphê Nêri bắt đầu công cuộc tông đồ tại Roma, thì ông chỉ thuần túy là một người đã chịu Phép Rửa. Sau này khi sáng lập Dòng Giảng Thuyết (Oratoire), ông đã dựa vào giáo dân cũng như giáo sĩ. Tại Pháp, bà Acarie là người mẹ của một gia đình sáu con, đã biến nhà của bà thành một trong những trung tâm tích cực nhất của Phong trào cải cách Công giáo. Và ngay cả các nhà cải cách lớn về hàng giáo sĩ cũng nhắm mục tiêu đầu tiên là “canh tân đời sống Kitô giáo” (Jean Jacques Olivier) khi dựa trên việc khám phá lại ơn gọi do bí tích Phép Rửa. Pierre de Bérulle đã viết: “Tất cả chúng ta đều được tháp nhập nơi Người (Đức Giêsu) như là cành nho tháp nhập vào cây nho, chúng ta là thân xác của thân xác Người và mỗi linh hồn là thành phần của thân thể mầu nhiệm và thiêng liêng của Đức Giêsu.”

Làm sao cắt nghĩa được việc sau đó người ta đã quên mất chân lý nền tảng này? Chắc hẳn vì một nền giáo dục quá nhấn mạnh đến mối nguy cơ Tin lành và do đó, coi thường việc khám phá thiêng liêng của Phong trào thệ phản.

D. THẾ KỶ XIX: HÀNG GIÁO DÂN ĐÃ ĐƯỢC HÌNH THÀNH

Thế kỷ XIX là thế kỷ của những tương phản, trong thời gian này châu Âu khó tiêu hóa nổi cuộc Cách mạng Pháp. Thế kỷ của những cuộc khám phá khoa học, của việc bành trướng và lòng quảng đại. Thế kỷ của những cuộc biến đổi xã hội chính trị rất sâu rộng. Giáo hội cũng bị lung lay như xã hội dân sự và tìm tòi con đường của mình. Dần dần một hàng giáo dân được hình thành như một thực tại độc lập. Có nhiều yếu tố tác động trên tiến trình này:

a) Ap lực của các biến cố:

Cuộc Cách mạng Pháp đã đẩy các quốc gia vào một quá trình không thể cưỡng lại được, để trở thành một xã hội tục hóa. Bị rối loạn một cách sâu sắc, suốt một thời gian dài, Giáo hội còn có một phản ứng chống cự: đặt lại thành vấn đề cái “ý thức hệ Cách mạng kia”. Và ngay cả khi Giáo hội bị bó buộc và cưỡng bách phải chấp nhận Nhà nước, thì Giáo hội vẫn luôn luôn mang một tinh thần là muốn chinh phục lại.

Tình trạng này trên thực tế bắt buộc Giáo hội phải càng ngày càng dựa vào giáo dân. Vả lại những người giáo dân đã chẳng chờ đợi mà không đáp lại: Joseph de Maistre, Louis de Bonald, Charles de Montalembert, Louis Veuillot…là những người tiên phong.

b) Lời kêu gọi của các vị Giáo hoàng:

Khi cảm thấy Giáo hội bị đe đọa từ mọi phía, các vị Giáo hoàng là những người đầu tiên kêu gọi giáo dân bảo vệ Giáo hội. Trước hết các ngài ngỏ lời với từng cá nhân nhưng khi trào lưu bỏ đạo biểu hiện rõ rệt (theo cách đánh giá của các vị Giáo hoàng thì trào lưu này có nguyên nhân chính là cuộc Cách Mạng) thì các ngài không ngại kêu gọi toàn thể giáo dân, để họ tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo hội có thể theo đuổi việc tông đồ của mình.

c) Sức đẩy thiêng liêng và truyền giáo:

Vào thế kỷ thứ XIX, hàng giáo sĩ đông đảo chấn giữ phía trước sân khấu Giáo hội. Điều đó chẳng khích lệ gì người giáo dân hết. Hơn nữa bầu khí bao trùm lúc đó lại đối nghịch với những gì là “đời”. Sau hết, tư tưởng thần học lại tỏ ra rất nghi ngờ đối với người giáo dân. Tuy nhiên có nhiều giáo dân đã thể hiện những sáng kiến rất đáng kể trong công cuộc truyền giáo (Tuổi Thơ Thánh, Truyền Bá Đức Tin, Công Trình Đông Phương) cũng như trong các hoạt động bác ái từ thiện (ví dụ những Hiệp hội Thánh Vinxentê đệ Phaolô do Ozanam sáng lập). Tuy thế giáo dân vẫn còn tùy thuộc chặt chẽ vào hàng giáo phẩm. Nhưng việc Hiệp hội Công giáo Thanh niên Pháp ra đời vào năm 1886 đánh dấu giai đoạn đầu của một hướng đi mới. Hiệp hội này được hình thành nhằm “đóng góp vào việc khôi phục lại trật tự xã hội Kitô giáo”, nên ngay trong Đại hội Besanson năm 1896 đã đưa ra một phương pháp rất mới mẻ: “Phương pháp tông đồ dùng người trong môi trường đối với người sống trong cùng môi trường: Méthode de l’apostolat du semblable par le semblable

d) Tư tưởng cũng chuyển biến:

Người ta cảm thấy rằng xã hội đi vào tục hóa sẽ đưa người giáo dân nói chung đến chỗ làm chứng nhân Kitô hữu giữa lòng đời. Ý niệm đó cứ dần dần được hình thành.

Ngày 3-5-1850, linh mục Lacordaire giảng tại Nhà thờ Đức Bà Paris, đã phát biểu: “Phải chăng Đức Kitô chỉ nói với một mình các môn đệ của Ngài câu: “Anh em hãy đi và hãy giảng dậy”? Không, toàn Giáo hội liên đới về những gì xẩy ra trong Giáo hội”. Và để biện minh cho quan điểm của mình, ngài đã trích câu trong thư thứ nhất của Thánh Phêrô: “Anh em là một dân tộc tư tế

E. NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX: CÔNG GIÁO TIẾN HÀNH

Việc tách biệt giữa Giáo hội và Nhà nước đã thừa nhận tiến trình mà cuộc Cách Mạng Pháp đã khơi lên tại đất Pháp. Nhiều vị Giáo hoàng kế tiếp nhau, khi nhận thấy rằng không thể trở lùi lại phía sau, đã tìm kiếm một phương thế để TÁI PHÚC ÂM HÓA XÃ HỘI: Vì thế Công giáo tiến hành chuyên nghiệp ra đời và nhận được sự hỗ trợ của các vị Giáo hoàng.

Một sự kiện tạo thuận lợi cho việc phát triển Công giáo tiến hành là trong chiến tranh 1914-1918, tình huynh đệ trong các chiến hào giúp các linh mục hiểu rõ hơn việc phải gần gũi để rao giảng Tin Mừng.

Ngay từ năm 1924, tại Bỉ, linh mục Cardjin thành lập Thanh Lao Công (JOC). Dường như ngay lập tức Đức PIO XI đã hỗ trợ tổ chức này. Ngài hiểu rằng Công Giáo Tiến Hành của người giáo dân là một hoạt động chuyên nghiệp, bổ túc cho hoạt động của hàng giáo sĩ. Hoạt động trên không chỉ liên quan tới thành phần ưu tú, nhưng liên quan tới hết mọi người được thanh tẩy bằng Phép Rửa. Tuy nhiên, cần phải thấy rõ những giới hạn trong tư tưởng và những mơ hồ trong xác định về Công giáo tiến hành của vị Giáo hoàng này. Đối với ngài, Công giáo tiến hành là “sự tham gia của người giáo dân vào công cuộc tông đồ của hàng giáo phẩm”. Đức PIO XII cũng rất quan tâm, Ngài nói đến cả việc “hợp tác”, nhưng Ngài cũng không thoát khỏi cảnh mơ hồ trên. Tình trạng này còn kéo dài lâu nữa. Thật vậy, nếu người giáo dân lệ thuộc vào hàng giáo phẩm, thì hỏi đâu là quyền tự do sáng kiến của họ? Nhưng nếu hàng giáo phẩm quan tâm đến hoạt động của người giáo dân thì hỏi hàng giáo phẩm có dấn thân bằng những chọn lựa chính trị, nghiệp đoàn v.v…không? Giải pháp của sự “ủy nhiệm” - nghĩa là của một nhãn hiệu chính thức mà hàng giáo phẩm dán cho một phong trào nhất định- nhanh chóng bộc lộ nhiều thiếu sót và các giám mục đã đi tới chỗ hủy bỏ giải pháp đó.

(Tạp chí Fêtes et Saisons số 411-tháng 1.1987)