Chúa Nhật 27 Thường Niên B
Mc 10,2-16
Thưa quý vị,
Tôi vừa chủ toạ một thánh lễ với những người ly dị. Họ lập thành cộng đoàn nhỏ mà tôi hết lòng ngưỡng mộ. Họ là những thành viên mới ly dị hay ly dị đã lâu. Và bởi lẽ họ đều mang những vết thương lòng sâu sắc nên họ rất thông cảm với những người cùng cảnh ngộ. Họ bình thường như bao nhiêu người khác trong giáo xứ, nhưng vẫn cảm thấy lẻ loi và mang nhiều mặc cảm. Nhất là về phía nữ giới. Theo thống kê thì hiện nay trên đất nước Hoa Kỳ tỉ lệ ly dị là 50%. Một con số đáng chúng ta quan tâm suy nghĩ. Không kết án họ nhưng cũng không thể bỏ qua. Trong giáo xứ rồi sẽ có những cặp ly dị, những gia đình lộn xộn trù tính ly dị và các trẻ nhỏ phải sống với cha hoặc mẹ độc thân. Cũng phải liên tưởng đến các thanh niên thiếu nữ trong cộng đoàn đang dự định kết hôn. Họ có thể hiểu lầm lời rao giảng của Chúa Giêsu trong Tin mừng hôm nay như một lời mời gọi không thực tế. Lại nữa, thoạt nghe, những người đang gánh chịu đau khổ, dằn vặt trong gia đình cảm thấy sứ điệp của Ngài mâu thuẫn với kinh nghiệm họ đang phải trải qua. Cho nên chúng ta cần suy gẫm thấu đáo hơn về bí tích hôn phối.
Bài đọc một trích sách Sáng thế ký (2,18), Thiên Chúa tạo dựng Adam trước rồi đến Evà trong cách thức hoàn toàn khác nhau. Adam từ bụi đất và Evà từ xương sườn Adam. Khi vừa được dựng nên, Adam đã được Thiên Chúa ban quyền quản lý vũ trụ và các sinh vật trong đó. Bất cứ sinh vật nào đi qua trước ông, ông đều cho một cái tên và tên ấy sẽ thuộc về sinh vật đó mãi mãi. Nhưng Adam vẫn cô đơn, ông vẫn chờ đợi một người bạn có thể hiểu và hợp tác với mình. Bởi lẽ các sinh vật khác hoàn toàn xa lạ. Như thế có thể nói rằng đời sống và sự tạo dựng của các sinh vật kém hơn của con người. Khi Evà được tạo dựng thì không trực tiếp bởi bụi đất, nhưng từ chất liệu lấy từ Adam. Do đó, bà hoàn toàn lệ thuộc vào Adam và được dựng nên cho Adam: “Xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được sinh ra từ đàn ông.” Câu nói quá rõ ràng về nguồn gốc của tình yêu hôn nhân, gia đình và sự lệ thuộc hỗ tương giữa hai người nam nữ. Hai người có cùng một bản tính nhân loại nhưng nhiệm vụ khác nhau. Chính Adam đã xác nhận sứ vụ của vợ mình: “Con người đặt tên cho vợ là Evà, vì lẽ bà là mẹ của chúng sinh” (St 3,20).
Qua dòng lịch sử, truyền thống của nhiều tôn giáo đã dùng hình ảnh hôn nhân để diễn tả mối liên hệ mật thiết giữa thần linh với dân tộc mình hoặc cá nhân. Dân Do Thái cũng không ra ngoài thông lệ. Cựu ước đã nhiều lần dùng hình ảnh này để nói về sự gắn bó giữa Thiên Chúa và tuyển dân. Thí dụ rõ ràng nhất là Sách Diễm tình ca. Nó là cả một bài thơ dài mô tả tình thắm thiết giữa Đức Chúa Trời và dân tộc Israel. Nó dùng toàn ngôn ngữ và hình ảnh tình yêu lứa đôi theo cách thức loài người.
Nhiều sách khác trong văn chương Do Thái cũng mượn truyện hôn nhân để cho biết tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại như Giêrêmia, Êzêkiel, Amos, Hôsê,.. Bước sang thời kỳ Tân Ước, các tác giả Kinh Thánh vẫn dùng hình ảnh phổ thông đó mà nói về Chúa Giêsu với Giáo Hội của Ngài. Thánh Phaolô viết cho tín hữu Côrintô như sau: “Thật thế, vì anh em, tôi ghen cái ghen của Thiên Chúa, bởi tôi đã đính hôn anh em với một người độc nhất là Đức Kitô, để tiến dâng anh em như một trinh nữ trinh khiết” (2 Cr 11,2). Hay Mt 9,15 : “Đức Giêsu trả lời: chẳng lẽ khách dự tiệc lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ?” Hay Ga 3,28: “Tôi đây không phải là Đấng Kitô mà là kẻ được sai đi trước mặt Người. Ai cưới cô dâu người ấy là chú rể.” Như vậy, cả hai giao ước cũ và mới đều nhất trí dùng hình ảnh hôn nhân để mô tả tình yêu cao vời của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài. Do đó, chúng ta hiểu được ý nghĩa sâu xa của tình yêu hôn phối. Không những nó là một thực tại trần thế, không tàn phai mà còn là biểu tượng vĩnh viễn mối dây Thiên Chúa yêu thương loài người. Trong lễ cưới của người công giáo, Hội Thánh đã nêu lên biểu tượng này khi chúc lành cho đôi vợ chồng mới: “Lạy Chúa, Chúa đã thánh hiến sự phối hợp vợ chồng bằng mầu nhiệm cao cả, để dùng khế ước hôn nhân mà báo trước mầu nhiệm kết hiệp giữa Chúa Kitô và Hội Thánh.” Hoặc những lời khác tương tự: “Lạy Chúa, để mặc khải mầu nhiệm yêu thương, Chúa đã lấy sự kết hợp giữa hai vợ chồng làm hình ảnh giao ước giữa Chúa và Hội Thánh. Chúng con nài xin Chúa…” Cũng như hôn nhân lý tưởng là hai vợ chồng hiến thân cho nhau, thể xác và tâm hồn, như món quà ban tặng, thì tình yêu giao kết của chúng ta và của toàn thể Hội Thánh với Thiên Chúa phải trọn vẹn như vậy. Sự đáp trả của linh hồn không thể có chút bợn nhơ, hậu ý mà phải tinh tuyền và trọn hảo. Kết quả của tình yêu hôn nhân là con cái. Kết quả của tình yêu hiến dâng Thiên Chúa là sự thánh thiện và những công việc bác ái mình thực hiện cho tha nhân. Ích kỷ không thể nào và không bao giờ là tình yêu thiêng liêng, nó là sự dối trá trắng trợn, một cạm bẫy của Satan. Đời sống của những vị thánh trong Giáo Hội là bằng chứng rõ nét cho sự thật đó. Nó là sự thể hiện rõ ràng các Ngài yêu mến Thiên Chúa và Thiên Chúa yêu thương các Ngài. Tình yêu này không bao giờ tan vỡ. Các Thánh không bao giờ phản bội Thiên Chúa vì cảm nghiệm được tình Chúa xót thương mình. Những ân huệ hàng ngày thúc giục các Ngài yêu mến và tạ ơn. Như vậy, chúng ta cũng phải vững bụng rằng Thiên Chúa không khi nào bẻ gãy tình yêu của Ngài đối với nhân loại, đối với mỗi người chúng ta. Ngài không hề thất vọng nơi các linh hồn, bỏ rơi hoặc ngoảnh mặt không yêu thương, trợ giúp họ nữa.
Vì thế trong bài Phúc âm Chúa Giêsu nhắc lại truyền thống nhiệm màu của Kinh Thánh mà tuyên bố mối ràng buộc hôn nhân là không tháo gỡ được. Nó là dấu chỉ hữu hình tình yêu vô hình và hiệu quả của Thiên Chúa đối với nhân loại. Ngài khẳng định tính bền vững của hôn nhân. Nó có ý nghĩa vượt xa sự kết hiệp giới tính. Nó không phải chỉ liên quan đến thân xác mà còn bao hàm toàn thể nhân sinh. Đôi vợ chồng là một về xác thịt và cũng là một về hiện hữu (une seule chair, un seul être). Vì thế, người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình. Rõ ràng ông Adam không có cha mẹ để lìa bỏ. Lời tuyên bố của Sách Thánh nhắm đến toàn thể nhân loại. Tác giả muốn gọi sự kết hợp này là thuộc về “trái tim”, phát xuất từ trái tim, nơi thẳm sâu nhất của tồn tại con người. Hôn nhân, do đó, là sự dấn thân của hai trái tim giống như tình yêu trung tín (hesed) của Đức Chúa Trời. Lòng thương yêu này vượt trên cả tội lỗi và nết xấu của mỗi người. Tức là trung tín trong bất cứ tình huống nào. Vì Thiên Chúa không thể bất trung với chính Ngài. Lời thề trong lễ hôn phối của đôi vợ chồng mới là: “giữ lòng chung thuỷ khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ” vang vọng tình yêu hered của Thiên Chúa. Cho nên, chúng ta phải đáp trả cho cân xứng. Nghĩa là trung tín với Ngài trong bất cứ hoàn cảnh nào, thuận lợi cũng như khi gặp khó khăn, khoẻ mạnh cũng như khi yếu đau. Đừng bao giờ lãng quên giao ước giữa ta với Đức Chúa Trời.
Hình ảnh tình yêu hôn phối còn giúp chúng ta suy gẫm về bí tích Thánh Thể trong thánh lễ hôm nay. Phép lạ đầu tiên Chúa Giêsu thực hiện là ở trong bữa tiệc cưới. Hai người thề hứa yêu thương và trung thành trọn đời là cơ hội tốt để Chúa Giêsu mặc khải tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta. Ngài cũng đổ tràn đầy tình yêu và ân huệ vào lòng chúng ta, như ban cho đôi tân hôn hơn bốn trăm lít rượu ngon. Rượu của niềm vui và hạnh phúc. Âu huệ và lòng xót thương của Ngài cũng tràn trề trên mỗi linh hồn. Xin hân hoan cử hành thánh lễ này. Đúng thật, sự sống, sự chết và sống lại của Ngài đã sinh hoa trái lạ lùng cho mỗi linh hồn, cũng như hôn phối mang tình yêu, nhẫn nại, hy sinh, độ lượng, tha thứ, bền vững cho mỗi gia đình công giáo. Lòng trung tín trong hôn nhân của các tín hữu là hình ảnh cực kỳ sống động Chúa Giêsu luôn ngự giữa Hội Thánh trong mọi tình huống. Dĩ nhiên khế ước hôn nhân nhiều khi bị bẻ gãy, chia lìa bởi những lý do loài người không lường trước được như phản bội, thói xấu, kinh tế,… Nhưng tất cả đều là tội lỗi, yếu đuối về phần con người. Trong Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu rao giảng hôn nhân lý tưởng, nằm trong tầm tay của con người, bởi nó phản ánh ý định nguyên thuỷ của Thượng Đế khi tác tạo nhân loại. Như chúng ta đã thấy, sách Sáng Thế ký nói về một hôn nhân bền vững, không chia lìa: “Họ không còn là hai, nhưng là một.” Sau khi con người sa ngã, bản tính trở nên yếu đuối, ngu xuẩn, dễ bị Satan lừa dối mà phạm tội, phá đổ hạnh phúc của chính mình. Chúa Giêsu thương chỉnh đốn lại hôn nhân lý tưởng để chúng ta nhận ra lỗi lầm của mình, quay về với chính mình và với Thiên Chúa cùng đồng loại.
Cho nên Phúc âm hôm nay trình bày cho chúng ta cái nhìn hoàn toàn mới về căn tính của hôn nhân và đường lối sống thế nào cho hợp với chương trình nguyên thuỷ của Thiên Chúa. Dù còn độc thân, kết bạn hay đã ly dị, chúng ta đều có thể nhận ra phải trái trong cuộc đời. Chúng ta hằng ngày vật lộn với bao nhiêu khó khăn, kể cả trong hôn nhân, để trung thành với Thiên Chúa. Chúng ta có bí tích Thánh Thể, hãy cậy trông vào Chúa Giêsu giúp đỡ vượt qua mọi khó khăn. Chúa Thánh Thể là biểu trưng của lòng Thiên Chúa xót thương và trung tín (hesed và rahamim). Ngài luôn ngự giữa chúng ta, hướng dẫn mọi nỗ lực, ý tưởng mỗi người theo nẻo chính đường ngay. Chúng ta hy vọng từng bước trong cuộc đời, sống trung tín với giao ước của Ngài và với tha nhân. Nếu như chúng ta có trái tim “chai đá” như các kinh sư trong phúc âm, thì xin Ngài uốn nắn để có thể cải tạo, ngõ hầu xoá bỏ được các lỗi lầm mà quay về với tương lai tươi sáng của kiếp sống làm con cái Thiên Chúa tình thương. Amen.
Ghi chú : Xin đọc thông điệp “Thiên Chúa giàu lòng thương xót” (Deus dives in Misericordia) của Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 30/11/1980 để có thể hiểu được hai từ “hesed” (tình yêu trung tín) và rahamim (tình yêu xót thương) của Cựu ước mà tác giả nhắc tới trong bài suy gẫm này.
Mc 10,2-16
Thưa quý vị,
Tôi vừa chủ toạ một thánh lễ với những người ly dị. Họ lập thành cộng đoàn nhỏ mà tôi hết lòng ngưỡng mộ. Họ là những thành viên mới ly dị hay ly dị đã lâu. Và bởi lẽ họ đều mang những vết thương lòng sâu sắc nên họ rất thông cảm với những người cùng cảnh ngộ. Họ bình thường như bao nhiêu người khác trong giáo xứ, nhưng vẫn cảm thấy lẻ loi và mang nhiều mặc cảm. Nhất là về phía nữ giới. Theo thống kê thì hiện nay trên đất nước Hoa Kỳ tỉ lệ ly dị là 50%. Một con số đáng chúng ta quan tâm suy nghĩ. Không kết án họ nhưng cũng không thể bỏ qua. Trong giáo xứ rồi sẽ có những cặp ly dị, những gia đình lộn xộn trù tính ly dị và các trẻ nhỏ phải sống với cha hoặc mẹ độc thân. Cũng phải liên tưởng đến các thanh niên thiếu nữ trong cộng đoàn đang dự định kết hôn. Họ có thể hiểu lầm lời rao giảng của Chúa Giêsu trong Tin mừng hôm nay như một lời mời gọi không thực tế. Lại nữa, thoạt nghe, những người đang gánh chịu đau khổ, dằn vặt trong gia đình cảm thấy sứ điệp của Ngài mâu thuẫn với kinh nghiệm họ đang phải trải qua. Cho nên chúng ta cần suy gẫm thấu đáo hơn về bí tích hôn phối.
Bài đọc một trích sách Sáng thế ký (2,18), Thiên Chúa tạo dựng Adam trước rồi đến Evà trong cách thức hoàn toàn khác nhau. Adam từ bụi đất và Evà từ xương sườn Adam. Khi vừa được dựng nên, Adam đã được Thiên Chúa ban quyền quản lý vũ trụ và các sinh vật trong đó. Bất cứ sinh vật nào đi qua trước ông, ông đều cho một cái tên và tên ấy sẽ thuộc về sinh vật đó mãi mãi. Nhưng Adam vẫn cô đơn, ông vẫn chờ đợi một người bạn có thể hiểu và hợp tác với mình. Bởi lẽ các sinh vật khác hoàn toàn xa lạ. Như thế có thể nói rằng đời sống và sự tạo dựng của các sinh vật kém hơn của con người. Khi Evà được tạo dựng thì không trực tiếp bởi bụi đất, nhưng từ chất liệu lấy từ Adam. Do đó, bà hoàn toàn lệ thuộc vào Adam và được dựng nên cho Adam: “Xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được sinh ra từ đàn ông.” Câu nói quá rõ ràng về nguồn gốc của tình yêu hôn nhân, gia đình và sự lệ thuộc hỗ tương giữa hai người nam nữ. Hai người có cùng một bản tính nhân loại nhưng nhiệm vụ khác nhau. Chính Adam đã xác nhận sứ vụ của vợ mình: “Con người đặt tên cho vợ là Evà, vì lẽ bà là mẹ của chúng sinh” (St 3,20).
Qua dòng lịch sử, truyền thống của nhiều tôn giáo đã dùng hình ảnh hôn nhân để diễn tả mối liên hệ mật thiết giữa thần linh với dân tộc mình hoặc cá nhân. Dân Do Thái cũng không ra ngoài thông lệ. Cựu ước đã nhiều lần dùng hình ảnh này để nói về sự gắn bó giữa Thiên Chúa và tuyển dân. Thí dụ rõ ràng nhất là Sách Diễm tình ca. Nó là cả một bài thơ dài mô tả tình thắm thiết giữa Đức Chúa Trời và dân tộc Israel. Nó dùng toàn ngôn ngữ và hình ảnh tình yêu lứa đôi theo cách thức loài người.
Nhiều sách khác trong văn chương Do Thái cũng mượn truyện hôn nhân để cho biết tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại như Giêrêmia, Êzêkiel, Amos, Hôsê,.. Bước sang thời kỳ Tân Ước, các tác giả Kinh Thánh vẫn dùng hình ảnh phổ thông đó mà nói về Chúa Giêsu với Giáo Hội của Ngài. Thánh Phaolô viết cho tín hữu Côrintô như sau: “Thật thế, vì anh em, tôi ghen cái ghen của Thiên Chúa, bởi tôi đã đính hôn anh em với một người độc nhất là Đức Kitô, để tiến dâng anh em như một trinh nữ trinh khiết” (2 Cr 11,2). Hay Mt 9,15 : “Đức Giêsu trả lời: chẳng lẽ khách dự tiệc lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ?” Hay Ga 3,28: “Tôi đây không phải là Đấng Kitô mà là kẻ được sai đi trước mặt Người. Ai cưới cô dâu người ấy là chú rể.” Như vậy, cả hai giao ước cũ và mới đều nhất trí dùng hình ảnh hôn nhân để mô tả tình yêu cao vời của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài. Do đó, chúng ta hiểu được ý nghĩa sâu xa của tình yêu hôn phối. Không những nó là một thực tại trần thế, không tàn phai mà còn là biểu tượng vĩnh viễn mối dây Thiên Chúa yêu thương loài người. Trong lễ cưới của người công giáo, Hội Thánh đã nêu lên biểu tượng này khi chúc lành cho đôi vợ chồng mới: “Lạy Chúa, Chúa đã thánh hiến sự phối hợp vợ chồng bằng mầu nhiệm cao cả, để dùng khế ước hôn nhân mà báo trước mầu nhiệm kết hiệp giữa Chúa Kitô và Hội Thánh.” Hoặc những lời khác tương tự: “Lạy Chúa, để mặc khải mầu nhiệm yêu thương, Chúa đã lấy sự kết hợp giữa hai vợ chồng làm hình ảnh giao ước giữa Chúa và Hội Thánh. Chúng con nài xin Chúa…” Cũng như hôn nhân lý tưởng là hai vợ chồng hiến thân cho nhau, thể xác và tâm hồn, như món quà ban tặng, thì tình yêu giao kết của chúng ta và của toàn thể Hội Thánh với Thiên Chúa phải trọn vẹn như vậy. Sự đáp trả của linh hồn không thể có chút bợn nhơ, hậu ý mà phải tinh tuyền và trọn hảo. Kết quả của tình yêu hôn nhân là con cái. Kết quả của tình yêu hiến dâng Thiên Chúa là sự thánh thiện và những công việc bác ái mình thực hiện cho tha nhân. Ích kỷ không thể nào và không bao giờ là tình yêu thiêng liêng, nó là sự dối trá trắng trợn, một cạm bẫy của Satan. Đời sống của những vị thánh trong Giáo Hội là bằng chứng rõ nét cho sự thật đó. Nó là sự thể hiện rõ ràng các Ngài yêu mến Thiên Chúa và Thiên Chúa yêu thương các Ngài. Tình yêu này không bao giờ tan vỡ. Các Thánh không bao giờ phản bội Thiên Chúa vì cảm nghiệm được tình Chúa xót thương mình. Những ân huệ hàng ngày thúc giục các Ngài yêu mến và tạ ơn. Như vậy, chúng ta cũng phải vững bụng rằng Thiên Chúa không khi nào bẻ gãy tình yêu của Ngài đối với nhân loại, đối với mỗi người chúng ta. Ngài không hề thất vọng nơi các linh hồn, bỏ rơi hoặc ngoảnh mặt không yêu thương, trợ giúp họ nữa.
Vì thế trong bài Phúc âm Chúa Giêsu nhắc lại truyền thống nhiệm màu của Kinh Thánh mà tuyên bố mối ràng buộc hôn nhân là không tháo gỡ được. Nó là dấu chỉ hữu hình tình yêu vô hình và hiệu quả của Thiên Chúa đối với nhân loại. Ngài khẳng định tính bền vững của hôn nhân. Nó có ý nghĩa vượt xa sự kết hiệp giới tính. Nó không phải chỉ liên quan đến thân xác mà còn bao hàm toàn thể nhân sinh. Đôi vợ chồng là một về xác thịt và cũng là một về hiện hữu (une seule chair, un seul être). Vì thế, người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình. Rõ ràng ông Adam không có cha mẹ để lìa bỏ. Lời tuyên bố của Sách Thánh nhắm đến toàn thể nhân loại. Tác giả muốn gọi sự kết hợp này là thuộc về “trái tim”, phát xuất từ trái tim, nơi thẳm sâu nhất của tồn tại con người. Hôn nhân, do đó, là sự dấn thân của hai trái tim giống như tình yêu trung tín (hesed) của Đức Chúa Trời. Lòng thương yêu này vượt trên cả tội lỗi và nết xấu của mỗi người. Tức là trung tín trong bất cứ tình huống nào. Vì Thiên Chúa không thể bất trung với chính Ngài. Lời thề trong lễ hôn phối của đôi vợ chồng mới là: “giữ lòng chung thuỷ khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ” vang vọng tình yêu hered của Thiên Chúa. Cho nên, chúng ta phải đáp trả cho cân xứng. Nghĩa là trung tín với Ngài trong bất cứ hoàn cảnh nào, thuận lợi cũng như khi gặp khó khăn, khoẻ mạnh cũng như khi yếu đau. Đừng bao giờ lãng quên giao ước giữa ta với Đức Chúa Trời.
Hình ảnh tình yêu hôn phối còn giúp chúng ta suy gẫm về bí tích Thánh Thể trong thánh lễ hôm nay. Phép lạ đầu tiên Chúa Giêsu thực hiện là ở trong bữa tiệc cưới. Hai người thề hứa yêu thương và trung thành trọn đời là cơ hội tốt để Chúa Giêsu mặc khải tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta. Ngài cũng đổ tràn đầy tình yêu và ân huệ vào lòng chúng ta, như ban cho đôi tân hôn hơn bốn trăm lít rượu ngon. Rượu của niềm vui và hạnh phúc. Âu huệ và lòng xót thương của Ngài cũng tràn trề trên mỗi linh hồn. Xin hân hoan cử hành thánh lễ này. Đúng thật, sự sống, sự chết và sống lại của Ngài đã sinh hoa trái lạ lùng cho mỗi linh hồn, cũng như hôn phối mang tình yêu, nhẫn nại, hy sinh, độ lượng, tha thứ, bền vững cho mỗi gia đình công giáo. Lòng trung tín trong hôn nhân của các tín hữu là hình ảnh cực kỳ sống động Chúa Giêsu luôn ngự giữa Hội Thánh trong mọi tình huống. Dĩ nhiên khế ước hôn nhân nhiều khi bị bẻ gãy, chia lìa bởi những lý do loài người không lường trước được như phản bội, thói xấu, kinh tế,… Nhưng tất cả đều là tội lỗi, yếu đuối về phần con người. Trong Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu rao giảng hôn nhân lý tưởng, nằm trong tầm tay của con người, bởi nó phản ánh ý định nguyên thuỷ của Thượng Đế khi tác tạo nhân loại. Như chúng ta đã thấy, sách Sáng Thế ký nói về một hôn nhân bền vững, không chia lìa: “Họ không còn là hai, nhưng là một.” Sau khi con người sa ngã, bản tính trở nên yếu đuối, ngu xuẩn, dễ bị Satan lừa dối mà phạm tội, phá đổ hạnh phúc của chính mình. Chúa Giêsu thương chỉnh đốn lại hôn nhân lý tưởng để chúng ta nhận ra lỗi lầm của mình, quay về với chính mình và với Thiên Chúa cùng đồng loại.
Cho nên Phúc âm hôm nay trình bày cho chúng ta cái nhìn hoàn toàn mới về căn tính của hôn nhân và đường lối sống thế nào cho hợp với chương trình nguyên thuỷ của Thiên Chúa. Dù còn độc thân, kết bạn hay đã ly dị, chúng ta đều có thể nhận ra phải trái trong cuộc đời. Chúng ta hằng ngày vật lộn với bao nhiêu khó khăn, kể cả trong hôn nhân, để trung thành với Thiên Chúa. Chúng ta có bí tích Thánh Thể, hãy cậy trông vào Chúa Giêsu giúp đỡ vượt qua mọi khó khăn. Chúa Thánh Thể là biểu trưng của lòng Thiên Chúa xót thương và trung tín (hesed và rahamim). Ngài luôn ngự giữa chúng ta, hướng dẫn mọi nỗ lực, ý tưởng mỗi người theo nẻo chính đường ngay. Chúng ta hy vọng từng bước trong cuộc đời, sống trung tín với giao ước của Ngài và với tha nhân. Nếu như chúng ta có trái tim “chai đá” như các kinh sư trong phúc âm, thì xin Ngài uốn nắn để có thể cải tạo, ngõ hầu xoá bỏ được các lỗi lầm mà quay về với tương lai tươi sáng của kiếp sống làm con cái Thiên Chúa tình thương. Amen.
Ghi chú : Xin đọc thông điệp “Thiên Chúa giàu lòng thương xót” (Deus dives in Misericordia) của Đức Gioan Phaolô II ban hành ngày 30/11/1980 để có thể hiểu được hai từ “hesed” (tình yêu trung tín) và rahamim (tình yêu xót thương) của Cựu ước mà tác giả nhắc tới trong bài suy gẫm này.