KITÔ HỮU LÀ CON THIÊN CHÚA, LÀ MÔN ĐỆ ĐỨC GIÊSU KITÔ & LÀ CỘNG TÁC VIÊN CỦA CHÚA THÁNH THẦN

A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

Giúp học viên hiểu biết ơn gọi nền tảng và chung cho mọi Kitô hữu (giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân), để sống ơn gọi ấy một cách tự do, trưởng thành và trách nhiệm.

B. TIẾP CẬN VẤN ĐỀ

1. Trong 5 lãnh vực (thiêng liêng, ý thức và thái độ, kỹ năng và kiến thức) anh chị cảm thấy mình cần được đào tạo trau dồi thêm về lãnh vực nào nhất?

2. Anh chị hãy chia sẻ với nhau về các nỗ lực mình đã thực hiện để có một hiểu biết và kinh nghiệm phong phú, sâu sắc hơn về đời sống đức Tin không?

3. Anh chị có đồng ý là muốn làm gì thì cũng nên bắt đầu từ gốc, từ cái căn bản nhất không? Cái gốc của đời sống Kitô hữu là gì? Ơn gọi nền tảng nhất của chúng ta là ơn gọi nào?

C. HỌC HỎI THÁNH KINH & CÔNG ĐỒNG

I. ƠN GỌI LÀM CON THIÊN CHÚA

1.1 Nền tảng Thánh Kinh:

* “Ngươi sẽ gọi Ta là “Cha của con!” Ngươi sẽ không bỏ Ta nữa (Gr 3, 19)”.

* “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa… Hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; Nhưng chúng ta sẽ như thế nào điều ấy chưa được bày tỏ (1 Ga 3, 1-2)”.

* “Nhờ Đức Tin, anh em đều là con cái Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô. (Gl 3, 26)”.

* “Có một lần Đức Giêsu cầu nguyện ở nơi kia. Người cầu nguyện xong, thì có một người trong nhóm môn đệ nói với Người: “Thưa Thầy, xin dậy chúng con cầu nguyện, cũng như ông Gioan đã dậy môn đệ của ông.” Người bảo các ông: “Khi cầu nguyện, anh em hãy nói:

“Lạy Cha,

xin làm cho danh Cha vinh hiển,

Triều đại Cha mau đến,

xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy;

xin tha tội cho chúng con,

vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con,

và xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ.
(Lc 11,1-13)”.

1.2 Giải thích:

Ơn gọi nền tảng nhất mà Thiên Chúa dành cho chúng ta là ơn gọi làm con. Chúng ta được làm con Thiên Chúa, nhờ và trong Đức Giêsu Kitô, Con Một yêu dấu của Cha.

Được làm con Thiên Chúa thì bổn phận và vinh dự lớn lao của chúng ta là “sống như con” tức sống bổn phận làm con, sống hiếu thảo với Cha.

Sống hiếu thảo với Cha là quan tâm, lo lắng, hoạt động cho những công việc thuộc về Cha như Chúa Giêsu đã dạy trong Kinh Lạy Cha: Danh Cha được cả sáng! Nước Cha hay Triều Đại Cha trị đến! Ý Cha được thực hiện!

II. ƠN GỌI LÀM MÔN ĐỆ ĐỨC GIÊSU

2.1 Nền tảng Lời Chúa:

* “Rồi Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ” (Mc 3,13-15).

* “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dậy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 18-20).

2.2 Giải thích:

Khi bắt đầu đời sống công khai thì việc làm đầu tiên của Đức Giêsu là mời gọi, tuyển chọn và huấn luyện các môn đệ.

Các môn đệ được gọi và được tuyển chọn “để các ông ở với Người” và “để Người sai các ông đi rao giảng”: “ở với Người” là “chiều dọc” của Ơn gọi môn đệ và “để Người sai đi” là “chiều ngang” của Ơn gọi môn đệ.

Muốn sống hết “chiều dọc” và “chiều ngang” của ơn gọi môn đệ thì người môn đệ phải hiểu biết sâu sắc về Thầy Giêsu; có mối tương quan mật thiết, gắn bó; có chia sẻ tâm tình, thao thức với Thầy. Muốn thế, thì người môn đệ phải biết tìm hiểu, lắng nghe, đón nhận Lời Chúa (đọc, suy niệm và cầu nguyện với Lời Chúa), phải có nhiều thời gian sống riêng tư thân mật với Chúa (cầu nguyện, bí tích), phải thực hành các mệnh lệnh của Chúa (sống Phúc Am).

Lệnh truyền của Đức Giêsu cho các tông đồ trước khi về Trời là họ phải đi rao giảng và làm cho người ta trở thành môn đệ của Người. Chúng ta, những người giáo dân Việt Nam sống ở thế kỷ 21 này đã tin theo Chúa thì chính chúng ta cũng là môn đệ của Đức Giêsu vậy!

III. ƠN GỌI LÀM CỘNG TÁC VIÊN CỦA THÁNH THẦN

3.1 Giáo lý Công Đồng:

Chúa Thánh Thần thúc đẩy Giáo hội cộng tác với Ngài để hoàn tất trọn vẹn kế hoạch của Thiên Chúa là Đấng đã đặt Chúa Kitô làm nguyên lý cứu độ cho cả thế giới. Bằng việc rao giảng Phúc Am, Giáo hội sửa soạn cho người nghe đón nhận và tuyên xưng đức Tin, và chuẩn bị cho lãnh nhận phép Thánh Tẩy, đưa họ ra khỏi cảnh nô lệ của lầm lạc, tháp nhập họ vào thân thể Chúa Kitô, hầu nhờ Đức Ai, họ tăng triển mãi trong Người cho đến khi đạt tới viên mãn

(Công đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, số 17).

3.2 Giải thích :

Những gì Công đồng nói về Giáo hội thì cũng là nói về từng chi thể của Giáo hội là mỗi người giáo dân chúng ta. Do đó, mỗi người chúng ta là cộng tác viên của Chúa Thánh Thần khi chúng ta cùng với Ngài hoàn tất trọn vẹn chương trình cứu độ của Thiên Chúa nơi chính bản thân mình và nơi tha nhân.

Mỗi khi chúng ta chuẩn bị người khác đón nhận Tin Mừng và tuyên xưng niềm Tin vào Chúa Giêsu Kitô, cũng như đón nhận Bí tích Thánh Tẩy, gia nhập Giáo hội …. là chúng ta cộng tác với Chúa Thánh Thần…

D. THẢO LUẬN & ỨNG DỤNG

Anh chị có thể chọn một trong ba cụm câu hỏi sau đây để thảo luận và ứng dụng:

1.- Liên quan tới Ơn gọi làm con:

1. Bạn có yêu thích cách cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha không?

2. Ngày nay các Kitô hữu thường có một số cử chỉ đi kèm với lời cầu nguyện. Cách cầu nguyện như thế có giúp bạn không?

3. “Chúng con dám nguyện rằng”: Cầu nguyện với Kinh Lạy Cha có gì táo bạo không?

4. Kinh Lạy Cha hàm chứa những lời cầu xin. Bạn có thấy cầu xin là một hình thức thấp kém của cầu nguyện không?

5. Cầu nguyện diễn tả Lòng Tin. Nhưng cầu nguyện cũng diễn tả Lòng Mến: đối với Kinh Lạy Cha có như vậy không?

2.- Liên quan tới Ơn gọi làm môn đệ:

Người ta thường nói: “Thầy nào trò nấy” (Tel maitre tel disciple)”: Anh chị hãy nói về mối quan hệ hiện nay của anh chị với Đức Giêsu.

Đức Giêsu đã hỏi các môn đệ: “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai?” Nếu phải trả lời Chúa Giêsu câu hỏi ấy, anh chị sẽ nói gì với Ngài?

3.- Liên quan tới Ơn gọi làm cộng tác viên:

Trong Tông huấn “Giáo hội tại châu Á”, số 9, Đức Gioan Phaolo II nói đến hoạt động của Chúa Thánh Thần trong lịch sử Giáo hội châu Á xưa và nay:

Thánh Thần Thiên Chúa đã luôn hoạt động trong lịch sử Giáo hội châu Á, hẳn cũng sẽ tiếp tục hướng dẫn Giáo hội ấy. Người ta tìm thấy nhiều yếu tố tích cực nơi các Giáo hội địa phương, mà các Nghị phụ thường lưu ý trong Hội nghị, điều này càng làm chúng ta thêm hy vọng vào «một mùa xuân mới trong đời sống đức tin của Kitô hữu». Một lý do vững chắc cho phép ta hy vọng như thế là càng ngày càng có nhiều giáo dân được huấn luyện tốt hơn, nhiệt tình và đầy ơn Thánh Thần, nhận thức sâu sắc hơn ơn gọi riêng của mình trong cộng đoàn Giáo hội. Trong số đó, các giáo dân giảng viên giáo lý là những người rất đáng cho chúng ta chân nhận và ca ngợi một cách đặc biệt. Các phong trào tông đồ và đặc sủng cũng là một ơn huệ do Chúa Thánh Thần ban cho, đem lại sức sống mới và nghị lực cho công việc đào tạo các giáo dân nam nữ, các gia đình và giới trẻ. Các hiệp hội và các phong trào của Giáo hội nhằm thăng tiến nhân phẩm và công lý đã giúp làm cho mọi người cảm nhận được tính phổ quát của sứ điệp Tin Mừng: mọi người đều được nhận làm con cái Thiên Chúa (x. Rm 8, 15-6).

1. Anh chị có thấy phấn khởi khi đọc những dòng trên không? Anh chị có nhận ra hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống của anh chị và chung quanh anh chị không? Hãy chia sẻ tâm tình và khám phá của anh chị.

2. Anh chị có sẵn sàng cộng tác với Thánh Thần đang hoạt động không? Anh chị cộng tác với Ngài bằng cách nào?

Đ. TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU I:

CẦU XIN CHA

Trong kho tàng văn chương linh thánh, không có nhiều kinh nói thẳng với Chúa Cha. Trái lại, Phụng Vụ luôn hướng chúng ta về Chúa Cha và Kinh Lạy Cha là kinh tuyệt hảo nhất của mọi thời cũng như trong mọi cộng đoàn Kitô.

* Cầu Chúa Cha với Phụng Vụ

Các Thánh Vịnh

Giáo Hội Công giáo đã luôn cầu nguyện với các thánh vịnh, trong phụng vụ các giờ kinh cũng như trong thánh lễ. Các thánh vịnh nói với ai? Nếu chúng ta trả lời:” các thánh vịnh nói với Cha” thì có lẽ chúng ta đã trả lời hơi vội. Thật vậy, mặc khải về Cha chỉ mới chớm nở trong Cựu Ước: duy một mình Chúa Con mới bộc lộ Chúa Cha và chúc tụng ngợi khen Người.

Tuy thế, có rất nhiều câu trong các thánh vịnh hoàn toàn phù hợp với Cha: các câu ấy ngợi khen Cha vì Người trung tín, xót thương, quyền năng và khôn ngoan sáng tạo. Hơn nữa, các thánh vịnh thường coi Thiên Chúa là Cha của nhà vua hay của Đấng Thiên Sai sẽ đến sau này. Vậy thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi các Ki-tô hữu coi Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Các lời nguyện của thánh lễ

Trừ một vài ngoài lệ tương đối mới xẩy ra (từ hai thế kỷ nay) các lời nguyện của thánh lễ nói với Chúa Cha: các lời nguyện trên cộng đoàn, các lời nguyện trên lễ vật, các lời nguyện sau rước lễ. Vì các lời nguyện đó luôn khởi đầu và kết thúc giống nhau, nên người nghe đãng trí có thể nghĩ rằng các lời nguyện ấy luôn nói lên cùng một chuyện và vì thế mà không đáng quan tâm. Thật đáng tiếc, vì chưng các lời nguyện ấy rất mộc mạc về thể văn, nhưng lại rất phong phú về nội dung thiêng liêng. Hy vọng một vài ví dụ trích trong cuốn sách nhỏ đủ giúp bạn xác tín về điều đó. Chúng ta đáng bỏ công đọc các lời nguyện của 34 chủ nhật mùa thường niên, và tự đặt câu hỏi này: Thiên Chúa mà các lời nguyện dâng lên là Đấng Thiên Chúa nào vậy?

Các kinh nguyện Thánh Thể

Tất cả các kinh nguyện Thánh Thể đều nói với Cha, dù cũ hay mới, dù của Giáo hội Đông phương hay Giáo Hội Tây phương. Thánh Thể, Lễ Tạ Ơn, hướng về Cha vì tất cả từ Cha mà có. Tất cả các kinh nguyện Thánh Thể đều mang chiều kích ấy nhưng kinh nguyện Thánh Thể IV là một minh họa rõ nhất.

Nhưng Cha không chỉ là cội nguồn mọi sự. Người còn là Đấng mà Lễ Tạ Ơn được dâng lên nhờ Con, làm một với Giáo Hội được tràn đầy Thần Khí. Vì thế cho nên kinh nguyện Thánh Thể kết thúc bằng một lời cầu xin Cha: chúng ta dâng lên Người “tất cả mọi danh dự và vinh quang” nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô và trong Đức Kitô, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần. Dĩ nhiên, lời nguyện ấy sẽ được kết bằng câu Amen nói với Cha và bằng Kinh Lạy Cha mà cả cộng đoàn cùng hát.

* Kinh Lạy Cha

Kinh Lạy Cha chiếm vị trí trung tâm đến nỗi mỗi khi các Giáo Phụ bàn về cầu nguyện là các ngài chú giải về Kinh Lạy Cha. Cũng giống như vậy, trong cuốn Giáo Lý của Giáo hội Công giáo, một nửa của phần thứ tư, về cầu nguyện, đã được dành cho Kinh Lạy Cha.

Ở đây, chúng ta có thể bằng lòng mà nhận định rằng Kinh Đức Giêsu đã dạy hướng về Chúa Cha. Tất cả nội dung của Kinh này, nhất là các lời cầu xin đi liền sau lời xưng tụng ở đầu, là những mặc khải về Cha: Thật ra, Đức Giêsu chỉ có thể khuyên chúng ta cầu xin những gì phù hợp với Cha. Cha tự bộc lộ mình ra cho chúng ta bằng những thái độ mà Người đề nghị với chúng ta.

Nếu mọi Kitô hữu đều thường dùng Kinh Lạy Cha trong cầu nguyện cá nhân cũng như trong cử hành phụng vụ, thì không phải vì thế mà Kinh ấy dễ hiểu. Có điểm giống nhau giữa Kinh Lạy Cha và một đoạn văn quan trọng khác của Phúc Am tức các Mối Phúc, là chỉ gồm một vài câu ngắn gọn, xem ra đơn sơ, nhưng chỉ khi đã quen với Cựu Ước chúng ta mới có thể hiểu đúng nghĩa các từ chúng ta nghe hay chúng ta đọc.

Lạy Cha chúng con ở trên trời

Kinh Lạy Cha được hai Phúc Am Mátthêu và Luca lưu truyền lại cho chúng ta. Có một vài khác biệt không đáng kể, nhưng có vài khác biệt khác rất sâu sắc. Trước hết là lời xưng tụng ở đầu. “Lạy Cha chúng con, Đấng (ngự) trên trời” (Mátthêu) hoặc chỉ “Lạy Cha” (Luca). Cả hai cách xưng tụng trên đều đáng được trân trọng.

Lời xưng tụng của Thánh Mátthêu mang đầy ý nghĩa vì tập hợp những yếu tố có trong Cựu Ước: Thiên Chúa là Cha Israen, nhưng không thể lẫn lộn Người với “cha Abraham của chúng ta”. Abraham đã sống ở trần gian này, còn Thiên Chúa thì ở trên trời.

Nét đặc trưng của lời xưng tụng mà chúng ta đã giữ lại trong lời kinh phụng vụ là khẳng định sự khác biệt tột cùng (“trời”) và sự gần gũi (“Cha chúng con”) ở bên cạnh nhau. Đức Giêsu, Đấng được Cha sai đến, đã mặc khải cho biết rằng hai khẳng định kia không hề mâu thuẫn với nhau:

Không ai đã ở trên trời

ngoại trừ Con Người,

Đấng từ trời xuống
(Ga 3, 13).

Thiên Chúa là “Cha chúng con”: khi cầu nguyện như vậy, chúng ta tăng cường mối giây huynh đệ Kitô của chúng ta và chúng ta cầu nguyện thay cho những người chưa nhận biết Cha nhưng lại đã yêu mến Người. Danh xưng “Cha” không có thêm một xác định gì khác, dành cho Thiên Chúa trong bản văn của Luca còn mạnh dạn hơn nữa. Dường như không một người Israen nào, vào thời Đức Giêsu, dùng danh xưng này để nói trực tiếp với Thiên Chúa. Tính mạnh dạn còn lớn hơn nữa nếu sau chữ Hy lạp của Luca (“cha”) là chữ aramiêng (“ábba”: cha). Trong Phúc Âm chỉ một mình Đức Giêsu đã xưng tụng như vậy, tại Ghếtxêmani: Thánh Maccô đã lưu giữ kỷ niệm quí giá ấy (14, 36).

Nhưng đặc quyền của Đức Giêsu đã trở thành kho tàng chung của tất cả những người đã lãnh nhận Thần Khí của Đức Giêsu:

Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Vì Thần Khí mà anh em đã lãnh nhận, đâu phải là tinh thần nô lệ, khiến anh em phải sợ sệt như xưa; nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên “Abba: Cha ơi!” (Rm 8, 14-15).

Theo Thánh Phaolô thì Tin Mừng là việc loan báo rằng từ nay chúng ta “được mạnh dạn và tin tưởng đến gần Thiên Chúa, trong Đức Kitô và nhờ tin vào Đức Kitô” (Ep 3, 11). Sự mạnh dạn, không còn sợ sệt đi chung với lời xưng tụng Thiên Chúa là “Cha”. Trong Thánh lễ, trước khi đọc Kinh Lạy Cha, linh mục chủ tế xác định: “….chúng con dám nguyện rằng” hoặc “chúng con dám tin tưởng mà nguyện rằng…”. Vì thế cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy một số nhà tâm linh đã cảm nghiệm lời xưng tụng đơn giản ấy: nó hàm chứa tất cả nét mới mẻ của Tin Mừng.

Danh Cha, Triều Đại Cha và Ý Cha

Những từ trên - nhất là hai từ đầu - rất thường gặp trong Thánh Kinh. Chúng được tìm thấy trong các lời cầu nguyện được sử dụng từ thời Đức Giêsu và kể cả ngày nay. Để canh tân việc đọc Kinh Lạy Cha, chúng ta nên trở về nguồn. Điều không kém phần quan trọng là đặt Kinh Lạy Cha bên cạnh những gì chính Đức Giêsu đã thực hiện: nơi Ngài, Danh Thiên Chúa đã được vinh quang (Ga 12, 28; 13, 31-32; 17, 4); nơi Ngài, đặc biệt khi Ngài trừ quỉ (Mt 12, 28), Triều Đại Thiên Chúa đã đến.

Việc đặt những lời cầu xin của Kinh Lạy Cha ở bên cạnh những điều Đức Giêsu thực hiện còn rõ hơn nữa khi liên quan tới “Thánh Ý” Thiên Chúa: chúng ta nghĩ ngay đến Ghếtsêmani. Nhưng không được quên rằng “thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thày” là “lương thực” của Đức Giêsu (Ga 4, 34).

Ba lời cầu xin lặp đi lặp lại nhau. Có nguy cơ là thích tách ba lời cầu xin đó ra khỏi lời xưng tụng ở đầu: Danh, Triều Đại và Ý không phải của một nhà vua độc đoán hay một người nào mà chúng ta không hề biết, nhưng là Danh, Triều Đại và Ý của một Người Cha. Có một nguy cơ khác là chúng ta tự đặt mình vào trung tâm lời cầu nguyện và cho rằng chính chúng ta là kẻ làm cho Danh Cha vinh hiển, Triều Đại Cha mau đến và Ý Cha thể hiện. Trong quan điểm Thánh Kinh thì chính Thiên Chúa là Người làm vinh hiển Danh Người:

Ta sẽ làm vinh hiển Danh lớn lao của Ta đã bị ô tục trong các dân tộc” (Gr 36, 23).

Bản dịch Thánh Kinh Đại Kết cũng đi theo chiều hướng này khi chuyển động từ trong các lời cầu xin của Kinh Lạy Cha từ thể thụ động sang thể chủ động.

Vậy tại sao lại cầu xin Cha làm vinh hiển Danh Người v.v..? Bởi vì Cha là Người có sáng kiến nhưng không hề áp đặt. Bằng lời cầu xin chúng ta tự nguyện đi vào cách nhìn của Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã cảnh báo chúng ta rằng “chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải” (Rm 8, 26). Rất may là Đức Kitô đã ban cho chúng ta Kinh Lạy Cha đề chúng ta cầu nguyện và đã sai “Thần Khí (là Đấng) đến giúp chúng ta là những kẻ yếu hèn”.

Lương Thực, Ơn Tha Tội, Chước Cám Dỗ

Ba lời cầu xin đầu tiên đã mở chân trời cho các lời cầu xin tiếp theo sau. Những lời cầu xin sau nói lên những gì chúng ta cần để Danh Cha được vinh hiển nơi chúng ta và qua chúng ta v.v… Hai câu đầu ăn khớp với những gì Đức Giêsu nói về Cha ở một chỗ khác. Các môn đệ có thể tin tưởng nơi Người hơn là nơi bất cứ một người cha trần gian nào khác (Lc 11, 9-13). Vì thế cho nên thật vô ích khi chúng ta tìm cách đảm bảo tương lai, vì tương lai không nằm trong tay chúng ta (Lc 12, 16-32). “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6, 34). Vả lại, trong Phúc Am luôn luôn khẳng định rằng việc từ chối tha thứ cho anh em là cản trở duy nhất cho việc đón nhận sự thứ tha của Thiên Chúa.

Ngược lại, lời cầu xin cuối cùng của Kinh Lạy Cha luôn khiến cho một số Ki-tô hữu bối rối. Ngày nay có bản dịch trong phụng vụ dịch là: “Xin đừng để chúng con phải cám dỗ”. Bản văn cổ tránh được khó khăn:” Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ”. Chắc chắn ý nghĩa đúng là như thế hay ít ra là có thể hiểu như thế. Nhưng bản dịch xa cách với những từ Hy Lạp được cả Mátthêu và Luca truyền lại giống y hệt nhau.

Tiếng La tinh phụng vụ gần hơn với nguyên bản: et ne nos inducas in ten-tationem, “xin đừng đưa chúng con vào chước cám dỗ”. Nhưng làm sao mà Thiên Chúa lại có thể đưa chúng ta vào chước cám dỗ cơ chứ? Mặt khác, Thánh Giacôbê khẳng định một cách rõ ràng rằng Thiên Chúa không thể là tác gỉa của chước cám dỗ được (1, 13).

Xì căng đan càng lớn vì Thiên Chúa mà chúng ta cầu xin là “Cha chúng con”. Nếu - như Đức Giêsu nói - ngay cả một người cha xấu ở trần gian còn cho con mình những gì tốt đẹp, làm sao Cha trên trời lại có thể gây sự dữ cho chúng ta? Thánh Mát- thêu, bằng lời cầu xin cuối cùng của Kinh Lạy Cha cấm chúng ta suy nghĩ như vậy. Cần phải giải thích câu văn khó khăn này dưới ánh sáng Tin Mừng. Đức Giêsu đã ra lệnh cho các môn đệ “anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22, 40). Tuy thế chính Ngài đã bị ma quỉ cám dỗ và Thánh Mátthêu đã không ngần ngại mà quả quyết rằng chính Thần Khí đã dẫn Ngài vào sa mạc để bị cám dỗ.

Có thể quả quyết rằng Đức Giêsu đã không “sa chước cám dỗ”? Đúng vậy, Ngài đã không để mình sa chước cám dỗ. Ngài không đi vào lô-gích của tên cám dỗ. Đương đầu với tên cám dỗ, mỗi câu trả lời của Ngài đều dứt khoát. Ngài giống như ba chàng trai trẻ bị ném vào trong lò lửa mà không hề bị lửa thiêu đốt (Dn 3, 27). Trong Kinh Lạy Cha, chúng ta cầu xin cho chúng ta được như vậy.

Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ

Lời cầu xin cuối cùng của Kinh Lạy Cha, theo Thánh Mátthêu, đáp lại ba lời cầu xin đầu: lời cầu xin ấy áp dụng cho ngày hôm nay, nhưng nhắm về thời cánh chung với chiến thắng nhãn tiền của Thiên Chúa trên sự chết như Sách Khải Huyền đã nhắc đến (21, 4).

Có thể lời cầu xin của Đức Giêsu cho các môn đệ, vào buổi tối của cuộc đại thử thách trong vườn Ghếtsêmani, soi sáng cho lời cầu xin cuối cùng của Kinh Lạy Cha:

Lạy Cha chí thánh,

(xin gìn giữ các môn đệ mà Cha đã ban cho con)

trong Danh Cha…..

Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian,

nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần.

Họ không thuộc về thế gian

cũng như Con đây không thuộc về thế gian.

Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ.

Lời Cha là sự thật
(Ga 17, 11. 15-17).

Lời cầu nguyện của người Do Thái thường kết thúc bằng một lời chúc tụng Thiên Chúa. Thánh Phaolô cũng kết các thư của ngài như thế: Rm 11, 36 và 16, 25-27. Do đó cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi một số thủ bản Phúc Am kết Kinh Lạy Cha bằng lời tán tụng Thiên Chúa giống như lời tán tụng mà linh mục hát cuối kinh nguyện Thánh Thể vậy.

Vì Triều Đại, Quyền Năng và Vinh quang thuộc về Cha đến muôn muôn đời!

Nếu Triều Đại thuộc về Thiên Chúa, thì chính Người làm cho Triều Đại ấy trị đến. Chúng ta hãy hài lòng làm con cái của Triều Đại ấy, và một cách khiêm cung, làm đầy tớ của Triều Đại ấy (Lc 12, 32 và 17, 10).

TÀI LIỆU II:

HAI HÌNH THÁI CỦA KINH LẠY CHA

Sau đây là hai hình thái của Kinh Lạy Cha, trước hết là hình thái dài của Mátthêu (chương 6) rồi đến hình thái ngắn của Luca (chương 11). Chữ đậm là phần chung.

Matthêu Luca
9b Lạy Cha chúng con,

Đấng ngự trên trời

Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển.
2b Lạy Cha

Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển
10.Triều đại Cha mau đến

Ý Cha thể hiện dưới đất

cũng như trên trời.
Triều đại Cha mau đến
11.Xin Cha cho chúng con hôm nay

lương thực hằng ngày
Xin Cha cho chúng con ngày nào có lương thực ngày ấy
Xin tha tội cho chúng con.

Như chúng con cũng tha cho những người

có lỗi với chúng con
.
4.Xin tha tội cho chúng con

vì chúng con cũng tha cho mọi

người mắc lỗi với chúng con.
Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ

nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ
Và xin đừng để chúng con

sa chước cám dỗ


* Bản văn nào là bản “nguyên thủy” mà Chúa đã dạy cho các Tông đồ?

Mỗi tác gỉa Phúc Am đều truyền lại Kinh Lạy Cha như bản kinh mà cộng đoàn Kitô hữu của các ngài vẫn thường đọc: cộng đoàn của Mátthêu gồm phần lớn là những người Do Thái trở lại và cộng đoàn của Luca gồm những người xuất thân từ dân ngoại. Xem ra bản văn của Luca cổ xưa hơn. Bản văn ấy lưu giữ độ dài nguyên thủy của lời cầu nguyện. Bản văn của Mátthêu sẽ gần với bản văn nguyên thủy về cách diễn tả phần chung của hai bản văn. Vì thế cho nên, để tìm lại Kinh Lạy Cha nguyên thủy, có lẽ phải lưu giữ những lời cầu xin của Luca và đọc chúng theo câu văn của Mát-thêu.

* Đức Giêsu đã dạy Kinh Lạy Cha trong ngôn ngữ nào?

Một số nhà chú giải chủ trương rằng Đức Giêsu đã dạy Kinh Lạy Cha cho các môn đệ bằng tiếng Hibri, là ngôn ngữ được dùng vào thời đó trong các buổi cầu nguyện chính thức của Đền thờ và Hội đường. Một số nhà chú giải khác lại quả quyết rằng, vì là lời cầu nguyện cá nhân, Đức Giêsu có thể đã xử dụng ngôn ngữ thông thường là tiếng aramiêng. Xem ra gỉa thuyết thứ hai này có cơ sở hơn.

* Các tác giả Phúc Âm có chủ ý gì?

Kinh Lạy Cha xuất hiện trong những bối cảnh khác nhau của Phúc Am Mátthêu và Luca. Mátthêu đặt Kinh Lạy Cha vào Bài Giảng trên Núi, là một diễn từ dài thường được coi là hiến chương của đời sống Kitô hữu. Mátthêu muốn cho thấy tầm quan trọng của cầu nguyện trong đời sống luân lý Kitô giáo. Còn Luca trình bày tính sư phạm của Lời cầu nguyện mà Đức Giêsu đã thực hiện. Các môn đệ đã xin Chúa: “Lạy Thày, xin Thày dạy chúng con cầu nguyện”. Đối với Luca, lời cầu nguyện này có một tầm quan trọng đặc biệt, vì nơi Đức Giêsu và chỉ nơi một mình Ngài, Thiên Chúa mặc khải là Cha. Do đó Kinh Lạy Cha diễn tả sự chờ mong sự can thiệp mang tính quyết định của Thiên Chúa.

TÀI LIỆU III:

NGUỒN GỐC DO THÁI CỦA KINH LẠY CHA

Có những lời cầu nguyện của người Do Thái ẩn đàng sau mỗi lời cầu xin của Kinh Lạy Cha. Sau đây là một số lời cầu nguyện đó. Chúng ta sẽ thấy sự phong phú hàm chứa trong đó. Những lời cầu nguyện có từ thời xưa ấy mời gọi chúng ta khám phá ra ý nghĩa mới của những từ quá quen thuộc.

Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời

Lạy Cha chúng con, xin Cha giúp chúng con quay về với Lề Luật…Xin Cha tha tội cho chúng con, lạy Cha chúng con….(Lời chúc tụng thứ 5 và thứ 6);

Lạy Cha chúng con, Lạy Vua chúng con…. Cha đã đoái thương chúng con.

Lạy Cha chúng con, Lạy Cha của lòng xót thương, Lạy Cha là Đấng xót thương, xin Cha thương xót chúng con! (Lời nguyện thứ 2 trước Shema” Ahavah rabbah”).

Ước gì mọi lời khẩn nguyện và cầu xin của Is-ra-en được Cha là Đấng ngự trên trời đoái nhận (Qaddish).

Xin làm cho Danh thánh Cha vinh hiển

Cha là Đấng thánh và danh Cha là thánh và các thánh chúc tụng Cha mọi ngày. Lạy Chúa là Thiên Chúa thánh thiện, chúc tụng Chúa! Chúng con chúc tụng Danh Cha dưới thế trần cũng như danh Cha được chúc tụng trên trời cao (Lời chúc tụng thứ 3).

Xin cho Danh Người được chúc tụng và vinh hiển trong thế giới mà Người đã tạo dựng theo Ý Người (Qaddish).

Triều đại Cha mau đến

Xin Người thiết lập Triều đại Người khi con còn sống và khi cả nhà Is-ra-en còn sống, Xin Người mau thiết lập Triều đại ấy, trong những ngày sắp tới (Qaddish).

Lạy Vua chúng con, từ nơi Người ngư, xin chiếu sáng và thống trị trên chúng con, vì chúng con trông chờ Người trị vì trên Si-on (Lời chúc tụng thứ ba của ngày Sa-bát).

Lạy Chúa là Chúa duy nhất, xin hãy tái thiết các thẩm phán…và xin hãy thống trị trên chúng con bằng tình yêu và lòng xót thương… Lạy Chúa, lạy Vua chúc tụng Người là Đấng yêu mến sự công minh chính trực (Lời chúc tụng thứ 11).

Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời

Lạy Chúa, Ý Chúa là dẫn chúng con vào Lề Luật và làm cho chúng con gắn bó với các giới răn của Chúa (Kinh Sáng).

Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày

Chúa nuôi kẻ sống bằng tình yêu, Chúa làm cho người chết sống lại bằng lòng thương xót bao la, Chúa đỡ nâng người sa ngã, Chúa chữa lành người bệnh và giải phóng kẻ tù tội. Có ai như Chúa, lạy Chúa Tể toàn năng? (Lời chúc tụng thứ 2).

Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con

Lạy Cha chúng con, xin Cha tha cho chúng con, vì chúng con đã phạm tội; Lạy Vua chúng con, xin tha cho chúng con, vì chúng con đã sa ngã, vì Cha là Đấng thứ tha. Lạy Chúa, chúc tụng Chúa là Đấng xá tội và tha thứ nhiều lần (Lời chúc tụng thứ 6).

Xin tha tội chúng con như chúng con cũng tha cho những người đã làm chúng con phải đau khổ (Phụng vụ Yom Kippour).

Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ

Xin đừng để chúng con rơi vào quyền lực của tội lỗi, của xúc phạm, lỗi lầm, của cám dỗ và ô nhục. Xin đừng để sự hướng chiều về sự dữ thắng thế trong chúng con (Kinh Sáng).

Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ

Xin Chúa đoái nhìn sự hèn hạ của chúng con và chiến đấu thay chúng con. Xin hãy mau mau giải thoát chúng con vì Danh Chúa vì Chúa là Đấng giải thoát toàn năng. Lạy Chúa, Lạy Đấng giải thoát Israen, chúc tụng Chúa (Lời chúc tụng thứ 7).

Chúng ta hãy trích thêm hai lời nguyện rất cổ nữa trong đó Thiên Chúa được xưng tụng là Cha Israen. Trong các lời cầu nguyện của phụng vụ hội đường - tức cộng đoàn chứ không phải cá nhân -Thiên Chúa được gọi là “Vua” và là “Cha”:

Lạy Cha chúng con! Lạy Vua chúng con!

Vì cha ông tổ tiên chúng con tin tưởng nơi Cha và Cha đã dạy họ luật sống, xin thương xót chúng con, xin dạy dỗ chúng con. Lạy Cha chúng con! Cha của lòng từ bi, Cha là Đấng xót thương! Xin hãy thương xót chúng con! (Kinh Ahavah rabba, trước thời Đức Ki-tô).

Lạy Cha chúng con! Lạy Vua chúng con!

Chúng con không có Vua nào ngoài Cha;

Lạy Cha chúng con, Lạy Vua chúng con, vì Cha là Cha và là Vua chúng con xin hãy thương xót chúng con.
(Kinh cầu cho Năm Mới, thế kỷ thứ nhất của Công nguyên).

Như vậy là chúng ta nhận thấy rằng tất cả mọi yếu tố của Kinh lạy Cha đã có trong các lời cầu nguyện của người Do Thái, có lẽ vào thời sau Đức Giêsu một chút. Lời cầu nguyện của người Do Thái cũng trở thành lời cầu nguyện của các Kitô hữu, nhờ đó mà người Do thái và Kitô hữu tìm thấy những cội rễ chung.

Nhưng một số từ ngừ, kiểu nói của lời cầu nguyện mang một ý nghĩa khác tùy theo mỗi truyền thống. Ví dụ kiểu nói” Triều đại Thiên Chúa đến” đối với Kitô hữu không còn âm vang như đối với người Do Thái, là những người sống tản mác trong cảnh lưu đầy, dưới sự thống trị của ngoại bang.

(Ba tài liệu trên được dịch từ một cuốn sách về Năm Chúa Cha, 1998)

TÀI LIỆU IV:

CON ĐƯỜNG CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ ĐỨC GIÊ-SU

(Mc 8,22-26; 8,34-9,1; 9,33-55 & 10,35-45.46-52)

1. Lời Giáo huấn về người môn đệ (Mc 8,34- 9,1; 9,33-33; 10,35-45).

1.1 Chỉ có một lời tuyên xưng Đức Tin được Đức Giêsu chấp nhận, đó là lời tuyên xưng dẫn các môn đệ đến chỗ hiểu về môn đệ tính (discipleship) phù hợp với luật lệ của bản chất đích thực của Thiên Chúa và phù hợp với Kitô học. Đức Giêsu sẽ cắt nghĩa điều đó một cách rõ ràng cho các môn đệ, nhưng vì tầm quan trọng của môn đệ tính, Người gọi đám đông lại để họ cùng nghe: ”Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” Con đường dẫn vào qui luật của thực tại Thiên Chúa bắt đầu bằng cái chết, như là đã xẩy ra với Đức Giêsu. Đó là cái kinh nghiệm về sự chết, nó chấm dứt mọi liên lụy trong hành động, luật lệ đạo đức, ham muốn quyền lực gắn liền với quá trình cứu độ của thế giới hiện nay. Hơn nữa giống như cái chết trên thập giá, một cái chết chậm chạp và đau đớn vì ý nghĩa của nó loại bỏ các giá trị mà quyền lực truyền bá.

1.2 Nhưng “ai liều mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”. Khẳng định này nói lên sự đồng hóa giữa Đức Giêsu và Tin mừng của Thiên Chúa. Nhưng Đức Giêsu với tư cách là Con Người (Mc 8,38) sẽ dẫn đường để tái lập trật tự thế giới mà trong đó giá trị một con người được quyết định bởi việc người đó là người thế nào (being), chứ không bởi việc người đó có những gì (having). Chúng ta sẽ đạt được sự sống vượt xa kinh nghiệm về cái chết trong việc vác thập giá mình và đi theo Đức Giêsu. Đó là sự sống đời đời, vì sự sống ấy có được là nhờ thông qua việc tái tạo dựng của Thiên Chúa là Đấng ban sự sống và thông qua sự hội nhập vào sự sống không bao giờ tàn của nhân loại mới.

1.3 Vì thế, sự đáp trả của con người với Con Người và trật tự mới của Triều đại Thiên Chúa mà Người khánh thành, sẽ quyết định số phận của họ. “Giữa thế hệ ngoại tình và tội lỗi này, ai hổ thẹn vì tôi và những lời tôi dậy, thì Con Người cũng sẽ hổ thẹn vì kẻ ấy, khi Người ngự đến cùng với các thánh thiên thần, trong vinh quang của Cha Người.”. Những gì con người quyết định bây giờ sẽ quyết định số phận tương lai của họ, trong ngày quang lâm, khi Con Người đến (lần thứ hai).

1.4 Ý tưởng về việc Con Người đến (Mc 8,38) và việc Triều đại Thiên Chúa đến đầy uy lực (Mc 9,1) như một khẩu hiệu để thêm lời công bố “Nước Thiên Chúa đang đến gần” vào việc sưu tập các lời (8,34-38). Các ngôn sứ Cựu ước trông đợi ngày của Thiên Chúa xẩy ra trong tương lai gần trong mối liên hệ với các biến cố đương đại. Trong cơn thử thách và bách hại các ngôn sứ Kitô cũng nói với các tín hữu đang chịu đau khổ của mình như thế. Đối với Máccô, Con Người đến trong vinh quang để phán xét (Mc 8,38) và Triều đại Thiên Chúa đến đầy uy lực (Mc 9,1) cũng có cùng một chức năng. Đó là những lời khích lệ các Kitô hữu bị bách hại đang sống trong niềm hy vọng có một tương lai tốt đẹp hơn. Trong tương lai gần Triều đại Thiên Chúa sẽ được thiết lập “trong uy lực”. Câu nói “Triều đại Thiên Chúa đầy uy lực” tương phản với từ “Triều đại Thiên Chúa” đơn giản mà Máccô thường dùng trong Tin mừng. Điều đó nhắc nhớ đến việc thực hiện thực tại được thiết lập trong cuộc Phục sinh, nhưng ở một mức độ mới hay một mức độ mạnh mẽ hơn (so sánh Rm 1,4). Vì mối quan hệ của việc đó với con người Giêsu trong tư cách là Con Người, tình trạng mới là tình trạng được hoàn thành trong và nhờ sự Phục sinh từ trong cõi chết, sẽ thiết lập Triều đại Thiên Chúa trong uy lực đến muôn muôn đời. Điều đó sẽ xẩy ra trong cuộc sống của các môn đệ và nhiều người đã nghe Người nói. Có lẽ câu nói này ám chỉ đến chuyện Đức Giêsu biến đổi hình dạng sau đó.

2. Con đường của người môn đệ Đức Giêsu là con đường thập giá.

Trong khi kể chuyện Đức Giêsu, để đưa người nghe vào mầu nhiệm của Người, Máccô cũng đưa ra những mẫu người, cũng đơn sơ mộc mạc như các thính gỉa của Máccô, đã được Đức Giê-su dẫn vào trong mầu nhiệm của Người. Cách Đức Giêsu dẫn dắt và dạy dỗ bộc lộ cho người nghe con đường để trở thành môn đệ của Đức Giêsu. Con đường ấy có thể chia thành hai giai đoạn.

* Giai đoạn thứ nhất: đời sống môn đệ được đánh dấu bằng ba biến cố và xuyên qua ba bước:

a. Ba biến cố:

1o) Đức Giêsu gọi bốn người chài lưới để đi chinh phục người ta (Mc 1,16-20);

2o) Đức Giêsu chọn mười hai ông để ở lại với Người và để Người sai các ông đi (Mc 3,13-19);

3o) Và chính việc Người sai các ông đi (Mc 6,7-13).

b. Ba bước:

Bước 1: (Mc 1,16 - 3,6): Các ông không làm gì hơn là ở bên cạnh Đức Giêsu và Người bênh vực các ông;

Bước 2: (Mc 3,7 - 6,6): Các ông được đặt tương phản với những người thù ghét Đức Giêsu cũng như những người thân thuộc của Đức Giêsu, và tách khỏi đám đông: được dậy bảo riêng (Mc 4,1-34), được chứng kiến những phép lạ đặc biệt hơn (Mc 4,35-5,43).

Bước 3: Nhóm mười hai được sai đi rao giảng rồi được tham gia việc nuôi đám đông. Nhưng sự chậm hiểu và cứng tin của các ông như đi ngược chiều với những cố gắng của Đức Giêsu (Mc 4,13; 6,52; 7,18; 8,14-21), càng lúc đầu các ông càng đặc lại. Phép lạ Đức Giêsu chữa người mù (Mc 8,22-26) có tác dụng làm mẫu và mở mắt cho các ông trước khi Người hỏi các ông một câu quyết liệt.

* Giai đoạn thứ hai: ba lần Đức Giê-su loan báo cuộc Thương khó-Phục sinh và dạy về những đòi hỏi của đời môn đệ. Trước giáo huấn về thập giá các ông vẫn tỏ ra chậm hiểu, chậm tin. Giai đoạn này cũng kết thúc bằng việc Đức Giê-su chữa người mù và anh ta đi theo Người. Chỉ có Chúa là Đấng có quyền năng mở con mắt thể xác, mới có quyền năng mở con mắt linh hồn cho các ông.

Chỉ sau Phục sinh Đức Giê-su bắt đầu lại với các ông ở Ga-li-lê, các ông mới được biến đổi thật sự.

Con đường của Thầy là con đường Thập giá-Phục sinh thì người môn đệ cũng không có con đường nào khác ngoài con đường Thập gía và Phục sinh mà Thầy đã đi!

(Viết theo Lm Hendrickx Herman, CICM, trong cuốn A key to the Gospel of Mark, Claretian Publications, Quezon City, Philippines, 1992,1993,1994)

TÀI LIỆU V:

HOẠT ĐỘNG CỦA THÁNH THẦN TRONG GIÁO HỘI & XÃ HỘI NGÀY NAY

LỜI MỞ ĐẦU: THỜI ĐẠI CỦA THÁNH THẦN

Mầu nhiệm quan trọng nhất của Kitô giáo là Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Ba Ngôi toàn thiện, toàn mỹ, toàn chân, tự hữu từ đời đời. Ba Ngôi hiệp thông với nhau trọn vẹn và nhất trí trong mọi hoạt động: Sáng Tạo, Cứu Độ và Thánh Hóa. Nhưng để làm nổi bật nét đăng trưng của mỗi ngôi Thiên Chúa, người ta thường quan niệm rằng: Thiên Chúa Cha là Đấng Sáng Tạo, Thiên Chúa Con là Đấng Cứu Độ và Thiên Chúa Ngôi Ba tức Thánh Thần là Đấng Thánh Hóa. Thật ra thì Thiên Chúa chỉ có một, nên bất cứ một hoạt động nào của Thiên Chúa thì đều là hoạt động của Thiên Chúa Cha, Con và Thánh Thần cả. Phù hợp với cách phân công hoạt động trên, người ta cũng thích phân chia thời gian làm ba giai đoạn: Giai đoạn 1 từ trước khi có vũ trụ vạn vật cho đến hết thời Cựu Ước là giai đoạn Sáng Tạo của Thiên Chúa Cha. Giai đoạn 2 kể từ ngày Ngôi Lời nhập thể làm người nơi Đức Giêsu Nadarét cho đến ngày Người chết và phục sinh vinh quang là giai đoạn Cứu Độ của Thiên Chúa Con. Giai đoạn 3 kể từ ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các tông đồ vào Lễ Ngũ Tuần của năm 33 sau Công Nguyên (Xem Cv 2) cho đến ngày tận cùng thế giới là giai đoạn Thánh Hóa của Chúa Thánh Thần.

Vậy thì chúng ta hiện đang sống trong giai đoạn của Chúa Thánh Thần. Tông Huấn “Giáo Hội tại Châu Á” của Đức Gioan Phaolo II có đoạn viết:

Theo hướng dẫn của Công Đồng Vaticanô II, các Nghị phụ Thượng Hội đồng đã tập trung chú ý tới các hoạt động vừa nhiều vừa đa dạng của Chúa Thánh Thần, Đấng vẫn tiếp tục gieo các hạt giống chân lý vào các dân tộc, tôn giáo, văn hóa và tư tưởng của họ”.

Thế có nghĩa là Chúa Thánh Thần không ngừng hoạt động trong lòng Giáo Hội và xã hội loài người. Vậy thì điều vô cùng quan trọng là chúng ta biết nhìn ra hoạt động ấy mà trân trọng, đón nhận và cộng tác. Chúng ta không có đủ điều kiện để điểm lại hoạt động của Chúa Thánh Thần từ thời nguyên thủy mà chỉ nhìn lại một cách tổng quát các hoạt động ấy từ thời Đức Giêsu cho đến ngày nay mà thôi:

HOẠT ĐỘNG CỦA THÁNH THẦN TRONG CUỘC ĐỜI ĐỨC GIÊSU

Các sách Phúc Am đều nêu rõ vai trò của Chúa Thánh Thần từ sự kiện đầu tiên của Mầu Nhiệm Nhập Thể, khi sứ thần truyền tin cho ông Giuse (Mt 1,20-21) và bà Maria (Lc 1, 30-33) cho đến biến cố Khổ Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu. Trong suốt 33 năm trần gian, nhất là trong 3 năm sống công khai rao giảng Tin Mừng của Đức Giêsu, vai trò của Chúa Thánh Thần hết sức nổi bật. Có thể nói mọi hoạt động của Đức Giêsu đều có tác động của Chúa Thánh Thần.

HOẠT ĐỘNG CỦA THÁNH THẦN THỜI GIÁO HỘI KHAI SINH

Sách Tông Đồ Công Vụ, nhất là chương II, cho chúng ta thấy những thay đổi kỳ diệu mà Chúa Thánh Thần đã thực hiện trong và sau ngày Lễ Ngũ Tuần tức ngày Chúa Thánh Thần Hiện Xuống trên các môn đệ của Đức Giêsu:

1.- Sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần dưới hình lưỡi lửa, các tông đồ đã rao giảng về Đức Giêsu Kitô một cách hết sức kỳ diệu đến độ những người Do Thái sùng đạo từ khắp phương trời trở về Giêrusalem dự lễ Ngũ Tuần, đều hiểu được những điều các ngài nói vì họ nghe bằng chính ngôn ngữ bản xứ của mình!

2.- Các tông đồ từ tình trạng nhát gan, sợ sệt đã trở thành những con người hoàn toàn khác: can đảm và dũng cảm công bố Đức Giêsu là Chúa! Nhất là tông đồ Phêrô và Phaolô đã công khai rao giảng về Đức Giêsu vừa bị người Do Thái kết án và giết hại trên thập giá. Các ngài không sợ roi vọt, tù đầy, tra tấn -thậm chí cả cái chết- mà nhà cầm quyền dành cho các ngài.

3.- Các tín hữu tin theo Đức Giêsu trở thành một cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên với những nét độc đáo chưa từng thấy: chuyên cần nghe giảng dậy và siêng năng cầu nguyện và cử hành lễ bẻ bánh; đồng tâm nhất trí với nhau; yêu thương đùm bọc san sẻ cho nhau để không ai phải thiếu thốn.

Từ cộng đoàn nhỏ bé ấy Chúa Thánh Thần đã làm cho Giáo Hội phát triển đến mọi miền thuộc quả địa cầu này.

HOẠT ĐỘNG CỦA THÁNH THẦN QUA GIÒNG LỊCH SỬ 2000 NĂM CỦA GIÁO HỘI

Lịch sử Giáo Hội là lịch sử của Chúa Thánh Thần. Thật vậy nếu không có sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần, thì Giáo hội Công giáo Roma đã lụi tàn từ lâu rồi, vì chưng Giáo hội cũng trải qua những năm dài tăm tối và lịch sử của Giáo hội không phải không có những nét hoen ố do sự yếu đuối và tội lỗi của con người, kể cả của giới lãnh đạo cao cấp của Giáo hội. Thế nhưng Giáo hội vẫn tồn tại và phát triển vì Chúa Thánh Thần có đó: Ngài là sức sống là sự canh tân của Giáo hội. Một vài sự kiện giúp chúng ta nhận ra hoạt động đổi mới của Chúa Thánh Thần: (1) Các Công Đồng chung và riêng được tổ chức trong Giáo hội suốt 20 thế kỷ qua, nhằm củng cố giáo lý và canh tân đời sống Giáo hội; (2) Sự xuất hiện -liên tục- của các dòng tu và tu hội, với các vị sáng lập thánh thiện; (3) Các phong trào canh tân, các nỗ lực truyền giáo;

Tất cả những sự kiện ấy đều là những hoạt động nổi bật của Thánh Thần trong lòng Giáo hội và thế giới.

Gần chúng ta hơn, Công Đồng Vatican II (1962-1965) vẫn được coi là một Lễ Hiện Xuống Mới của thế kỷ XX. Nối tiếp Công Đồng là sự cải tổ, canh tân không ngừng của Giáo hội trong mọi lãnh vực và ở mọi cấp độ. Nổi bật nhất có lẽ bốn năm chuẩn bị mừng Năm Thánh 2000 với các Thượng Hội đồng Giám mục về các châu lục và các Tông huấn hậu Thượng đồng Giám mục được Đức Giáo Hoàng ban hành. Cao điểm nhất của việc cử hành Năm Thánh là việc Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II long trọng xin Thiên Chúa và nhân loại thứ tha cho những lầm lỗi yếu đuối của Giáo hội suốt hai ngàn năm qua.

HOẠT ĐỘNG CỦA THÁNH THẦN TẠI CHÂU Á XƯA & NAY

Về hoạt động của Chúa Thánh Thần tại Châu Á, Tông Huấn “Giáo hội tại châu Á” số 18 có đoạn viết:

Chúa Thánh Thần đã hoạt động tại châu Á vào thời các tổ phụ và các ngôn sứ, rồi còn hoạt động mạnh hơn nữa trong thời Đức Giêsu Kitô và Hội thánh sơ khai, nay vẫn đang hoạt động nơi các Kitô hữu châu Á để củng cố chứng tá đức tin của họ giữa các dân tộc, giữa các nền văn hóa và các tôn giáo của lục địa. Cũng như cuộc đối thoại tình yêu cao cả giữa Thiên Chúa và con người đã được Chúa Thánh Thần chuẩn bị và được hoàn thành trên miền đất Á châu này trong mầu nhiệm Đức Kitô, thì cuộc đối thoại hiện nay giữa Chúa Cứu Thế và các dân tộc của châu lục này cũng vẫn tiếp tục nhờ quyền năng của cùng một Thánh Thần đang hoạt động trong Giáo hội. Trong tiến trình này, các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân đều phải đóng vai trò quan trọng, như lời Đức Giêsu đã phán, vừa như một lời hứa vừa như một mệnh lệnh : «Anh em sẽ nhận được sức mạnh khi Thánh Thần đến với anh em; anh em sẽ là nhân chứng của Thầy tại Giêrusalem, trong toàn cõi Giuđê và Samari, cho tới tận cùng trái đất» (Cv 1, 8).

Giáo hội tin chắc rằng ẩn sâu trong các dân tộc, các nền văn hóa và tôn giáo của Á châu này luôn có một sự khao khát «nước hằng sống» (x. Ga 4, 10-15), một sự khao khát do chính Chúa Thánh Thần khơi dậy và chỉ mình Đức Giêsu Cứu Thế mới có thể thoả mãn. Giáo hội hướng về Chúa Thánh Thần xin Ngài tiếp tục chuẩn bị tâm hồn các dân tộc Á châu để họ đối thoại với Đấng Cứu Tinh nhân loại hầu đón nhận ơn cứu độ. Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần trong sứ mạng yêu thương và phục vụ, Giáo hội có thể tạo cơ hội cho Đức Giêsu Kitô và các dân tộc Á châu gặp gỡ nhau, đang khi họ tìm kiếm một cuộc sống sung mãn. Chỉ khi nào có cuộc gặp gỡ ấy người ta mới tìm được nước hằng sống vọt lên đem lại sự sống đời đời, nghĩa là sự nhận biết Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đức Giêsu Kitô do Ngài sai đến (x. Ga 17, 3)”.

Ở số 9 của Tông huấn, chúng ta thấy Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II làm nổi bật những luồng gió mới đang được Chúa Thánh Thần thổi vào trong lòng các dân tộc và các Giáo hội Á châu:

Thánh Thần Thiên Chúa đã luôn hoạt động trong lịch sử Giáo hội châu Á, hẳn cũng sẽ tiếp tục hướng dẫn Giáo hội ấy. Người ta tìm thấy nhiều yếu tố tích cực nơi các Giáo hội địa phương, mà các Nghị phụ thường lưu ý trong Hội nghị, điều này càng làm chúng ta thêm hy vọng vào «một mùa xuân mới trong đời sống đức tin của Kitô hữu». Một lý do vững chắc cho phép ta hy vọng như thế là càng ngày càng có nhiều giáo dân được huấn luyện tốt hơn, nhiệt tình và đầy ơn Thánh Thần, nhận thức sâu sắc hơn ơn gọi riêng của mình trong cộng đoàn Giáo Hội. Trong số đó, các giáo dân giảng viên giáo lý là những người rất đáng cho chúng ta chân nhận và ca ngợi một cách đặc biệt. Các phong trào tông đồ và đặc sủng cũng là một ơn huệ do Chúa Thánh Thần ban cho, đem lại sức sống mới và nghị lực cho công việc đào tạo các giáo dân nam nữ, các gia đình và giới trẻ. Các hiệp hội và các phong trào của Giáo hội nhằm thăng tiến nhân phẩm và công lý đã giúp làm cho mọi người cảm nhận được tính phổ quát của sứ điệp Tin Mừng: mọi người đều được nhận làm con cái Thiên Chúa (x. Rm 8, 15-6).

Trong những cái mới mà Chúa Thánh Thần khơi dậy trong lòng các Giáo hội Á châu ngày nay, thì các Cộng đoàn Giáo hội Cơ bản (Basic Ecclesial Communities, viết tắt là BEC) và chứng tá của các Cộng đoàn ấy được các Nghị phụ Thượng Hội đồng Giám mục về châu Á và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đặc biệt đề cao:

Trong bối cảnh ấy và dựa trên kinh nghiệm mục vụ của mình, các Nghị Phụ nhấn mạnh tới giá trị của các Cộng đoàn Giáo hội Cơ bản như một phương thế hữu hiệu để cổ võ mọi người sống hiệp thông và tham gia trong các giáo xứ và giáo phận, và như một sức mạnh thật sự cho công cuộc Loan Báo Tin Mừng. Những tập thể nhỏ bé ấy sẽ giúp các tín hữu sống thành những Cộng đoàn Đức Tin, Cầu Nguyện và Yêu Thương như các Kitô hữu đầu tiên (x. Cv 2, 44-47; 4, 32-35). Các tập thể này còn giúp các thành viên sống Tin Mừng trong tinh thần yêu thương huynh đệ và phục vụ, từ đó trở thành điểm khởi hành vững chắc để xây dựng một xã hội mới, biểu hiện một nền văn minh tình thương. Cùng với Thượng Hội Đồng, tôi khuyến khích Giáo hội tại châu Á, chỗ nào có thể được, hãy coi các cộng đoàn cơ bản ấy như một nét tích cực trong công việc Loan Báo Tin Mừng của Giáo hội. Nhưng các cộng đoàn ấy chỉ thực sự hữu hiệu, khi biết hiệp thông với Giáo hội địa phương và Giáo hội toàn cầu, hiệp thông từ trong tâm hồn với các vị Chủ Chăn và Huấn Quyền của Giáo hội, biết dấn thân cho việc truyền giáo mở rộng, không rơi vào tình trạng cô lập và không để cho một ý thức hệ nào lợi dụng khai thác…” (Tông huấn “Giáo hội tại châu Á”, số 25)

THAY LỜI KẾT: ĐÁP LẠI LỜI MỜI GỌI

Vậy thì trách nhiệm và vinh dự của chúng ta là nhận ra các hoạt động muôn hình muôn vẻ của Chúa Thánh Thần trong lòng Giáo hội và Xã hội Việt Nam ta hiện nay để trân trọng, đón nhận. Chúng ta được Thiên Chúa mời gọi cộng tác với Ngài để làm cho các hoạt động ấy được lan tỏa và nhân lên mạnh mẽ và rộng khắp. Muốn thế chúng ta phải tỉnh thức, nhạy bén, cởi mở, biết chăm chú lắng nghe và chiêm ngắm, không thành kiến và biết trân trọng những luồng gió mới, những ý tưởng canh tân, những nỗ lực đi vào chiều sâu….xuất phát từ bất kỳ người nào, giới nào của Giáo hội và Xã hội.

Ngày 15 tháng 5 năm 2001.