TỪ GIÁO HỘI “PHỤC VỤ THĂNG TIẾN CON NGƯỜI”ĐẾN GIÁO HỘI “LÀM CHỨNG”

A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

Giúp các học viên cập nhật hóa sự hiểu biết và cách sống sứ mạng yêu thương, phục vụ và làm chứng của mình, trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ 3 này, theo tinh thần Công đồng Vatican II và Tông huấn “Giáo hội tại châu Á” của Đức Gioan Phaolô II.

B. TIẾP CẬN VẤN ĐỀ

1. Anh chị thấy trong mối tương quan với thế giới và con người Giáo hội có những thay đổi nào đáng kể sau Công đồng Vatican II?

2. Có người nói: Giáo hội tiền Công đồng Vatican II là Giáo hội chinh phục còn Giáo hội hậu Công đồng Vatican II là Giáo hội phục vụ: nhận xét ấy có phần nào đúng không?

3. Công đồng Vatican II và Tông huấn “Giáo hội tại châu Á” đem lại - cho Giáo hội Việt Nam nói chung và cho anh chị nói riêng - điều gì mới mẻ liên quan tới sứ mạng yêu thương phục vụ và làm chứng của Giáo hội và của người giáo dân?

C. HỌC HỎI THÁNH KINH & CÔNG ĐỒNG

I. GIÁO HỘI PHỤC VỤ THĂNG TIẾN CON NGƯỜI

1.1 Nền tảng Thánh Kinh:

* “Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Giacôbê và ông Gioan. Đức Giêsu gọi các ông lại và nói: Anh em biết: những người được coi là thủ lãnh các dân thì áp đặt trên họ quyền bá chủ, những người làm lớn thì áp đặt trên họ quyền hành của mình. Nhưng giữa anh em thì không phải như vậy: ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em; ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ mọi người. Vì con người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm gía chuộc muôn người” (Mc 10, 41-45; Mt 20, 24-28).

1.2 Giáo huấn của Công Đồng:

* “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ. Thực vậy, cộng đoàn của họ được cấu tạo bởi những con người đã được qui tụ trong Chúa Kitô, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong cuộc lữ hành về Nước Cha và đã đón nhận Tin Mừng cứu rỗi đem đến cho mọi người. Vì thế cộng đoàn ấy mới nhận thấy mình thực sự liên hệ mật thiết với loài người và lịch sử nhân loại”

(Lời mở đầu Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, số 1).

* “Ngày nay, tuy đã cảm phục trước những khám phá và quyền lực mình, nhân loại vẫn thấy lo lắng thắc mắc về sự tiến hóa hiện nay của thế giới, về chỗ đứng và phận vụ con người trong vũ trụ, về ý nghĩa của những cố gắng cá nhân cũng như tập thể, và sau hết về cùng đích của con người và muôn loài. Vì thế, khi minh chứng và trình bày Đức Tin của toàn thể dân Chúa đã được Chúa Kitô đoàn tụ, để diễn tả thực hùng hồn mối tình liên đới, sự tôn trọng và quí mến của dân Chúa với gia đình nhân loại mà mình là một thành phần, Công đồng thấy hay hơn hết là phải thiết lập cuộc đối thoại về những vấn đề ấy, phải lấy ánh sáng Phúc âm mà soi dẫn, và phải cho nhân loại những năng lực cứu rỗi mà chính Giáo hội đã nhận được nơi Đấng Sáng Lập, nhơ Chúa Thánh Thần hướng dẫn…..

* “Không bị một tham vọng trần thế nào thúc đẩy, Giáo hội chỉ nhắm mỗi một điều là dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, Giáo hội tiếp tục công cuộc của chính Chúa Kitô, Đấng đã đến thế gian để làm chứng nhân cho chân lý, để cứu rỗi chứ không luận phạt (xem Ga 18,37), để phục vụ chứ không để được hầu hạ (xem Ga 3,17; Mt 20,28; Mc 10, 45).

(Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, số 3).

1.3 Triển khai của Tông huấn “Giáo hội tại châu Á”

* “Trong việc phục vụ gia đình nhân loại, Giáo hội tìm cách tiếp cận với mọi người không phân biệt nam nữ, cố gắng cùng với họ xây dựng một nền văn minh tình thương, dựa trên các giá trị phổ quát như hòa bình, công lý, liên đới và tự do, những giá trị ấy được kiện toàn nơi Đức Kitô. Như Công đồng Vatican II đã phát biểu một cách rất đáng ghi nhớ: «Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ» Nếu thế, Giáo hội tại châu Á với đông đảo người nghèo và người bị áp bức được mời gọi hiệp thông trong sự sống, thể hiện đặc biệt qua việc yêu thương phục vụ người nghèo và những người không được bảo vệ.

Gần đây càng ngày Huấn quyền Giáo hội càng nhấn mạnh nhiều hơn tới nhu cầu phải đẩy mạnh sự phát triển con người vừa đích thực vừa toàn diện, đó là để đáp ứng với tình cảnh hiện thực của các dân tộc trên thế giới, cũng như đáp lại sự ý thức ngày càng tăng rằng không những hành vi của cá nhân mà còn của cả các cơ cấu trong đời sống xã hội, chính trị và kinh tế nhiều khi thù nghịch với sự ấm no hạnh phúc của con người. Những sự mất cân đối do hố sâu ngày càng tăng giữa một bên là những người đang thừa hưởng khả năng ngày một lớn trên cả thế giới để làm giàu, và một bên là những người bị gạt ra bên lề sự tiến bộ, những mất cân đối đó buộc chúng ta phải thay đổi triệt để não trạng cũng như cơ chế để đem lại lợi ích cho con người. Một thách đố tinh thần rất lớn có liên hệ đến sự phát triển mà các quốc gia và cộng đồng quốc tế phải đương đầu, chính là phải có can đảm xây dựng một tình liên đới mới, có khả năng đưa ra những sáng kiến tân tiến và hữu hiệu để khắc phục tình trạng kém phát triển có hại cho nhân phẩm cũng như tình trạng «phát triển quá độ», đang nhằm giản lược con người thành một đơn vị kinh tế càng ngày càng chịu áp lực của cả một mạng lưới tiêu thụ. Để tạo nên sự thay đổi ấy, «Giáo hội không đưa ra những giải pháp mang tính kỹ thuật», mà chỉ xin «trước hết là góp phần vào việc giải quyết vấn đề khẩn cấp về phát triển khi Giáo Hội công bố sự thật về Đức Kitô, về bản thân Giáo hội và về con người, bằng cách đưa sự thật ấy vào trong một tình huống cụ thể». Cuối cùng, sự phát triển con người không bao giờ là một vấn đề thuần túy kỹ thuật hay kinh tế; mà tự căn bản đó chính là một vấn đề nhân bản và đạo đức.

Học thuyết xã hội của Giáo hội, đưa ra một loạt các nguyên tắc để suy nghĩ, các tiêu chuẩn để phê phán và các chỉ dẫn để hành động, là học thuyết được gửi tới trước hết cho các thành viên của Giáo hội. Các tín hữu tham gia vào việc thăng tiến con người nhất thiết phải nắm thật vững toàn bộ giáo huấn quý giá này, xem đó như là một phần thiết yếu của toàn bộ sứ mạng phúc âm hóa. Thế nên, các Nghị phụ Thượng Hội đồng đã nhấn mạnh tới tầm quan trọng phải huấn luyện vững chắc các tín hữu về học thuyết xã hội của Giáo hội qua các hoạt động giáo dục, nhất là qua các chủng viện và các cơ sở đào tạo. Các Kitô hữu ở cương vị lãnh đạo trong Giáo hội và Xã hội, nhất là các giáo dân có trách nhiệm trong đời sống công cộng, cần được đào tạo kỹ lưỡng trong học thuyết này để họ có thể tạo cảm hứng và truyền sức sống cho xã hội dân sự và những cơ cấu xã hội, bằng chính men Tin Mừng. Học thuyết xã hội của Giáo hội không những nhắc nhở các Kitô hữu ở cương vị lãnh đạo về bổn phận của họ, mà còn đề xướng cho họ những đường hướng để hoạt động nhằm phục vụ sự phát triển con người, và giải thoát họ khỏi những ý niệm sai lạc về con người cũng như về sinh hoạt của con người.

(Tông huấn “Giáo hội tại châu Á”, chương VI, số 32).

II. GIÁO HỘI LÀM CHỨNG

2.1 Nền tảng Thánh Kinh:

* “Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến. Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Đức Giêsu đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dậy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 18-20).

* “Bấy giờ những người đang tụ họp ở đó hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ítraen không?” Người đáp: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1, 6-8).

2.2 Giáo huấn Công đồng:

* “Tự bản chất, Giáo hội lữ hành phải truyền giáo, vì chính Giáo hội bắt nguồn từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo Ý định của Thiên Chúa Cha

(Sắc lệnh Truyền Giáo, số 2).

* “Vì toàn thể Giáo hội là truyền giáo và vì công việc rao giảng Phúc âm là nhiệm vụ căn bản của Dân Chúa, nên thánh Công đồng mời gọi mọi người canh tân tự thâm tâm mình, để khi đã tích cực ý thức trách nhiệm riêng trong việc truyền bá Phúc âm, mọi người góp phần vào công việc truyền giáo nơi muôn dân

(Sắc lệnh Truyền Giáo, số 35).

* “Tất cả các Kitô hữu vì là chi thể của Chúa Kitô hằng sống, được sáp nhập và nên giống Người nhờ Bí tích Rửa tội, Thêm sức và Thánh thể, nên họ có bổn phận phải cộng tác vào việc phát triển và bành trướng Thân thể Người, để Thân thể này được sung mãn càng sớm càng hay”

(Sắc lệnh Truyền Giáo, số 36).

2.3 Triển khai của Tông huấn “Giáo hội tại châu Á”:

* “Công Đồng Vaticanô II đã dạy rõ ràng rằng toàn thể Giáo hội đều phải truyền giáo, công việc phúc âm hóa là nhiệm vụ của toàn thể Dân Chúa. Vì toàn thể Dân Chúa đều được sai đi rao giảng Tin Mừng, nên phúc âm hóa không bao giờ là một công việc riêng lẻ của cá nhân, nhưng luôn luôn là một công việc chung của cả Giáo Hội, phải được thi hành trong sự hiệp thông với toàn thể cộng đoàn đức tin. Sứ mạng chỉ có một và không thể chia năm sẻ bảy, vì chỉ có một gốc và chỉ một mục tiêu. Nhưng trong sứ mạng ấy có những trách nhiệm khác nhau và những hình thức hoạt động khác nhau. Dù sao chăng nữa, rõ ràng là không thể nào có sự công bố Tin Mừng thực sự, nếu các Kitô hữu không lấy đời sống mình làm chứng tá, đi đôi với sứ điệp mà mình rao giảng: «Hình thức làm chứng đầu tiên là chính cuộc sống của người truyền giáo, của gia đình Kitô hữu và của cộng đoàn Giáo hội, cuộc sống này giới thiệu một cung cách sống mới... Mọi người trong Giáo hội, cố gắng bắt chước Tôn Sư của mình thì đều có thể và đều có bổn phận phải làm chứng theo hình thức này, nhiều khi, đó lại là cách duy nhất để truyền giáo». Nhất là ngày nay người ta đang cần đến hình thức chứng tá đích thực của Kitô Giáo, vì «con người hôm nay tin tưởng các chứng nhân hơn là thầy dạy, tin vào kinh nghiệm hơn là bài vở, tin vào cuộc sống và hành động hơn là lý thuyết». Điều này thật đúng trong bối cảnh Á châu hiện nay, nơi người ta dễ bị thuyết phục bởi một đời sống thánh thiện hơn là bởi các lý luận của trí tuệ. Vì thế, kinh nghiệm đức tin và kinh nghiệm về các ơn của Chúa Thánh Thần phải là nền tảng cho toàn bộ công cuộc truyền giáo, bất luận ở thành thị hay thôn quê, ở trường học hay bệnh viện, ở giữa những người tàn tật, di cư hay các bộ tộc, hoặc theo đuổi thực hiện công bằng và các quyền con người. Hoàn cảnh nào cũng là cơ hội thuận tiện cho các Kitô hữu bày tỏ sức mạnh mà sự thật của Đức Kitô đã mang lại cho đời sống của họ. Cảm kích trước nhiều nhà truyền giáo trong quá khứ đã từng làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa một cách anh hùng ở giữa các dân tộc trên lục địa này, ngày nay Giáo hội tại Châu Á cũng không kém phần hăng hái khi cố gắng làm chứng về Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Ngài. Sứ mạng của người Kitô hữu không cho phép kém nhiệt tâm.

Ý thức về bản chất truyền giáo của Giáo hội trong khi chờ đợi ngày Chúa Thánh Thần tuôn đổ sức mạnh của Người xuống một lần nữa, đang khi Giáo hội đi vào ngàn năm mới, các Nghị phụ Thượng Hội đồng thỉnh cầu Tông huấn hậu Thượng Hội đồng sẽ đưa ra một vài chỉ thị và đường hướng cho những ai đang làm việc trong cánh đồng truyền giáo bao la của châu Á này.

Chính Chúa Thánh Thần đã giúp Giáo hội có khả năng hoàn thành sứ mạng do Đức Kitô trao cho. Trước khi sai các môn đệ ra đi làm chứng nhân, Đức Giêsu đã ban cho họ Chúa Thánh Thần (x. Ga 20,22); Thánh Thần làm việc thông qua họ và đánh động con tim của những người lắng nghe họ (x. Cv 2,37). Điều này cũng đúng đối với những người được Ngài sai đi hôm nay. Ở một mặt nào đó, tất cả những người đã chịu phép Rửa, thì chính ơn bí tích này, họ đều được trạch cử tham gia vào việc tiếp nối sứ mạng cứu độ của Đức Kitô, và họ có khả năng làm việc này chính nhờ Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng họ nhờ Chúa Thánh Thần mà Ngài ban cho họ (x. Rm 5,5)”.

(Tông huấn “Giáo hội tại châu Á”, chương VII, số 42).

D. THẢO LUẬN & ỨNG DỤNG

1.- Liên quan tới sứ mệnh phục vụ thăng tiến con người:

1. Tại sao Giáo hội công giáo và người công giáo quan tâm đến con người và các vấn đề của con người? Sự quan tâm ấy được thể hiện bằng cách nào? Anh chị có cách thể hiện riêng mình không? Cách ấy thế nào?

2. Khi nói về “Giáo hội phục vụ thăng tiến con người” Tông huấn “Giáo hội tại châu Á” nhấn mạnh đến việc phát triển con người “đích thực và toàn diện”. Theo anh chị thì thế nào là phát triển con người đích thực và toàn diện? Làm thế nào để con em chúng ta phát triển đích thực và toàn diện?

2.- Liên quan tới sứ mệnh làm chứng:

1. Để Giáo hội có thể làm chứng cho Tin Mừng, Tông huấn “Giáo hội tại Á châu” (chương V) nêu lên nhu cầu phải hội nhập văn hoá, phải đối thoại với các nền văn hoá, với các tôn giáo và với người nghèo. Theo anh chị thì Giáo hội Việt Nam cần thực hiện những gì trong giai đoạn này? Bản thân anh chị thực hiện được những việc gì?

2. Khi nói về “Những người làm chứng cho Tin Mừng” Tông huấn “Giáo hội tại châu Á” (chương VII) nhấn mạnh đến trách nhiệm làm chứng của hết mọi Kitô hữu, cách riêng của phụ nữ, của các gia đình, của trẻ em và giới trẻ. Theo anh chị thì người giáo dân và gia đình công giáo Việt Nam phải làm chứng như thế nào? Anh chị có cách làm chứng riêng của mình không? Cách ấy thế nào?

Đ. TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU I:

MỘT GIÁO HỘI ĐỔI MỚI TẠI CHÂU Á ĐỂ THI HÀNH SỨ MẠNG YÊU THƯƠNG VÀ PHỤC VỤ (A RENEWED CHURCH IN ASIA: A MISSION OF LOVE AND SER-VICE)

Nhập đề

Ta sẽ đổ Thần Khí Ta trên hết thảy người phàm. Con trai con gái các ngươi sẽ nói tiên tri, người gìa được báo mộng, thanh niên thấy thị kiến” (Ge 3,1).

Vào giây phút này của Năm Đại Xá mà nghe được những lời trên đây của ngôn sứ Giôel, người người nói tiên tri, được báo mộng và trông thấy thị kiến - lòng chúng tôi không thể không phấn khởi. Chúng tôi, các Giám mục trong Liên Hội đồng Giám mục Á châu, đang đứng ở ngưỡng cửa của một thế kỷ mới và thiên niên kỷ mới, thiên niên kỷ thứ ba kể từ cuộc giáng sinh của Đức Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu độ chúng ta, được Đức Maria, một phụ nữ châu Á sinh ra. Những điều kỳ diệu mà chúng tôi đang chứng kiến ấy thôi thúc chúng tôi dâng lời cảm tạ Thiên Chúa chí ái là Cha, Con và Thánh Thần.

Chúng tôi cảm tạ Chúa vì Con Ngài đã thực hiện cho chúng ta giấc mơ và thị kiến về một cuộc sống sung mãn (x. Ga 10,10). Chúng tôi cảm tạ Chúa vì “Thiên Chúa đã đổ Tình yêu của Người vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần đã được ban cho ta” (Rm 5,5). Chúng tôi cảm tạ Chúa vì cuộc Hiện Xuống vĩ đại trong thế kỷ này, tức Công đồng Vatican II, và vì tình thân hữu cũng như óc sáng tạo mục vụ do những hội nghị đều đặn của các Giáo hội châu Á đem lại.

Chúng tôi nhìn lại thế kỷ qua, một thế kỷ đã chứng kiến những tiến bộ hết sức ngoạn mục về khoa học và kỹ thuật trong lịch sử nhân loại. Trong thế kỷ ấy, các dân châu Á đã vất bỏ được ách thực dân và giành lại được vị trí của mình trong danh dự và tự do, vị trí trung tâm trong vở kịch nhân loại. Chúng tôi nhìn lại một thập kỷ của sự phát triển, hứa hẹn một thế giới mới mẻ và tuyệt vời, một thế giới của tình liên đới nhân loại và tiến bộ. Phụ nữ đang bước ra khỏi các vai trò truyền thống của mình để đòi có một vị trí chính đáng trong xã hội và Giáo hội.

Tuy nhiên, đối với người nghèo - nhất là đối với phụ nữ - sự tự do, tiến bộ, toàn cầu hóa và các thực tại khác đang tác động lên các dân tộc châu Á hiện nay không phải lúc nào cũng là những điều hay điều tốt thuần khiết. Chúng rất hàm hồ. Vì khi nhìn lại thế kỷ qua, chúng tôi nhớ đó là một trong những thế kỷ đẫm máu nhất của lịch sử với hai cuộc thế chiến và biết bao cuộc chiến nhỏ hơn. Toàn cầu hóa, mà không được hướng dẫn bởi những chuẩn mực pháp lý và luân lý, sẽ càng làm tăng thêm hàng triệu con người sống dưới mức nghèo khổ. Nó sẽ đẩy nhanh quá trình tục hóa, kéo theo óc tiêu thụ và đe dọa các gía trị sâu sắc hơn trong các nền văn hóa Á châu. Ngay trong xã hội châu Á người ta cũng gặp thấy nhiều cơ cấu áp bức khác như hệ thống đẳng cấp, các chế độ độc tài, tình trạng bóc lột các dân bản địa và các cuộc xung đột nội bộ. Sự tham nhũng lan tràn rộng ở các cấp chính phủ và xã hội đã trở thành những sự kiện cơm bữa.

Thế nên, chúng tôi tập trung về đây tại Samphran của Thái Lan trong Năm Toàn xá này để dừng lại mà suy nghĩ. Theo gương Đức Maria, chúng tôi ghi nhớ mọi sự ấy trong lòng. Một lần nữa, chúng tôi lại nghe thấy tiếng của Chúa Thánh Thần gửi cho các Giáo hội địa phương ở châu Á, tiếng gọi đến từ chính những nỗi hy vọng và lo âu của lục địa này. Tiếng gọi hãy đổi mới, tiếng gọi thi hành sứ mạng yêu thương và phục vụ một lần nữa. Tiếng gọi các Giáo hội địa phương hãy trung thành với các gía trị văn hoá, tâm linh và xã hội của châu Á, nhờ đó trỡ thành những Giáo hội địa phương đã thật sự hội nhập văn hóa. Tiếng gọi của Thánh Thần quả là làm chúng ta ái ngại. Vì thế còn lúc nào hay lơn lúc này là nhớ lại những hy sinh của các vị tử đạo châu Á, những người đã lắng nghe mệnh lệnh Đức Kitô bảo các Tông đồ hãy ra đi và đừng sợ hãi vì “Thầy sẽ luôn luôn ở với anh em (Mt 28,20)? Còn lúc nào hay hơn lúc này là nhớ lại những lời Đức Giêsu: “Hỡi đoàn chiên bé nhỏ, đừng sơ vì Cha anh em đã vui lòng ban Nước của Nguời cho anh em” (Lc 12,32)?

Chúng tôi lắng nghe tiếng gọi của Thánh Thần gửi tới chúng tôi qua Hội nghị đặc biệt về châu Á của Giám mục tại Roma năm 1998 và qua Tông huấn “Ecclesia in Asia” (“Giáo hội tại châu Á”). Chúng tôi mơ ước sẽ giúp cho các cộng đoàn chúng ta trở thành cộng đoàn của những người sẵn sàng xả thân bằng cách chia sẻ cho anh chị em châu Á của mình sự sống dồi dào mà Đức Giêsu đã ban cho chúng ta; Ngài là Đấng mà chúng ta tin là ”Sự Sống”. Chúng tôi mơ ước thấy được sự hòa giải giữa các anh chị em châu Á đã vì chiến tranh và các xung đột sắc tộc trở nên chia rẽ nhau. Chúng tôi xin bày tỏ sự liên đới với anh chị em mình tại Trung Quốc và tại các quốc gia chưa cho họ được hưởng sự tự do cần thiết để sống đức tin và thi hành sứ mạng. Chúng tôi hân hoan đón tiếp các đại diện đến từ các quốc gia Trung Á vừa giành được độc lập”

Phần I:

SỰ ĐỔI MỚI CỦA GIÁO HỘI CHÂU Á VIỄN TƯỢNG, Ý NGHĨA

VIỄN TƯỢNG CỦA SỰ ĐỔI MỚI


Một thiên niên kỷ mới ló dạng là bắt đầu một thời kỳ khủng hoảng. Thế nhưng theo như Thánh Kinh và toàn bộ lịch sử Hội thánh đã chứng minh, thời kỳ khủng hoảng cũng là thời kỳ của những khởi sự mới, của những diễn tiến mới. Lịch sử ba mươi năm của Liên Hội đồng Giám mục Á châu đã chứng kiến một loạt những diễn tiến phối hợp với nhau làm nên một Giáo hội đổi mới. Chúng tôi nhận thấy có 7 diễn biến, góp chung lại, làm nên một viễn tượng mang mầu sắc Á châu về một Giáo hội đổi mới:

1.- Diễn biến để làm nên một Giáo hội của người nghèo và một Giáo hội của người trẻ. “Nếu phải đặt mình đứng về phía đại đa số quần chúng của châu lục này, thì trong lối sống của mình chúng ta phải chia sẻ phần nào sự nghèo khổ của họ”, “phải lên tiếng bênh vực quyền lợi của những người bất hạnh và bất lực trước mọi hình thức bất công”. Trong lục địa này của người trẻ, chúng ta phải “cùng với họ, và vì họ trở nên “Giáo hội của người trẻ” (Hội nghị các Giám mục châu Á, Manila, Philip-pines, 1970; FAPA I, trang 5-6).

2.- Diễn biến để làm nên “một Giáo hội địa phương thật sự”, một Giáo hội “nhập thể vào một dân tộc, một Giáo hội bản địa và đã hội nhập văn hóa”, một Giáo hội “đối thoại với các truyền thống tôn giáo lớn của các dân tộc”, “đối thoại với mọi người, nhất là người nghèo” ( Hội nghị khoáng đại của Liên Hội đồng Giám mục Á châu, lần thứ hai, Calcutta, An Độ, 1978; FAPA I, trang 14-16).

3.- Diễn biến để xây dựng một đời sống nội tâm sâu sắc, giúp Giáo hội trở thành “một cộng đoàn cầu nguyện thâm trầm, đưa việc chiêm niệm của mình vào trong bối cảnh của thời đại và văn hóa dân tộc hôm nay. Một khi đã hội nhập vào đời sống hằng ngày, “lời cầu nguyện chân thật của người Kitô hữu hẳn sẽ trở thành lời chứng rất rõ về việc phục vụ và yêu thương” (Hội nghị khoáng đại của Liên Hội đồng Giám mục Á châu, lần thứ hai, Calcutta, An Độ, 1978; FAPA I, trang 31-33).

4.- Diễn biến để trở thành một cộng đoàn sống đức tin đích thực. Đã bám sâu vào sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, Giáo hội tại châu Á hẳn sẽ trở thành sự hiệp thông giữa các cộng đoàn có sự tham gia và đồng trách nhiệm thật sự, một cộng đoàn với các chủ chăn, được liên kết “với các cộng đoàn đức tin khác và với cộng đoàn vừa duy nhất vừa phổ quát” là Giáo hội thánh thiện của Chúa. Diễn biến tại châu Á để trở thành những Cộng đoàn Giáo hội cơ bản (Basic Ecclesial Communities) đó chính là phản ảnh sâu xa của mọi người muốn xây dựng một cộng đoàn tin tưởng, yêu thương và phục vụ, cũng là một “cộng đoàn của các cộng đoàn” luôn sẵn sàng xây dựng những Cộng đoàn Nhân sinh cơ bản (Basic Human Communities) (Hội nghị khoáng đại của Liên Hội đồng Giám mục Á châu, lần thứ ba, Bangkok, Thái Lan, 1982; FAPA I trang 5-6).

5.- Diễn biến để mở cuộc phúc âm hóa toàn diện một cách tích cực, để có một ý thức truyền giáo mới (Hội nghị khoáng đại của Liên Hội đồng Giám mục Á châu, lần thứ năm, Bangdung, Indonesia, 1990). Chúng ta rao giảng Tin Mừng vì tin rằng Đức Giêsu là Chúa và là Đấng Cứu độ, là “đích điểm của lịch sử nhân loại…là niềm vui của mọi tâm hồn và là sự thực hiện của mọi khát vọng” (Hiến chế Mục vụ của Công đồng Vatican II, 45; xem Rosales va Arevalo, “For all Peoples of Asia, vol. I [FAPA I}, 1992, trang 179-281). Trong công cuộc truyền giáo này, Giáo hội phải làm bạn đồng hành biết thông cảm với mọi người châu Á, làm người phục vụ Chúa và mọi dân tộc tại châu Á này trên đường tiến về Nước Chúa để hưởng sự sống sung mãn….

6.- Diễn biến để tăng cường năng lực cho mọi người, nam cũng như nữ. Được Chúa Thánh Thần dùng các bí tích trang bị cho các năng lực và tài năng riêng, cũng như dựa vào cơ cấu của một Giáo hộicó sự cộng tác của mọi người, nam nữ giáo dân sẽ tham gia vào đời sống và sứ mạng của Giáo hội để lấy Tin Mừng của Đức Giêsu ảnh hưởng lên đời sống thương mại và chính trị, giáo dục và y tế, truyền thông xã hội và lao động. Muốn được thế, cần phải có một linh đạo của người môn đệ (discipleship), giúp cả hàng giáo sĩ lẫn giáo dân biết cùng làm việc với nhau theo vai trò riêng của mình trong sứ mạng chung của Giáo hội (Hội nghị khoáng đại của Liên Hội đồng Giám mục Á châu, lần thứ tư, Tokyo, Nhật Bản, 1986; FAPA I). Giáo hội không thể nào trở thành dấu chỉ của Nước Trời và của cộng đoàn cánh chung, nếu người ta không nhìn nhận các hoa trái của Thánh Thần ban cho người phụ nữ và nếu các phụ nữ không được chia sẻ “sự tự do của con cái Chúa” (Hội nghị khoáng đại của Liên Hội đồng Giám mục Á châu, lần thứ tư, Tokyo, Nhật Bản, 1986).

7.- Diễn biến để tham gia tích cực vào việc làm phát sinh và phục vụ sự sống. Giáo hội cần phải trả lời trước các lực lượng đang liên miinh với sự chết tại châu Á. Với tinh thần môn đệ đích thực, Giáo hội phải chia sẻ cho mọi người biết cái nhìn của mình về một cuộc sống sung mãn mà Đức Giêsu đã hứa ban. Đó là một cái nhìn về một sự sống toàn diện và rất cao cả, cái nhìn thông cảm và biết nhậy bén chăm sóc trái đất; một cái nhìn kêu gọi sự tham gia và hỗ trợ nhau, biết trân trọng sự linh thiêng, hòa bình, hoà hợp và liên đới (Hội nghị khoáng đại của Liên Hội đồng Giám mục Á châu, lần thứ sáu, Manila, Philippines, 1995; FAPA I).

Trên đây là viễn tượng về một Giáo hội đã đổi mới mà Liên Hội đồng Giám mục Á châu đã vất vả triển khai trong ba mươi năm qua. Viễn tượng ấy ngày nay vẫn còn gía trị. Tuy nhiên, chúng ta sẽ tiếp tục tìm kiếm những thách đố sâu sắc hơn đặt ra cho việc đổi mới, như đâu là ý nghĩa và tầm mức đổi mới cần được triển khai trong đời sống và sứ mạng của chúng ta tại Á châu.

Ý NGHĨA CỦA ĐỔI MỚI

Này đây Ta đổi mới mọi sự” (Kh 21,5). Tại Á châu, chúng ta liên tục nhận ra rằng đổi mới là công trình do Thánh Thần Thiên Chúa thực hiện. Chính Thánh Thần của Chúa “ngập tràn cõi đất” (Kn 1,7) và “đang đổi mới bộ mặt địa cầu”. Vì thế chúng ta cần phải cởi mở và chú ý tới những sự khuấy động hết sức nhiệm mầu mà Thánh Thần đang tạo ra xuyên qua các thực tại của châu Á và của Giáo hội. Theo Thánh Kinh, đổi mới là tạo ra một điều gì đó hoàn toàn mới. Như thế, đổi mới chủ yếu quy về ơn cứu độ đã được Đức Giêsu Kitô thực hiện trong Thánh Thần. Sự đổi mới đó trải rộng đến tất cả mọi sự và cho hết mọi thời, cho tới khi Thánh Thần tái tạo lại xong xuôi một Trời mới Đất mới (Kh 21,1; Is 65,17).

Chúng ta đang bị cuốn vào một dòng chuyển động và một sự căng thẳng của những gì đã có nhưng còn phải chờ đợi được hoàn thành mỹ mãn. Đổi mới vừa là quà tặng của Chúa vừa là nhiệm vụ của chính chúng ta. Thiên Chúa đã thực hiện việc đổi mới ấy khi Đức Chúa Giêsu và Thánh Thần hoàn thành sứ mạng của mình. Và hiện nay điều ấy đang tác động trên thế giới. Tuy nhiên, sự đổi mới vẫn là một ân huệ đang chờ ta biến thành của mình, chờ ta đưa vào cuộc sống của thế giới, cuộc sống của mọi người châu Á, cuộc sống của Giáo hội. Giáo hội luôn luôn cần có sự đổi mới mạnh mẽ trong sinh hoạt và sứ mạng của mình. Chúng ta là một Hội thánh cần được thanh tẩy. Chúng ta quá rõ rằng mình đã không chu toàn ơn gọi của mình, cách này hay cách khác, ơn gọi sống yêu thương và phục vụ.

LÀ GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á, CHÚNG TA QUYẾT ĐỊNH THỰC HIỆN:

* một sự đổi mới mà Chúa là tác gỉa; Ngài đã tái tạo chúng ta trong Thần Khí của Con Ngài. Trong Đức Kitô, Ngài đã biến chúng ta thành bí tích của một nhân loại mới, thành dấu chỉ tiên báo sự mới mẻ và thành tôi tớ phục vụ sự đổi mới ấy. Theo lời dậy của thánh Phaolô, chúng ta sẽ thực hiện một đòi hỏi luân lý của đổi mới, là loại bỏ con người cũ và tìm cách làm chứng cho sự sống mới đã được ban cho ta trong Đức Giêsu bằng cách yêu thương vô vị lợi;

* một sự đổi mới dưới hình thức là một sự dấn thân truyền giáo, tiếp tục “công cuộc sai đi của Thiên Chúa” (“Missio Dei”) với một nghị lực và một tinh thần mới, liên hệ với các thực tại của châu Á một cách có sáng tạo;

* một sự đổi mới vừa tôn trọng truyền thống vừa can đảm đón lấy một tương lai trung thành với truyền thống ấy một cách có sáng tạo;

* một sự đổi mới giúp chúng ta có can đảm kể cho thế giới Á châu vừa tối tăm vừa sáng sủa này nghe câu chuyện Chúa Giêsu và can đảm loan báo cho họ biết món quà của Ngài là sự sống mới;

* một sự đổi mới bao gồm cả việc hoán cải trí lòng lẫn việc thay đổi cơ cấu sao cho những người bị xã hội khai trừ được trao cho một vai trò tham gia rộng hơn;

* một sự đổi mới như chương trình làm việc chung của hai phía: giáo sĩ và giáo dân nam nữ, cùng làm việc chung với nhau một cách có sáng tạo - từ bên dưới lên và từ bên trên xuống- sao cho sự đổi mới trở thành dấu phản ánh sự hiệp thông đích thực;

* một sự đổi mới nói lên tinh thần hiệp thông trong dị biệt, minh chứng cho tính công giáo tuyệt vời của Giáo hội;

* một sự đổi mới không căn cứ trên số tín đồ, số nhà thờ đông đúc hay số công tác chúng ta làm được. Nhưng điều quan trọng hơn nhiều là căn tính Giáo hội và phẩm chất của lời chứng do chúng ta, là những môn đệ của Đức Giêsu và những người phục vụ Nước Chúa, chúng ta cống hiến cho các dân tộc châu Á.

Đối với chúng ta tại Á châu này, đổi mới Giáo hội chính là mở lòng ra trước huyền nhiệm của Thánh Thần, đón nhận sự có mặt của một Thiên Chúa hay gây ngạc nhiên, Ngài sẽ đến làm tâm hồn ta phải ngỡ ngàng. Bởi đó, chúng ta cần phải làm một cái gì khác hơn chứ không chỉ đơn thuần là nhân công của đổi mới. Chúng ta cần điều gì hơn nữa chứ không chỉ làm những người thợ thi hành sự đổi mới. Chúng ta cần phải có óc tưởng tượng đầy sức sáng tạo của các nhà thơ và nghệ sĩ, của những người biết thán phục và thích ước mơ, có thể mới đúng là những người được Thánh Thần Thiên Chúa phú bẩm cho các ơn. Chính trong khi thực hiện việc đổi mới này mà Giáo hội sẽ cảm nghiệm được thế nào là những điều ngạc nhiên do Chúa thực hiện. Trong lúc nhận định và tìm biết Chúa, trong lúc thông hiệp với Ngài qua kinh nghiệm chiêm niệm, Giáo hội sẽ hiểu thế nào là mệnh lệnh truyền giáo đang được xúc tiến, đang có ảnh hưởng qua lại với các thực tế phức tạp châu Á”

(Phần Nhập đề và Phần I của Bản Tuyên bố kết thúc Hội nghị khoáng đại Liên Hội đồng Giám mục Á châu lần thứ bẩy, tại Samphran, Thái Lan, từ ngày 03 đến ngày 13 tháng 1 năm 2001; Bản dịch của Phêrô ĐXT - Antôn NNS, trong Bản Tin Hiệp Thông số 7/2000 trang 177-187).