CHIA SẺ MỘT IT KINH NGHIỆM CÁ NHÂN VỀ MỤC VỤ GIỮA ANH EM DÂN TỘC
Trích bài chia sẻ của Đc Phêrô NGUYỄN VĂN NHƠN
Tuần tĩnh tâm Linh mục 8-12/9/2003 GP Sài Gòn
Giờ đây, xin chia se với các cha một chút kinh nghiệm, xin nói ngay đây chỉ là một hạt cát giữa sa mạc, một hạt muối ở trong biển nước. Nhưng tôi cũng xin chia sẻ, vi nó là những ưu tư, tâm tư. Trước kia là linh mục và khi làm Giám Mục ưu tư này trở nên bức bách nhiều hơn. Ngay từ đầu khi các thừa sai đến trên vùng đất Đà Lạt thì đã bị thu hút ngay bởi sự nghèo khó của người dân tộc và sự chân thành đơn sơ của họ. Nhiều lỗ lực đã được thực hiện và có thể nói rằng những lỗ lực nào cũng được chúc phúc, bởi vì xuâtá phát từ động cơ siêu nhiên “yêu mến anh em như bản thân mình, yêu mến anh em như Chúa yêu mến”.
Tôi xin chia sẻ vài ý tưởng về người Thượng. Tôi xin trình bày để cho chúng ta tiếp cận môi trường. Về lịch sử, tôi nghĩ chỉ có một câu nhận định là đúng thôi: “Về lịch sử gốc gác của người Thượng vùng cao nguyên, luôn luôn có một đám mây bao phủ làm cho chúng ta không thể nhận định được” và câu đó cho tới giờ này vẫn đúng. Chưa ai có thể tìm ra nguồn gốc của người Thượng trên vùng cao nguyên. Có 5 sắc tộc lớn trên vùng cao nguyên, Lâm Đồng có người K’ho, ở Ban Mê Thuột, ở Đắc Lắc có người Eđê, ở Gialai có người J’rai, ở miền nam Kontum có người Bana, ở miền Bắc Kontum có người Sêđăng. Đó là sắc tộc lớn trên vùng cao nguyên. Tương quan giữa 5 sắc tộc đó như thế nào, không biết đôi khi có vài từ ngữ giống nhau hoàn toàn. Người Hindu đi qua bên sông Malaysia không biết tiếng Inđônêsia, nhưng họ có thể hiểu được vào khoảng 20 đến 25 phần trăm. Vậy người Hindu ở Đơn Dương - giống nhau? Hay giữa người Hindu và người Chàm, có những liên hệ gì? Người Hindu cũng hay sử dụng cái khăn màu trắng trong các sắc tộc thì không có.
Nhiều điều làm chúng ta vẫn phải tìm hiểu và học hỏi, nhưng trước hết nói đến người Thượng là nói đến sự nghèo. Sự nghèo khó mà bây giờ anh em chúng ta có dịp đi thăm. Chúng ta chỉ có thể đi thăm những người làng đã phát triển thôi, còn những đích thực nghèo thì chúng ta không thấy. Ví dụ như là chúng ta đi thăm Buôn Mê Thuột thế nào người ta cũng đưa tới làng Đonhô nó rất gần gũi thị xã, trước kia do các Đan sĩ Biển Đức lập. Nhà nguyện của Toà Giám Mục cũng là nhà nguyện của các Đan sĩ Biển Đức. Chúng ta có thể thấy sự nghèo nàn của họ như thế nào. Vào thời buổi này có những làng mỗi năm, năm nào cũng vậy, đói ít nhất là 3 tháng, cứ lập đi lập lại cả chục năm rồi. Tới mùa giáp hạt, lúa của mùa trước thì đã sử dụng hết, lúa của mùa sau chưa gặt. Khoảng thời gian đó là thời gian đói. Chúng ta thấy đó là thời điểm xuất hiện những người đi ăn xin ở các nhà thờ, nhà chùa.
Khi nói đến người Thượng là chúng ta nói đến những cái rất là lạc hậu: lạc hậu trong đời sống, lạc hậu reong các phương tiện. Khi nói đến nguời Thượng là nói đến mặc cảm, không dám xuất hiện ở nơi đám đông. Đến đây, tôi xin kể một câu chuyện. Cha Mađagui. Đến khi kết thúc rồi mà ngài thắc mắc tại sao không có người Thượng nào hết, làng Thượng Mađagui mà lại toàn người Kinh. Cuối cùng đi ra phía sau thì thấy một lô người Thượng đang ngồi đợi, vì không nghe nói gì hết nên họ không dám xuất hiện. Và những chuyện như vậy thường xuyên xảy ra.
Tuy nhiên có những điều tích cực, ví dụ như cái sự đơn sơ, cách riêng là người K’ho đứng về văn hoá có lẽ kém hơn các sắc tộc khác. Nhưng đứng về mặt nhân bản thì ngược lại nó hơn khù khờ một chút nhưng rất tốt. Mỗi lần tôi có dịp ghé thăm, muốn bắt chước Đức Cha Cassaigne, tôi cho các em nhỏ kẹo. Nhưng chúng đông mà không có người phát, thành ra chỉ cần nói một câu “ Duná Dunông”, tức là “mỗi đứa một cục” và cứ như thế chúng ta có thể phát cho 500 mà không cần phải xếp hàng gì hết, em nào có rồi thì nó không lấy nữa. Nếu nó bỏ túi thì nó chỉ trong túi. Những điều đó rất là cảm động. Nhưng dần dần nó đã lây nhiễm cái xấu và chúng tôi đau đớn khi thấy những điều đó.
Nhưng trước hết chúng ta thấy gì? Chúng ta thấy người Thượng dần dần mất. Họ bị người Kinh vào dụ dỗ để mua đất và cần đưa ra những cái mồi ngon thì họ sẽ ăn hết. Ví dụ như cái Tivi hay là chiếc Honda và cứ như thế hết mẫu này đến mẫu khác rơi vào tay của nhà giàu có. Tuy nhà nước cũng có sắc lệnh là cấm mua đất của người dân tộc thiểu số, luật thì cũng có luật nhưng mà người ta cũng tìm cách để tránh cái luật đó.
Ngoài ra, đang có một sự đe doạ về một lịch sử, về văn hoá, về nếp sống của người Thượng. Ví dụ như bây giờ họ không thích uống rượu cần vừa mang tính cách dân tôc, vừa mang tính cách lễ hội. Còn rượu đế là thứ rượu kích thích và cho cho hộ trở nên dữ hơn. Khi mà người Thượng uống rượu cần rồi có thể họ say, nhưng khi say họ chỉ nằm đó thôi, hay là say thì họ nói nhiều. Sau này có những vụ đốt nhà, chém giết là những người uống rượu đế, vì nó kích thích rất mạnh mẽ. Và tự nhiên đối với họ không có môn giải trí nào thì họ đi tìm đến những điều đó. Nền văn hoá thị trường dần dần làm cho người Thượng mất đi cái gốc của mình.
Người Thượng đã nghèo là nghèo thì họ chấp nhận thân phận của mình, họ cứ luẩn quẩn đưa tay cho người ta cứu vớt. Cho nên Giáo Hội là một người mẹ phải lo cho người dân tộc thiểu số và họ có nhiều ưu tiên trong việc thi cử. Nếu các cha đi thăm, sẽ thấy hầu như tỉnh nào cũng có nhiều cơ sở lớn gọi là “trường trung học dân tộc nội trú ”. Ở Đàlạt nguyên cơ sở của trường trước kia là trường Oiseaux, trường nữ sinh lớn nhất của Đàlạt trước năm 1975, bây giờ nó trở thành trung tâm nội trú của dân tộc.
Đứng trước tình trạng như vậy tôi xin tóm tắt chương trình của giáo phận mà chúng tôi đang hết sức thực hiện. Vì sứ mạng của Hội Thánh là đem Tin Mừng, và Tin Mừng thật sự sec giải thoát họ. Người Thượng thờ cúng đủ thứ thần: thần núi, thần mưa, thần gió…và họ gán mọi biến cố cho các thần thánh. Ví dụ như khi họ có một ngón chân bị làm mủ thì họ cúng một con gà. Nếu sau khi cúng mà vẫn bị sưng lên, thì phải cúng một con heo. Khi mà bị bịnh nặng nhất thì cúng một con trâu. Mà con trâu là tất cả gia sản của người Thượng. Khi chúng ta đem Tin Mừng cho những người như vậy, thì rõ ràng họ được giải thoát ra khỏi sự sợ hãi. Và sự sợ hãi đó làm cho họ trở nên nghèo nàn, làm cho họ trở nên mặc cảm.
Chúng tôi xác tín rằng công việc đầu tiên của Hội Thánh là sự loan báo Tin Mừng, và cũng tin rằng sợ loan báo Tin Mừng đó trọng tâm để có thể đem đến cho người dân tộc, một đời sống hạnh phúc hơn, đời sống có giá trị hơn và giải thoát họ rất nhiều điều. Cho nên có rất nhiều cách, nhiều nỗ lực tập trung vào trong vấn đề loan báo Tin Mừng. Tôi lấy một ví dụ: việc nhà thờ, làm nhà thờ cũng là một cách để giúp cho người dân tộc đón nhận Tin Mừng. Cho người dân tộc có một nhà thờ và đặc biệt nhất là trong nhà thờ đó họ đọc kinh bằng tiếng Thượng, hát bằng tiếng Thượng, dâng lễ bằng tiếng Thượng và chính nhà thờ đó mang dáng dấp nhà Thượng thì họ quí mến, rất hạnh phúc.
Có một cảnh đã xảy ra hằng chục năm nay. Nếu các cha có dịp đi trên quốc lộ 20, vào ngày Chúa Nhật khoảng 6h30-7h sáng, từ Hoà Ninh cho đến nhà thờ Phú Hiệp, một quãng đường khoảng 30-40 cây số, thì các cha thấy người Thượng cứ hai ba người đi dài dài, ăn mặc rất đẹp, nói chuyện rất vui. Khi đi, họ đi ra đường cái chứ không đi đường tắt, ngóc ngóc ngách, để mà đến nhà thờ. Dù họ ở trong làng thì họ cũng đi ra quốc lộ, rồi từ đó họ đi.
Khi thấy cảnh như vậy thì lòng chúng ta không thể nào mà không nghĩ đến cách để phục vụ những người đó. Vào ngày Chúa Nhật mặc dù trời mưa trời nắng họ vẫn luôn luôn trung thành đến nhà thờ. Cho nên khi có những tâm hồn khao khát như vậy thì tự nhiên chúng tôi phải liệu cho có nhà thờ. Sắp tới đây, sẽ có ngày lễ cung hiến cho nhà thờ Bơ - đơ. Từ bây giờ cho đến cuối năm, tôi sẽ đặt viên đá đầu tiên để cất một nhà thờ khác ở Dilinh gọi là nhà thờ Ga-men. Rồi xây một nhà thờ khác ở Đơn Dương bên kia sông Đa nin là nhà thờ Tun-ra. Và sẽ xây một nhà thờ thứ ba ở Bảo Lộc gọi là Tun-ra. Những nhà thờ đó đã có phép và chỉ còn chờ kinh phí nữa thôi.
Trong một năm, sẽ có một nhà thờ cung hiến và xây 3 nhà thờ, điều đó là một nỗ lực của giáo phận. Nhưng không chỉ có nhà thờ, có nhà thờ, sẽ có kinh bằng tiếng Thượng, có bài hát, có giảng viên giáo lý, rồi không thể để họ ra về mà đói được, cho nên chúng tôi, một đàng lo cho nhà thờ, nhưng phần dưới bếp cũng khó khăn và cũng quan trọng như phần trên nhà thờ. Có những nơi phải lo cho họ ra chiều thứ bảy, phải lo ăn uống, sáng Chúa Nhật thì lễ, và có giờ giáo lý, ăn sáng và trở về làng. Điều đó xảy ra ở Madagui, ở Lăng-bi-ăng…chỉ nhìn những công việc đó thôi chưa nói đến vấn đền văn hoá thì chúng ta thấy một lỗ lực và công việc rất lớn, vì hiện tại 71.000 người công giáo và trong số đó tôi tính khoảng trên 55.000 người đi lễ. Họ ra thì phải lo dạy giáo lý và đào tạo giảng viên giáo lý, rồi còn phải lo vấn đề ơn gọi nữa. Tôi có một phó tế Thượng 7 năm trời mà không tiến lên được, năm nào cũng nhắc lại vấn đề đó hết. Rất may bây giờ trong Đại Chủng Viện Sài Gòn có một thầy đã hết năm thứ tư rồi, thày K’Cheo, hy vọng học chính thức tại chủng viện thì vấn đề tiến chức linh mục sẽ dễ dàng hơn, đó là một may mắn. Ngoài ra, có 3 chị đã khấn tại Mến Thánh Giá Đà lạt, 2 chị tại Thủ Thiêm, một số thầy mặc áo dòng rồi mà chưa gửi vào Đại Chủng Viện được. Tóm lại, những gì liên hệ cách này cách khác tới loan báo Tin Mừng là ưu tiên một, phải làm mọi cách.
Tuy nhiên, chúng ta không thể loan báo Tin Mừng cho những người hôm nay đang phải sống quá cực khổ: những người hôm nay có cái để ăn, nhưng ngày mai không có gì để ăn, những người mà chỉ bệnh tiêu chảy
thôi cũng đủ đưa họ đến cái chết. Không thể loan báo Tin Mừng cho những người ở trong những căn nhà lúc nào cũng bị đe doạ rằng nó sẽ sập xuống. Và chúng ta cũng không thể loan báo Tin Mừng cho những trẻ em bụng lúc nào cũng như cái trống… Nên vấn đề phát triển là một vấn đền lớn.
Khi loan báo Tin Mừng cần phải lưu ý đến 3 điểm, thứ nhất là phát triển đời sống, thứ hai là y tế, và thứ ba là giáo dục. Mỗi giáo xứ, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ nhân sự, tuỳ khả năng, liệu làm được thì làm.
Công tác thứ nhất là về văn hoá giáo dục. Nếu chúng ta chỉ tiếp tục lo ăn, cho thuốc, thì chúng ta phải làm hoài. Có một làng người Thượng, cách giáo xứ của người Kinh chỉ 3 cây số, nhưng lúc nào cũng bị đói. Lúc bấy giờ ở trên Đà lạt, vấn đề dâu tằm đang lên giá, nên Giáo xứ người Kinh đã tập trung lấy giống, sai các chàng trai đưa tận làng người thượng cho họ. Rồi 2 tuần sau vào thăm, thì thấy còn nguyên bó, còn cột để nguyên ngoài sân, vì họ chẳng biết làm gì cả. Trước đó cũng có dạy, cũng trình bày hướng dẫn, nhưng người Thượng dừng lại ở đó. Lười biếng nên đói nghèo. Nên phải giáo dục, nhưng không biết làm thế nào.
Tôi đã đề nghị cả giáo phận tập trung vào một kế hoạch, những kế hoạch khác thì cứ việc làm, tuỳ địa phương. Đó là “Kế hoạch 25 đô-la ”. 25 đo cho một em Thượng nghèo đi học lớp mẫu giáo một năm, nhưng nếu nhận em nào thì phải nhận 7 năm (2năm mẫu giáo và 5 năm tiểu học là 175 đo-la), với ý nghĩa là 7 năm thì nó biết đọc biết viết, biết vệ sinh. Và nếu nó là công giáo, nó được xưng tội rước lễ, nó biết những cái tối thiểu. Rồi sau 7 năm đó sẽ tính sau.
Con số hiện tại là 431 em ở 22 giáo xứ, tuy rằng không đáng kể nhưng điều đó nói lên rằng: giáo phận có một hướng đi, có một hướng đi, có một chương trình và chương trình này lôi cuốn cả giáo phận. Ví dụ cha xứ không chỉ đưa danh sách 20 em nhưng cha xứ phải hợp tác với các tu sĩ, để theo dõi công việc đó, phải thăm viếng gia đình, phải đốc thúc, phải làm nhiều cái. Chương trình này mới chớm nở, nhưng có rất nhiều người ủng hộ. Tôi hy vọng niên khoá 2003-2004 sẽ nhận thêm 150 học bổng, và mỗi học bổng là 175 đô la, và như thế hy vọng sau một thời gian sẽ là một phong trào lôi cuốn mọi người ý thức được rằng: hễ không lo cho việc học của các em dân tộc thì những lỗ lực, những chương trình khác chúng ta không thể thực hiện được.
Đây là chương trình có thể chia sẻ thêm, theo chương trình đó thì giám mục kiếm tiền, các cha và các cộng đoàn tu sĩ thực hiện. Đưa danh sách được chọn lựa, được thăm viếng… rồi thì nhận tiền và theo dõi, đốc thúc. Chương trình này kéo dài và nhân lên mãi, hy vọng đây là một động cơ để thúc đẩy cả giáo phận dấn thân vì đối với người ta 25 đô-la = 400.000 đồng trong một năm là chuyện rất dễ làm.
Chương trình thứ hai là chương trình tủ thuốc gia đình. Chúng tôi nhận thấy rằng rất nhiều người Thượng bị bệnh, bị chết vì những bệnh rất bình thường: sốt rét, tiêu chảy, ghẻ lở… Vì họ không có vệ sinh, không có thuốc men, họ không biết cách chữa trị, mà chúng tôi lại không có chức năng để mở chạm xá. Tôi bày ra nhà xứ làm tủ thuốc gọi là “tủ thuốc gia đình”. Nếu tủ thuốc gia đình là cái quyền của mình và nếu tủ thuốc ở nhà xứ hay cộng đoàn tu sĩ thì giáo dân vẫn có thể ra vào một cách tự nhiên để xin thuốc. Những loại thuốc rất bình thường, nhưng họ vẫn không có, vẫn không biết cách sử dụng. Hiện giờ có 31 tủ thuốc.
Cả hai chương trình trên đều do toà Giám Mục đài thọ về kinh phí. Nhưng trong khi làm, nó thúc đẩy các cha và nữ tu không chỉ đến nhận tiền ở Toà Giám Mục và chấp nhận dừng lại ở con số ban đầu. Tôi đã làm từ năm 1995, như thế đã được 8 năm, và cả hai chương trình song song. Có lúc èo uột, như khi tủ thuốc không có tiền, nhưng tôi tin kết quả về con số chưa quan trọng, kết quả về tinh thần thì tôi rất hy vọng, và mong dần dần có nhiều người cộng tác nữa.
Tôi xin chia sẻ với các cha những điều rất nhỏ bé, bên cạnh đó các giáo xứ trong phạm vi riêng và trong hoàn cảnh cụ thể đã làm được những việc lớn hơn như làm nhà, đào giếng… Nhưng khi chúng ta lôi cuốn được, gây được ý thức thì điều đó mới là điều quan trọng.
Đức Tin thực hiện
Trích bài chia sẻ của Đc Phêrô NGUYỄN VĂN NHƠN
Tuần tĩnh tâm Linh mục 8-12/9/2003 GP Sài Gòn
Giờ đây, xin chia se với các cha một chút kinh nghiệm, xin nói ngay đây chỉ là một hạt cát giữa sa mạc, một hạt muối ở trong biển nước. Nhưng tôi cũng xin chia sẻ, vi nó là những ưu tư, tâm tư. Trước kia là linh mục và khi làm Giám Mục ưu tư này trở nên bức bách nhiều hơn. Ngay từ đầu khi các thừa sai đến trên vùng đất Đà Lạt thì đã bị thu hút ngay bởi sự nghèo khó của người dân tộc và sự chân thành đơn sơ của họ. Nhiều lỗ lực đã được thực hiện và có thể nói rằng những lỗ lực nào cũng được chúc phúc, bởi vì xuâtá phát từ động cơ siêu nhiên “yêu mến anh em như bản thân mình, yêu mến anh em như Chúa yêu mến”.
Tôi xin chia sẻ vài ý tưởng về người Thượng. Tôi xin trình bày để cho chúng ta tiếp cận môi trường. Về lịch sử, tôi nghĩ chỉ có một câu nhận định là đúng thôi: “Về lịch sử gốc gác của người Thượng vùng cao nguyên, luôn luôn có một đám mây bao phủ làm cho chúng ta không thể nhận định được” và câu đó cho tới giờ này vẫn đúng. Chưa ai có thể tìm ra nguồn gốc của người Thượng trên vùng cao nguyên. Có 5 sắc tộc lớn trên vùng cao nguyên, Lâm Đồng có người K’ho, ở Ban Mê Thuột, ở Đắc Lắc có người Eđê, ở Gialai có người J’rai, ở miền nam Kontum có người Bana, ở miền Bắc Kontum có người Sêđăng. Đó là sắc tộc lớn trên vùng cao nguyên. Tương quan giữa 5 sắc tộc đó như thế nào, không biết đôi khi có vài từ ngữ giống nhau hoàn toàn. Người Hindu đi qua bên sông Malaysia không biết tiếng Inđônêsia, nhưng họ có thể hiểu được vào khoảng 20 đến 25 phần trăm. Vậy người Hindu ở Đơn Dương - giống nhau? Hay giữa người Hindu và người Chàm, có những liên hệ gì? Người Hindu cũng hay sử dụng cái khăn màu trắng trong các sắc tộc thì không có.
Nhiều điều làm chúng ta vẫn phải tìm hiểu và học hỏi, nhưng trước hết nói đến người Thượng là nói đến sự nghèo. Sự nghèo khó mà bây giờ anh em chúng ta có dịp đi thăm. Chúng ta chỉ có thể đi thăm những người làng đã phát triển thôi, còn những đích thực nghèo thì chúng ta không thấy. Ví dụ như là chúng ta đi thăm Buôn Mê Thuột thế nào người ta cũng đưa tới làng Đonhô nó rất gần gũi thị xã, trước kia do các Đan sĩ Biển Đức lập. Nhà nguyện của Toà Giám Mục cũng là nhà nguyện của các Đan sĩ Biển Đức. Chúng ta có thể thấy sự nghèo nàn của họ như thế nào. Vào thời buổi này có những làng mỗi năm, năm nào cũng vậy, đói ít nhất là 3 tháng, cứ lập đi lập lại cả chục năm rồi. Tới mùa giáp hạt, lúa của mùa trước thì đã sử dụng hết, lúa của mùa sau chưa gặt. Khoảng thời gian đó là thời gian đói. Chúng ta thấy đó là thời điểm xuất hiện những người đi ăn xin ở các nhà thờ, nhà chùa.
Khi nói đến người Thượng là chúng ta nói đến những cái rất là lạc hậu: lạc hậu trong đời sống, lạc hậu reong các phương tiện. Khi nói đến nguời Thượng là nói đến mặc cảm, không dám xuất hiện ở nơi đám đông. Đến đây, tôi xin kể một câu chuyện. Cha Mađagui. Đến khi kết thúc rồi mà ngài thắc mắc tại sao không có người Thượng nào hết, làng Thượng Mađagui mà lại toàn người Kinh. Cuối cùng đi ra phía sau thì thấy một lô người Thượng đang ngồi đợi, vì không nghe nói gì hết nên họ không dám xuất hiện. Và những chuyện như vậy thường xuyên xảy ra.
Tuy nhiên có những điều tích cực, ví dụ như cái sự đơn sơ, cách riêng là người K’ho đứng về văn hoá có lẽ kém hơn các sắc tộc khác. Nhưng đứng về mặt nhân bản thì ngược lại nó hơn khù khờ một chút nhưng rất tốt. Mỗi lần tôi có dịp ghé thăm, muốn bắt chước Đức Cha Cassaigne, tôi cho các em nhỏ kẹo. Nhưng chúng đông mà không có người phát, thành ra chỉ cần nói một câu “ Duná Dunông”, tức là “mỗi đứa một cục” và cứ như thế chúng ta có thể phát cho 500 mà không cần phải xếp hàng gì hết, em nào có rồi thì nó không lấy nữa. Nếu nó bỏ túi thì nó chỉ trong túi. Những điều đó rất là cảm động. Nhưng dần dần nó đã lây nhiễm cái xấu và chúng tôi đau đớn khi thấy những điều đó.
Nhưng trước hết chúng ta thấy gì? Chúng ta thấy người Thượng dần dần mất. Họ bị người Kinh vào dụ dỗ để mua đất và cần đưa ra những cái mồi ngon thì họ sẽ ăn hết. Ví dụ như cái Tivi hay là chiếc Honda và cứ như thế hết mẫu này đến mẫu khác rơi vào tay của nhà giàu có. Tuy nhà nước cũng có sắc lệnh là cấm mua đất của người dân tộc thiểu số, luật thì cũng có luật nhưng mà người ta cũng tìm cách để tránh cái luật đó.
Ngoài ra, đang có một sự đe doạ về một lịch sử, về văn hoá, về nếp sống của người Thượng. Ví dụ như bây giờ họ không thích uống rượu cần vừa mang tính cách dân tôc, vừa mang tính cách lễ hội. Còn rượu đế là thứ rượu kích thích và cho cho hộ trở nên dữ hơn. Khi mà người Thượng uống rượu cần rồi có thể họ say, nhưng khi say họ chỉ nằm đó thôi, hay là say thì họ nói nhiều. Sau này có những vụ đốt nhà, chém giết là những người uống rượu đế, vì nó kích thích rất mạnh mẽ. Và tự nhiên đối với họ không có môn giải trí nào thì họ đi tìm đến những điều đó. Nền văn hoá thị trường dần dần làm cho người Thượng mất đi cái gốc của mình.
Người Thượng đã nghèo là nghèo thì họ chấp nhận thân phận của mình, họ cứ luẩn quẩn đưa tay cho người ta cứu vớt. Cho nên Giáo Hội là một người mẹ phải lo cho người dân tộc thiểu số và họ có nhiều ưu tiên trong việc thi cử. Nếu các cha đi thăm, sẽ thấy hầu như tỉnh nào cũng có nhiều cơ sở lớn gọi là “trường trung học dân tộc nội trú ”. Ở Đàlạt nguyên cơ sở của trường trước kia là trường Oiseaux, trường nữ sinh lớn nhất của Đàlạt trước năm 1975, bây giờ nó trở thành trung tâm nội trú của dân tộc.
Đứng trước tình trạng như vậy tôi xin tóm tắt chương trình của giáo phận mà chúng tôi đang hết sức thực hiện. Vì sứ mạng của Hội Thánh là đem Tin Mừng, và Tin Mừng thật sự sec giải thoát họ. Người Thượng thờ cúng đủ thứ thần: thần núi, thần mưa, thần gió…và họ gán mọi biến cố cho các thần thánh. Ví dụ như khi họ có một ngón chân bị làm mủ thì họ cúng một con gà. Nếu sau khi cúng mà vẫn bị sưng lên, thì phải cúng một con heo. Khi mà bị bịnh nặng nhất thì cúng một con trâu. Mà con trâu là tất cả gia sản của người Thượng. Khi chúng ta đem Tin Mừng cho những người như vậy, thì rõ ràng họ được giải thoát ra khỏi sự sợ hãi. Và sự sợ hãi đó làm cho họ trở nên nghèo nàn, làm cho họ trở nên mặc cảm.
Chúng tôi xác tín rằng công việc đầu tiên của Hội Thánh là sự loan báo Tin Mừng, và cũng tin rằng sợ loan báo Tin Mừng đó trọng tâm để có thể đem đến cho người dân tộc, một đời sống hạnh phúc hơn, đời sống có giá trị hơn và giải thoát họ rất nhiều điều. Cho nên có rất nhiều cách, nhiều nỗ lực tập trung vào trong vấn đề loan báo Tin Mừng. Tôi lấy một ví dụ: việc nhà thờ, làm nhà thờ cũng là một cách để giúp cho người dân tộc đón nhận Tin Mừng. Cho người dân tộc có một nhà thờ và đặc biệt nhất là trong nhà thờ đó họ đọc kinh bằng tiếng Thượng, hát bằng tiếng Thượng, dâng lễ bằng tiếng Thượng và chính nhà thờ đó mang dáng dấp nhà Thượng thì họ quí mến, rất hạnh phúc.
Có một cảnh đã xảy ra hằng chục năm nay. Nếu các cha có dịp đi trên quốc lộ 20, vào ngày Chúa Nhật khoảng 6h30-7h sáng, từ Hoà Ninh cho đến nhà thờ Phú Hiệp, một quãng đường khoảng 30-40 cây số, thì các cha thấy người Thượng cứ hai ba người đi dài dài, ăn mặc rất đẹp, nói chuyện rất vui. Khi đi, họ đi ra đường cái chứ không đi đường tắt, ngóc ngóc ngách, để mà đến nhà thờ. Dù họ ở trong làng thì họ cũng đi ra quốc lộ, rồi từ đó họ đi.
Khi thấy cảnh như vậy thì lòng chúng ta không thể nào mà không nghĩ đến cách để phục vụ những người đó. Vào ngày Chúa Nhật mặc dù trời mưa trời nắng họ vẫn luôn luôn trung thành đến nhà thờ. Cho nên khi có những tâm hồn khao khát như vậy thì tự nhiên chúng tôi phải liệu cho có nhà thờ. Sắp tới đây, sẽ có ngày lễ cung hiến cho nhà thờ Bơ - đơ. Từ bây giờ cho đến cuối năm, tôi sẽ đặt viên đá đầu tiên để cất một nhà thờ khác ở Dilinh gọi là nhà thờ Ga-men. Rồi xây một nhà thờ khác ở Đơn Dương bên kia sông Đa nin là nhà thờ Tun-ra. Và sẽ xây một nhà thờ thứ ba ở Bảo Lộc gọi là Tun-ra. Những nhà thờ đó đã có phép và chỉ còn chờ kinh phí nữa thôi.
Trong một năm, sẽ có một nhà thờ cung hiến và xây 3 nhà thờ, điều đó là một nỗ lực của giáo phận. Nhưng không chỉ có nhà thờ, có nhà thờ, sẽ có kinh bằng tiếng Thượng, có bài hát, có giảng viên giáo lý, rồi không thể để họ ra về mà đói được, cho nên chúng tôi, một đàng lo cho nhà thờ, nhưng phần dưới bếp cũng khó khăn và cũng quan trọng như phần trên nhà thờ. Có những nơi phải lo cho họ ra chiều thứ bảy, phải lo ăn uống, sáng Chúa Nhật thì lễ, và có giờ giáo lý, ăn sáng và trở về làng. Điều đó xảy ra ở Madagui, ở Lăng-bi-ăng…chỉ nhìn những công việc đó thôi chưa nói đến vấn đền văn hoá thì chúng ta thấy một lỗ lực và công việc rất lớn, vì hiện tại 71.000 người công giáo và trong số đó tôi tính khoảng trên 55.000 người đi lễ. Họ ra thì phải lo dạy giáo lý và đào tạo giảng viên giáo lý, rồi còn phải lo vấn đề ơn gọi nữa. Tôi có một phó tế Thượng 7 năm trời mà không tiến lên được, năm nào cũng nhắc lại vấn đề đó hết. Rất may bây giờ trong Đại Chủng Viện Sài Gòn có một thầy đã hết năm thứ tư rồi, thày K’Cheo, hy vọng học chính thức tại chủng viện thì vấn đề tiến chức linh mục sẽ dễ dàng hơn, đó là một may mắn. Ngoài ra, có 3 chị đã khấn tại Mến Thánh Giá Đà lạt, 2 chị tại Thủ Thiêm, một số thầy mặc áo dòng rồi mà chưa gửi vào Đại Chủng Viện được. Tóm lại, những gì liên hệ cách này cách khác tới loan báo Tin Mừng là ưu tiên một, phải làm mọi cách.
Tuy nhiên, chúng ta không thể loan báo Tin Mừng cho những người hôm nay đang phải sống quá cực khổ: những người hôm nay có cái để ăn, nhưng ngày mai không có gì để ăn, những người mà chỉ bệnh tiêu chảy
thôi cũng đủ đưa họ đến cái chết. Không thể loan báo Tin Mừng cho những người ở trong những căn nhà lúc nào cũng bị đe doạ rằng nó sẽ sập xuống. Và chúng ta cũng không thể loan báo Tin Mừng cho những trẻ em bụng lúc nào cũng như cái trống… Nên vấn đề phát triển là một vấn đền lớn.
Khi loan báo Tin Mừng cần phải lưu ý đến 3 điểm, thứ nhất là phát triển đời sống, thứ hai là y tế, và thứ ba là giáo dục. Mỗi giáo xứ, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ nhân sự, tuỳ khả năng, liệu làm được thì làm.
Công tác thứ nhất là về văn hoá giáo dục. Nếu chúng ta chỉ tiếp tục lo ăn, cho thuốc, thì chúng ta phải làm hoài. Có một làng người Thượng, cách giáo xứ của người Kinh chỉ 3 cây số, nhưng lúc nào cũng bị đói. Lúc bấy giờ ở trên Đà lạt, vấn đề dâu tằm đang lên giá, nên Giáo xứ người Kinh đã tập trung lấy giống, sai các chàng trai đưa tận làng người thượng cho họ. Rồi 2 tuần sau vào thăm, thì thấy còn nguyên bó, còn cột để nguyên ngoài sân, vì họ chẳng biết làm gì cả. Trước đó cũng có dạy, cũng trình bày hướng dẫn, nhưng người Thượng dừng lại ở đó. Lười biếng nên đói nghèo. Nên phải giáo dục, nhưng không biết làm thế nào.
Tôi đã đề nghị cả giáo phận tập trung vào một kế hoạch, những kế hoạch khác thì cứ việc làm, tuỳ địa phương. Đó là “Kế hoạch 25 đô-la ”. 25 đo cho một em Thượng nghèo đi học lớp mẫu giáo một năm, nhưng nếu nhận em nào thì phải nhận 7 năm (2năm mẫu giáo và 5 năm tiểu học là 175 đo-la), với ý nghĩa là 7 năm thì nó biết đọc biết viết, biết vệ sinh. Và nếu nó là công giáo, nó được xưng tội rước lễ, nó biết những cái tối thiểu. Rồi sau 7 năm đó sẽ tính sau.
Con số hiện tại là 431 em ở 22 giáo xứ, tuy rằng không đáng kể nhưng điều đó nói lên rằng: giáo phận có một hướng đi, có một hướng đi, có một chương trình và chương trình này lôi cuốn cả giáo phận. Ví dụ cha xứ không chỉ đưa danh sách 20 em nhưng cha xứ phải hợp tác với các tu sĩ, để theo dõi công việc đó, phải thăm viếng gia đình, phải đốc thúc, phải làm nhiều cái. Chương trình này mới chớm nở, nhưng có rất nhiều người ủng hộ. Tôi hy vọng niên khoá 2003-2004 sẽ nhận thêm 150 học bổng, và mỗi học bổng là 175 đô la, và như thế hy vọng sau một thời gian sẽ là một phong trào lôi cuốn mọi người ý thức được rằng: hễ không lo cho việc học của các em dân tộc thì những lỗ lực, những chương trình khác chúng ta không thể thực hiện được.
Đây là chương trình có thể chia sẻ thêm, theo chương trình đó thì giám mục kiếm tiền, các cha và các cộng đoàn tu sĩ thực hiện. Đưa danh sách được chọn lựa, được thăm viếng… rồi thì nhận tiền và theo dõi, đốc thúc. Chương trình này kéo dài và nhân lên mãi, hy vọng đây là một động cơ để thúc đẩy cả giáo phận dấn thân vì đối với người ta 25 đô-la = 400.000 đồng trong một năm là chuyện rất dễ làm.
Chương trình thứ hai là chương trình tủ thuốc gia đình. Chúng tôi nhận thấy rằng rất nhiều người Thượng bị bệnh, bị chết vì những bệnh rất bình thường: sốt rét, tiêu chảy, ghẻ lở… Vì họ không có vệ sinh, không có thuốc men, họ không biết cách chữa trị, mà chúng tôi lại không có chức năng để mở chạm xá. Tôi bày ra nhà xứ làm tủ thuốc gọi là “tủ thuốc gia đình”. Nếu tủ thuốc gia đình là cái quyền của mình và nếu tủ thuốc ở nhà xứ hay cộng đoàn tu sĩ thì giáo dân vẫn có thể ra vào một cách tự nhiên để xin thuốc. Những loại thuốc rất bình thường, nhưng họ vẫn không có, vẫn không biết cách sử dụng. Hiện giờ có 31 tủ thuốc.
Cả hai chương trình trên đều do toà Giám Mục đài thọ về kinh phí. Nhưng trong khi làm, nó thúc đẩy các cha và nữ tu không chỉ đến nhận tiền ở Toà Giám Mục và chấp nhận dừng lại ở con số ban đầu. Tôi đã làm từ năm 1995, như thế đã được 8 năm, và cả hai chương trình song song. Có lúc èo uột, như khi tủ thuốc không có tiền, nhưng tôi tin kết quả về con số chưa quan trọng, kết quả về tinh thần thì tôi rất hy vọng, và mong dần dần có nhiều người cộng tác nữa.
Tôi xin chia sẻ với các cha những điều rất nhỏ bé, bên cạnh đó các giáo xứ trong phạm vi riêng và trong hoàn cảnh cụ thể đã làm được những việc lớn hơn như làm nhà, đào giếng… Nhưng khi chúng ta lôi cuốn được, gây được ý thức thì điều đó mới là điều quan trọng.
Đức Tin thực hiện