Ý Kiến Một Giáo Dân Về Vấn Ðề Linh Mục Lấy Vợ. (tiếp theo)
Ðối với giáo dân Việt Nam, sự kính trọng các đấng chăn chiên rất là “cuồng nhiệt”. Tôi có cơ sở để tin rằng đối với giáo dân Việt Nam (tuyệt đại đa số, nếu không muốn nói là tất cả), lời các Cha nói bao giờ cũng phải, kể cả khi lời phát biểu của các vị có phần “hơi lạ tai”. Tôi xin kể một trường hợp về một bài giảng của một vị linh mục mà cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao ngài lại giảng như vậy. Trong thời gian tôi bị giam ở trại cải tạo Vũng Tàu vì tội vượt biên, nhờ dạy tiếng Anh cho con viên đại úy công an trưởng trại giam, cũng như nhờ một thân nhân ở Vũng Tàu bảo lãnh, tôi được thong thả ra vào trại trong ngày, chỉ phải vào ngủ trong một túp lều bên ngoài hàng rào trại. Lợi dụng tình trạng này, tôi thường đi lễ ở nhà thờ Vũng Tàu, nhất là lễ ngày Chủ nhật và các ngày lễ lớn. Mùa Phục Sinh năm ấy, tôi đi lễ và được nghe vị linh mục quản nhiệm giảng rằng “…ý Chúa oái oăm như vậy…”. Vị linh mục này mới khoảng trên bốn mươi tuổi. Tôi nghĩ rằng ngài đâu đã lẫn mà không thể dùng tiếng khác ngoài tiếng “oái oăm”, cái tĩnh từ chỉ được dùng với ý không mấy tốt đẹp. Chúng ta đều biết rằng khi còn ở trần gian, Chúa Giê Su đã dùng nhiều ẩn dụ, nhiều ví dụ để giảng dạy dân chúng. Ngôn từ Chúa dùng là ngôn từ của nền văn hóa Do Thái cách đây đã hai ngàn năm. Như vậy, ngôn từ, cũng như những ẩn dụ và ví dụ của Chúa, có thể khó hiểu đối với chúng ta ngày nay, chứ không thể “oái oăm” được. Chưa hết. Vào tối thứ sáu Ði Ðàng Thánh Giá, ở chặng Chúa Giê Su chịu chết, vị linh mục quản nhiệm phán một câu khiến tôi sững sờ: “Người ta nói ch… chết hết chuyện, nhưng Chúa chết chưa hết chuyện…”. Lạy Chúa tôi. Nếu một người nào đó không phải là linh mục nói như vậy trước mặt tôi, chắc tôi sẽ có phản ứng mạnh. Hết cách để so sánh rồi sao? Hết lời để giảng rồi sao? Vậy mà khi tôi kể chuyện này với những giáo dân khác, kể cả với người anh họ tôi, người đã từng ở chủng viện cho đến khi cuộc chiến tranh chống Pháp bùng nổ, thì họ bảo tôi rằng có thể ngài linh mục đó ở chủng viện quá lâu nên quên, hay không rành tiếng Việt. Cũng có người bảo tôi rằng nếu tôi dám cả gan đụng tới vị linh mục đó thì giáo dân họ sẽ đập tôi chết tươi. Chúng ta thấy ngay giáo dân Việt Nam kính trọng các vị đến như thế nào. Họ hướng về các đấng chăn chiên. Ðối với họ, các đấng là hoàn toàn, là gương mẫu, là ánh đuốc soi đường trong đêm tối. Vậy thì giáo dân Việt sẽ phản ứng như thế nào nếu có linh mục Việt quan hệ luộm thuôm về tình dục để rồi chính quý vị lại nêu vấn đề linh mục lấy vợ? Tôi nghĩ rằng ai trong chúng ta cũng có thể trả lời được theo kinh nghiệm sống của mình.
Dù sao, đó chỉ là ý kiến, hay gợi ý của một số linh mục Mỹ, trong khi đa số các vị khác vẫn cương quyết giữ trọn cái sắc thái cao quý của chức vị linh mục vì, theo tôi nghĩ, các vị này đã cho rằng nếu linh mục cũng “là con người như mọi người” thì khó “chăn” ai. Các vị còn có thể tập trung để giảng lời Chúa, để giảng đạo đức, luân lý… cho giáo dân không, trong khi tư tưởng các vị bị chi phối bởi chính những vấn đề của vợ con mình, nhất là khi chính các vị cũng có những người con không mấy ngoan? Trong tòa giải tội, hoặc nơi giải tội tập thể, các vị có còn đủ “mạnh” để thay mặt Chúa mà “tha tội” cho người khác không?
Như trên tôi trình bày, đó là những đòi hỏi chủ quan nơi các vị linh mục. Về khách quan, giáo dân chúng ta có thể làm gì để giúp các vị giữ trọn lời hứa, giữ trọn chức năng của mình? Chúng ta biết rằng việc không mấy vui vừa qua của Giáo-hội Mỹ đã đưa đến những dàn xếp bằng tiền bạc quá lớn, làm lợi không nhỏ cho các vị luật sư của đất nước Mỹ tự do, giàu có này.
Nói đến tự do và dân chủ, cũng vì chúng mà chúng ta có mặt tại đất nước này ngày hôm nay, cũng vì chúng mà chúng ta hãnh diện được làm công dân Mỹ, theo ý kiến cá nhân tôi, đất nước này có nhiều cái “quá”, trong đó có cả “quá tự do”, “quá dân chủ”, mà cái gì “quá” cũng không mấy tốt. Phải thành thực mà nói rằng những cái “quá” này đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho tôn giáo chúng ta. Kể từ ngày đặt chân lên miền đất tự do này cách đây gần mười năm, thỉnh thoảng tôi được mời nói chuyện ở một trường trung học Mỹ tại địa phương tôi, cũng như ở vùng lân cận. Có một câu hỏi ở đâu họ cũng đặt ra cho tôi: “Ông thích gì nhất và không thích gì nhất ở đất nước Mỹ này?”. Tôi trả lời ngay: “Tôi thích nhất là cái không khí tư do mà tôi đang được thở. Nhưng điều mà tôi không thích nhất cũng chính là cái không khí ấy khi nó ‘quá’ tự do”. Tôi đưa ra vài dẫn chứng và họ chấp nhận lập luận của tôi vì đó “chính là nước Mỹ”.
Khi còn ở thế gian, Chúa Giê Su đã phán với những kẻ đem người đàn bà ngoại tình đến cho Ngài xử rằng: “Kẻ nào sạch tội hãy ném đá trước đi”. Chúng ta không dám phê phán những hành động sai sót vừa qua của một số linh mục Mỹ, vì chúng ta có chắc là mình “sạch sẽ” không? Trên thực tế, chúng ta đã bị phê phán rất nặng lời bởi những người không cùng tôn giáo với chúng ta, nhất là bởi cái quá tự do trong giới truyền thông Mỹ. Ðiều nhức nhối là từ sự sai sót này lại nảy sinh ra vấn đề linh mục lấy vợ để giải quyết vấn đề sinh lý của con người, và để ngăn chặn những sai sót tương tự trong tương lai. Theo tôi nghĩ thì sự tiếp xúc quá thân mật giữa các vị tu hành với giáo dân nữ là nguyên nhân chính đưa tới những sai sót của các vị. Nếu tôi không lầm thì điều này thường được nhắc nhở trong Giáo-hội Việt. Nhưng xã hội này là tự do, rất tự do, hay quá tự do.Tôi còn nhớ cách đây hơn ba mươi năm, lần đầu tiên tôi đi lễ nhà thờ Mỹ, tôi cảm thấy “làm sao ấy” khi nhìn thấy vị linh mục đứng ở cuối nhà thờ ôm hôn con chiên sau khi hành lễ. Chúng ta có nghĩ rằng những nụ hôn như vậy hoàn toàn tự nhiên theo nền văn hóa tự do của đất nước này không? Chúng ta có nghĩ rằng những cọ xát thân thể, nhất là với các thiếu nữ trẻ đẹp, chẳng gây ra một “cái gì là lạ” không? Ðó là ở chỗ đông người. Ví dụ như trong phòng khách chỉ có hai người, một linh mục có hôn mừng một phụ nữ khi gặp và hôn chia tay không? Những nụ hôn như vậy không mảy may “kích thích” sao? Nhất là trong những lần gặp lại. Cũng ở nhà thờ này, một nhà thờ nhỏ trong trường học của tôi, tôi không dám nhìn cô trưởng ca đoàn trẻ đẹp, mặc váy cao, áo ngực thấp, ôm cây đàn ghi-ta gảy từng tưng, vừa giữ nhịp cho ca đoàn trên cung thánh, thỉnh thoảng lại quay xuống giữ nhịp cho cộng đoàn hát. Những hình ảnh như vậy có hoàn toàn tự nhiên không? Chúng có tạo ra một kích thích nào không, một suy nghĩ vẩn vơ nào không, một sự chia trí nào không? Ở cái tuổi gần đất xa trời của tôi, dù không còn cảm thấy nó “làm sao ấy”, nhưng tôi cũng không dám nhìn một một giáo hữu nữ trẻ ngồi trước tôi trong nhà thờ, mỗi lần đứng lên, ngồi xuống lại đưa tay kéo cái áo hở lưng của mình cho nó che cái lưng hở. Nhưng nó có che được đâu, người ta may nó ngắn mà. Hay chỉ có tôi là con người tội lỗi, có những tư tưởng bậy bạ?
Như vậy, các giáo dân nữ nên kín đáo hơn, không nên phơi bày quá đáng những nét đẹp của mình trước các vị tu hành, cũng như hạn chế những cử chỉ thân mật với các vị. Tôi tin rằng việc này sẽ có ảnh hưởng rất tích cực trong việc giúp các vị đi trọn quãng đường dâng hiến. Việc làm này của giáo dân nữ cũng là một hy sinh. Thật vậy, nếu ăn mặc thoải mái đi lễ, và sau đó đi pic nic hoặc đi sóp ping luôn thì tiện biết bao, thay vì phải về nhà hoặc ghé đâu đó để thay quần áo. Tôi chắc rằng việc hy sinh này của các giáo dân nữ sẽ được Thánh Phê Rô ghi công để rồi ngài sẽ mở cửa Thiên Ðàng đón quý vị sau này.Về chủ quan thì chính các vị tu hành phải tránh các cử chỉ thân mật này. Tôi nghĩ rằng đối với các linh mục Việt Nam ở nước ngoài, các cử chỉ thân mật như vậy, nếu có cũng rất hạn chế. Chúng ta chưa thể hoàn toàn hội nhập vào nếp sống quá thoải mái của các xã hội văn minh này. Riêng đối với các linh mục Việt Nam ở trong nước, tôi chưa thấy vị nào hôn giáo dân cả. Quý vị có thể hôn con nít, nhưng cũng rất hiếm. Tôi còn nhớ thầy tôi, linh mục Nguyễn Thái Bá, đã cư xử thế nào khi ngài đứng nói chuyện với chị tôi, một thiếu nữ nghèo nhưng khá đẹp. Hôm ấy mẹ tôi sai chị tôi đến gặp ngài có chuyện gì tôi không rõ, có thể là xin ngài trình với Cha chánh xứ cho tôi đi tu, cũng có thể là xin miễn học phí cho tôi, vì gia đình tôi lúc đó quẫn bách lắm. Chúng tôi được cho biết là Cha đi vắng nhưng sắp về, bèn chờ Cha ở phòng khách nhà xứ. Thấy bóng Cha đạp xe đạp về, tôi chạy ra thưa với ngài là chị tôi xin gặp. Ngài thoáng thấy chị tôi ngồi trong phòng khách nhà xứ, bèn bảo tôi gọi chị tôi ra ngoài nói chuyện. Tôi mải sờ soạng cái xe đạp của Cha nên không nghe rõ chị tôi đã nói gì với Cha, chỉ có một điều tôi nhận thấy là Cha không nhìn vào mặt chị tôi. Ngài vừa nói chuyện vừa quay đi nơi khác, và “chân trước chân sau”, ngài dắt xe đạp vào nhà xứ, đi như bị đuổi. Giờ đây tôi mới hiểu tại sao ngài không muốn ngồi, hoặc đứng nói chuyện với chị tôi trong phòng khách nhà xứ không lớn lắm. Ðó là sự kềm chế chủ quan.
(còn một kỳ)
Ðối với giáo dân Việt Nam, sự kính trọng các đấng chăn chiên rất là “cuồng nhiệt”. Tôi có cơ sở để tin rằng đối với giáo dân Việt Nam (tuyệt đại đa số, nếu không muốn nói là tất cả), lời các Cha nói bao giờ cũng phải, kể cả khi lời phát biểu của các vị có phần “hơi lạ tai”. Tôi xin kể một trường hợp về một bài giảng của một vị linh mục mà cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao ngài lại giảng như vậy. Trong thời gian tôi bị giam ở trại cải tạo Vũng Tàu vì tội vượt biên, nhờ dạy tiếng Anh cho con viên đại úy công an trưởng trại giam, cũng như nhờ một thân nhân ở Vũng Tàu bảo lãnh, tôi được thong thả ra vào trại trong ngày, chỉ phải vào ngủ trong một túp lều bên ngoài hàng rào trại. Lợi dụng tình trạng này, tôi thường đi lễ ở nhà thờ Vũng Tàu, nhất là lễ ngày Chủ nhật và các ngày lễ lớn. Mùa Phục Sinh năm ấy, tôi đi lễ và được nghe vị linh mục quản nhiệm giảng rằng “…ý Chúa oái oăm như vậy…”. Vị linh mục này mới khoảng trên bốn mươi tuổi. Tôi nghĩ rằng ngài đâu đã lẫn mà không thể dùng tiếng khác ngoài tiếng “oái oăm”, cái tĩnh từ chỉ được dùng với ý không mấy tốt đẹp. Chúng ta đều biết rằng khi còn ở trần gian, Chúa Giê Su đã dùng nhiều ẩn dụ, nhiều ví dụ để giảng dạy dân chúng. Ngôn từ Chúa dùng là ngôn từ của nền văn hóa Do Thái cách đây đã hai ngàn năm. Như vậy, ngôn từ, cũng như những ẩn dụ và ví dụ của Chúa, có thể khó hiểu đối với chúng ta ngày nay, chứ không thể “oái oăm” được. Chưa hết. Vào tối thứ sáu Ði Ðàng Thánh Giá, ở chặng Chúa Giê Su chịu chết, vị linh mục quản nhiệm phán một câu khiến tôi sững sờ: “Người ta nói ch… chết hết chuyện, nhưng Chúa chết chưa hết chuyện…”. Lạy Chúa tôi. Nếu một người nào đó không phải là linh mục nói như vậy trước mặt tôi, chắc tôi sẽ có phản ứng mạnh. Hết cách để so sánh rồi sao? Hết lời để giảng rồi sao? Vậy mà khi tôi kể chuyện này với những giáo dân khác, kể cả với người anh họ tôi, người đã từng ở chủng viện cho đến khi cuộc chiến tranh chống Pháp bùng nổ, thì họ bảo tôi rằng có thể ngài linh mục đó ở chủng viện quá lâu nên quên, hay không rành tiếng Việt. Cũng có người bảo tôi rằng nếu tôi dám cả gan đụng tới vị linh mục đó thì giáo dân họ sẽ đập tôi chết tươi. Chúng ta thấy ngay giáo dân Việt Nam kính trọng các vị đến như thế nào. Họ hướng về các đấng chăn chiên. Ðối với họ, các đấng là hoàn toàn, là gương mẫu, là ánh đuốc soi đường trong đêm tối. Vậy thì giáo dân Việt sẽ phản ứng như thế nào nếu có linh mục Việt quan hệ luộm thuôm về tình dục để rồi chính quý vị lại nêu vấn đề linh mục lấy vợ? Tôi nghĩ rằng ai trong chúng ta cũng có thể trả lời được theo kinh nghiệm sống của mình.
Dù sao, đó chỉ là ý kiến, hay gợi ý của một số linh mục Mỹ, trong khi đa số các vị khác vẫn cương quyết giữ trọn cái sắc thái cao quý của chức vị linh mục vì, theo tôi nghĩ, các vị này đã cho rằng nếu linh mục cũng “là con người như mọi người” thì khó “chăn” ai. Các vị còn có thể tập trung để giảng lời Chúa, để giảng đạo đức, luân lý… cho giáo dân không, trong khi tư tưởng các vị bị chi phối bởi chính những vấn đề của vợ con mình, nhất là khi chính các vị cũng có những người con không mấy ngoan? Trong tòa giải tội, hoặc nơi giải tội tập thể, các vị có còn đủ “mạnh” để thay mặt Chúa mà “tha tội” cho người khác không?
Như trên tôi trình bày, đó là những đòi hỏi chủ quan nơi các vị linh mục. Về khách quan, giáo dân chúng ta có thể làm gì để giúp các vị giữ trọn lời hứa, giữ trọn chức năng của mình? Chúng ta biết rằng việc không mấy vui vừa qua của Giáo-hội Mỹ đã đưa đến những dàn xếp bằng tiền bạc quá lớn, làm lợi không nhỏ cho các vị luật sư của đất nước Mỹ tự do, giàu có này.
Nói đến tự do và dân chủ, cũng vì chúng mà chúng ta có mặt tại đất nước này ngày hôm nay, cũng vì chúng mà chúng ta hãnh diện được làm công dân Mỹ, theo ý kiến cá nhân tôi, đất nước này có nhiều cái “quá”, trong đó có cả “quá tự do”, “quá dân chủ”, mà cái gì “quá” cũng không mấy tốt. Phải thành thực mà nói rằng những cái “quá” này đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho tôn giáo chúng ta. Kể từ ngày đặt chân lên miền đất tự do này cách đây gần mười năm, thỉnh thoảng tôi được mời nói chuyện ở một trường trung học Mỹ tại địa phương tôi, cũng như ở vùng lân cận. Có một câu hỏi ở đâu họ cũng đặt ra cho tôi: “Ông thích gì nhất và không thích gì nhất ở đất nước Mỹ này?”. Tôi trả lời ngay: “Tôi thích nhất là cái không khí tư do mà tôi đang được thở. Nhưng điều mà tôi không thích nhất cũng chính là cái không khí ấy khi nó ‘quá’ tự do”. Tôi đưa ra vài dẫn chứng và họ chấp nhận lập luận của tôi vì đó “chính là nước Mỹ”.
Khi còn ở thế gian, Chúa Giê Su đã phán với những kẻ đem người đàn bà ngoại tình đến cho Ngài xử rằng: “Kẻ nào sạch tội hãy ném đá trước đi”. Chúng ta không dám phê phán những hành động sai sót vừa qua của một số linh mục Mỹ, vì chúng ta có chắc là mình “sạch sẽ” không? Trên thực tế, chúng ta đã bị phê phán rất nặng lời bởi những người không cùng tôn giáo với chúng ta, nhất là bởi cái quá tự do trong giới truyền thông Mỹ. Ðiều nhức nhối là từ sự sai sót này lại nảy sinh ra vấn đề linh mục lấy vợ để giải quyết vấn đề sinh lý của con người, và để ngăn chặn những sai sót tương tự trong tương lai. Theo tôi nghĩ thì sự tiếp xúc quá thân mật giữa các vị tu hành với giáo dân nữ là nguyên nhân chính đưa tới những sai sót của các vị. Nếu tôi không lầm thì điều này thường được nhắc nhở trong Giáo-hội Việt. Nhưng xã hội này là tự do, rất tự do, hay quá tự do.Tôi còn nhớ cách đây hơn ba mươi năm, lần đầu tiên tôi đi lễ nhà thờ Mỹ, tôi cảm thấy “làm sao ấy” khi nhìn thấy vị linh mục đứng ở cuối nhà thờ ôm hôn con chiên sau khi hành lễ. Chúng ta có nghĩ rằng những nụ hôn như vậy hoàn toàn tự nhiên theo nền văn hóa tự do của đất nước này không? Chúng ta có nghĩ rằng những cọ xát thân thể, nhất là với các thiếu nữ trẻ đẹp, chẳng gây ra một “cái gì là lạ” không? Ðó là ở chỗ đông người. Ví dụ như trong phòng khách chỉ có hai người, một linh mục có hôn mừng một phụ nữ khi gặp và hôn chia tay không? Những nụ hôn như vậy không mảy may “kích thích” sao? Nhất là trong những lần gặp lại. Cũng ở nhà thờ này, một nhà thờ nhỏ trong trường học của tôi, tôi không dám nhìn cô trưởng ca đoàn trẻ đẹp, mặc váy cao, áo ngực thấp, ôm cây đàn ghi-ta gảy từng tưng, vừa giữ nhịp cho ca đoàn trên cung thánh, thỉnh thoảng lại quay xuống giữ nhịp cho cộng đoàn hát. Những hình ảnh như vậy có hoàn toàn tự nhiên không? Chúng có tạo ra một kích thích nào không, một suy nghĩ vẩn vơ nào không, một sự chia trí nào không? Ở cái tuổi gần đất xa trời của tôi, dù không còn cảm thấy nó “làm sao ấy”, nhưng tôi cũng không dám nhìn một một giáo hữu nữ trẻ ngồi trước tôi trong nhà thờ, mỗi lần đứng lên, ngồi xuống lại đưa tay kéo cái áo hở lưng của mình cho nó che cái lưng hở. Nhưng nó có che được đâu, người ta may nó ngắn mà. Hay chỉ có tôi là con người tội lỗi, có những tư tưởng bậy bạ?
Như vậy, các giáo dân nữ nên kín đáo hơn, không nên phơi bày quá đáng những nét đẹp của mình trước các vị tu hành, cũng như hạn chế những cử chỉ thân mật với các vị. Tôi tin rằng việc này sẽ có ảnh hưởng rất tích cực trong việc giúp các vị đi trọn quãng đường dâng hiến. Việc làm này của giáo dân nữ cũng là một hy sinh. Thật vậy, nếu ăn mặc thoải mái đi lễ, và sau đó đi pic nic hoặc đi sóp ping luôn thì tiện biết bao, thay vì phải về nhà hoặc ghé đâu đó để thay quần áo. Tôi chắc rằng việc hy sinh này của các giáo dân nữ sẽ được Thánh Phê Rô ghi công để rồi ngài sẽ mở cửa Thiên Ðàng đón quý vị sau này.Về chủ quan thì chính các vị tu hành phải tránh các cử chỉ thân mật này. Tôi nghĩ rằng đối với các linh mục Việt Nam ở nước ngoài, các cử chỉ thân mật như vậy, nếu có cũng rất hạn chế. Chúng ta chưa thể hoàn toàn hội nhập vào nếp sống quá thoải mái của các xã hội văn minh này. Riêng đối với các linh mục Việt Nam ở trong nước, tôi chưa thấy vị nào hôn giáo dân cả. Quý vị có thể hôn con nít, nhưng cũng rất hiếm. Tôi còn nhớ thầy tôi, linh mục Nguyễn Thái Bá, đã cư xử thế nào khi ngài đứng nói chuyện với chị tôi, một thiếu nữ nghèo nhưng khá đẹp. Hôm ấy mẹ tôi sai chị tôi đến gặp ngài có chuyện gì tôi không rõ, có thể là xin ngài trình với Cha chánh xứ cho tôi đi tu, cũng có thể là xin miễn học phí cho tôi, vì gia đình tôi lúc đó quẫn bách lắm. Chúng tôi được cho biết là Cha đi vắng nhưng sắp về, bèn chờ Cha ở phòng khách nhà xứ. Thấy bóng Cha đạp xe đạp về, tôi chạy ra thưa với ngài là chị tôi xin gặp. Ngài thoáng thấy chị tôi ngồi trong phòng khách nhà xứ, bèn bảo tôi gọi chị tôi ra ngoài nói chuyện. Tôi mải sờ soạng cái xe đạp của Cha nên không nghe rõ chị tôi đã nói gì với Cha, chỉ có một điều tôi nhận thấy là Cha không nhìn vào mặt chị tôi. Ngài vừa nói chuyện vừa quay đi nơi khác, và “chân trước chân sau”, ngài dắt xe đạp vào nhà xứ, đi như bị đuổi. Giờ đây tôi mới hiểu tại sao ngài không muốn ngồi, hoặc đứng nói chuyện với chị tôi trong phòng khách nhà xứ không lớn lắm. Ðó là sự kềm chế chủ quan.
(còn một kỳ)