ELOI LECLERC Ofm.
GIAI ĐOẠN KHỞI ĐẦU
Thành phố Át-xi-di nằm ở trung tâm nước Ý, toạ lạc trên dãy hoành sơn Xu-ba-di-ô, bên dưới là đồng bằng Om-bri-a. Thành phố được xây dựng ở đó như để đón nhận và phản chiếu tất cả ánh sáng từ trời toả xuống và từ đất chiếu lên
Chính tại thành phố nhỏ bé thời trung cổ này, Phan-xi-cô thành Át-xi-di chào đời năm 1181. Cậu bé này sẽ trở thành người của thời sẽ đến, như Tô-ma Xê-la-nô, nhà viết tiểu sử tiên khởi về ngài đã nói.
Là con trai một thương nhân buôn vải giàu có, cậu bé được đặt tên là Gio-an vào ngày nhận phép rửa tội. Nhưng khi ông Phê-rô Béc-na-đô-nê, cha cậu từ nước Pháp trở về sau một một chuyến buôn, ông đã đổi tên cậu bé thành Phan-xi-cô (Francesco - chú bé người Pháp).
Thế kỷ 12 là thời vàng son của các thương nhân. Chính trong thời kỳ đó, các thành phố thương mại lần lượt tự giải phóng khỏi quyền lực của chế độ phong kiến và thiết lập những công xã tự trị, tự quản.
Mùa xuân 1198, dân chúng Át-xi-di nổi dậy đánh chiếm pháo đài Rốc-ca thống lĩnh thành phố và san bằng bình địa. Năm 1200, thành phố Át-xi-di tuyên bố là công xã tự do.
1) Trong cơn lốc thời đại
Chàng trai Phan-xi-cô lớn lên trong một thế giới đang biến chuyển, trong đó người ta được hít thở một làn không khí vừa tự do, vừa ngột ngạt trong một bầu khí thù nghịch, tranh đấu và chiến tranh.
Phan-xi-cô tham gia rất sớm vào thương nghiệp của gia đình. Chàng kiếm được rất nhiều tiền và cũng phung phí một cách ngông cuồng trong các lễ hội với bạn bè. Họ tôn phong chàng là ông vua tuổi trẻ vàng son thành phố Át-xi-di. Chàng khôn khéo trong việc buôn bán, tao nhã và lịch thiệp trong giao tiếp, đồng thời chàng còn là một người bạn vui tính. Chàng có tất cả mọi thứ để có thể gặt hái thành công trong cuộc sống.
Phan-xi-cô ôm ấp những hoài bão lớn. Năm 16 tuổi, chàng mơ ước vinh quang binh nghiệp và khao khát trở thành một hiệp sĩ. Năm 18 tuổi, chàng gia nhập quân đội công xã và tham chiến chống lại thành phố láng giềng thù nghịch là Pê-ru-di-a.
Nhưng chàng bị bắt làm tù binh, một năm sau mới được trở về Át-xi-di với một tấm thân tàn tạ. Chàng ngã bệnh. Đó là giai đoạn cô đơn và phản tỉnh trong cuộc đời chàng. Thế giới nội tâm của chàng biến chuyển.
2) Hoán cải
Sau khi bình phục, những bước chân đầu tiên đi ra ngoài đã dẫn chàng tới các nhà thờ hoang phế nhỏ bé miền quê ngoại ô thành phố Át-xi-di. Chẳng hạn nhà thờ Thánh Đa-mi-a-nô. Tại đó, chàng đã cầu nguyện hằng giờ trước ảnh tượng Chúa Ki-tô theo kiểu Bi-giăng-tin. Giây phút quyết định đã đến: ánh mắt Phan-xi-cô đăm đăm nhìn lên Đức kitô, ánh mắt Đức Ki-tô đăm đăm nhìn Phan-xi-cô: Thiên Chúa tối cao và vinh hiển đến chiếu rọi vào cõi tối tăm trong tâm hồn tôi Một làn sóng sự sống, một dòng nước tình yêu xâm chiếm con tim Phan-xi-cô.
Thế rồi, dòng nước tình yêu ấy đã cuốn hút chàng đi đến với những người bần cùng: bấy giờ chàng mạnh dạn đến với người phong cùi, thăm viếng các trại phong và tận tình chăm sóc cho họ. Thế giới của chàng đã nghiêng về phía những người bị loại trừ, bé nhỏ và nghèo hèn.
Ông Phê-rô Béc-na-đô-nê không thừa nhận cậu con trai nữa. Ông không hiểu, nên ông không chấp nhận sự biến chuyển đang làm thay đổi người con của ông. Thất vọng và xấu hổ vì cậu con trai thường lui tới trại phong, ông giận tím mặt khi nghe biết chàng đã bán một kiện vải để lấy tiền tu sửa một ngôi nhà thờ hoang tàn. Ông đòi lại số tiền. Phan-xi-cô bị triệu hồi ra trước toà án đức giám mục Át-xi-di, chàng trả lại cho cha tất cả mọi sự, kể cả tiền bạc lẫn áo quần. Sự bất hoà đến hồi kết thúc.
Kể từ lúc ấy, Phan-xi-cô hoàn toàn tự do. Chàng khoác một tấm áo thô hèn và lên đường ra đi, quay lưng với tiền bạc, quyền thế và công danh mà chàng chảng quan tâm dính bén hơn bụi đường: chàng chìm ngập một cách huyền nhiệm trong luồng khí ca tụng. Khi mấy anh cướp trấn lột chàng trên núi, chàng thản nhiên tuyên bố: Tôi là sứ giả của Đức Vua cao cả. Nơi chàng, Tin mừng nghèo khó song hành với Tin mừng lời tụng ca.
3) Sống ẩn dật
Chàng sống cuộc đời ẩn dật 2 năm, đi xin của bố thí như một người hành khất. Vâng lệnh Đức Ki-tô truyền dạy tại nhà thờ thánh Đa-mi-a-nô, Đấng chỉ thị cho chàng tu sửa lại nhà của Người, chàng bắt tay sửa chữa nhiều nhà nguyện hư nát vùng ngoại ô thành phố Át-xi-di như nhà nguyện thánh Đa-mi-a-nô, nhà nguyện thánh Phê-rô và nhà nguyện Đức Bà các thiên thần hay còn gọi là nhà nguyện Đức Ma-ri-a Póc-xi-un-cu-la.
4) Tiếng gọi Tin mừng
Thế rồi một ngày kia, ngài vào cung thánh nhà nguyện Đức Mẹ Póc-xi-un-cu-la tham dự thánh lễ và nghe đọc bài Tin mừng Đức Giêsu sai các môn đệ đi truyền giáo: Anh em hãy ra đi, Thầy sai anh em đi như chiên giữa bầy sói. Anh em đừng đem theo vàng bạc, tiền của Vào nhà nào, anh em hãy nói: chúc bình an cho nhà này. Đó là một khai sáng cho tâm trí Phan-xi-cô. Ơn gọi của ngài đã được mặc khải. Ngài sung sướng kêu lên: Đó là điều tôi ao ước, đó là điều tôi tìm kiếm! Ngài sẽ đi vào thế giới như các môn đệ đã được Thầy sai đi, không vàng không bạc, hoàn toàn trần trụi; và cũng như các môn đệ, ngài loan báo hoà bình: hoà bình thiên sai, sự giải hoà giữa Thiên Chúa với con người và giữa con người với nhau. Trong một thế giới xâu xé, ngài sẽ là một sứ giả kiến tạo hoà bình.
Một dự phóng táo bạo trong tinh thần đơn sơ. Bước theo lý tưởng Tin mừng , Phan-xi-cô sẽ tuyệt giao với hệ thống chính trị-tôn giáo thời đại của ngài, thậm chí ngài cũng không biết rõ điều đó: với quyền lãnh chúa của giáo hội cũng như với các cuộc thánh chiến và thập tự chinh. Ngài sẽ khai mở một con đường mới trong một Giáo Hội, vì sở hữu nhiều tài sản - các toà giám mục và đan viện -, nên đã trở thành phong kiến và lãnh chúa.
5) Chúa đã ban cho tôi các anh em
Nói cho đúng, Phan-xi-cô không hề mơ tưởng thiết lập một hội dòng tu trì hay cải cách giáo hội. Ngài chỉ muốn đi theo sát Đức Ki-tô.
Tuy nhiên, nhiều thanh niên trưởng giả thành phố Át-xi-di như Béc-na Canh-ta-va-lê, Phê-rô Ca-ta-nê đã bị gương sáng của ngài thu hút và đến với ngài rất sớm. Phan-xi-cô tiếp nhận họ như những anh em được Chúa gởi đến. Đó là khoảnh khắc hệ trọng trong cuộc đời ngài. Bởi lẽ đó là giây phút bắt đầu cuộc mạo hiểm phan sinh đúng nghĩa. Từ đó về sau, chính trong huynh đệ đoàn mà ngài sống lý tưởng Tin mừng.
Phản ứng đầu tiên của ngài là cùng với mười một anh em tiên khởi đi triều yết đức giáo hoàng và đệ trình dự phóng tin mừng. Sự táo bạo của dự phóng không khỏi làm cho Đức In-nô-xen-tê và giáo triều ái ngại: Phan-xi-cô và anh em sẽ sống thế nào nếu không có sở hữu và lợi tức? Đàng khác, thời kỳ ấy đã có nhiều giáo phái viện dẫn lý tưởng Tin mừng và nhân danh lý tưởng nghèo khó để công kích Giáo Hội!
Tuy thế, nhờ Thánh thần thúc đẩy và cảm kích trước sự khiêm hạ và đơn sơ của anh em, đức In-nô-xen-tê đã phê chuẩn dự phóng của anh em.
Anh em tràn ngập niềm vui, lên đường trở về Át-xi-di. Anh em dừng chân tại Ri-vô Tóc-tô, trú ngụ trong một túp lều chật chội và bỏ hoang bên một dòng suối.
Thế là đời sống của anh em bắt đầu: sống nghèo triệt để, nhưng cũng hân hoan trong tình huynh đệ và trong tiếng ca ngợi khen Chúa. Để kiếm sống, anh em tự nguyện làm công trong nhà dân chúng và đảm nhận những công việc thấp hèn. Một vài anh em chăm sóc cho bệnh nhân phong cùi. Tất cả anh em đều chỉ có một mối ưu tư trở nên người xây dựng hoà bình. Số lượng anh em không ngừng phát triển. Anh em rời Ri-vô Tóc-tô và đến cư trú giữa một rừng cây trong cánh đồng Át-xi-di, chung quanh nhà nguyện Đức Mẹ Póc-xi-un-cu-la.
MỘT PHONG TRÀO HUYNH ĐỆ
Đó là mùa xuân của Tin mừng. Trong một xã hội xáo trộn bởi sự phát triển kinh tế, làm mồi cho những xung đột xã hội, Phan-xi-cô khai mở những con đường huynh đệ.
Huynh đoàn tiên khởi đã khai sinh nhiều huynh đoàn khác. Người ta thấy nở rộ hầu như khắp nơi trên đất nước. Đó là mùa xuân thật sự của Tin mừng. Số anh em tăng lên hàng trăm, rồi hàng ngàn; và toả lan khắp châu Âu.
Động lực thu hút các thanh niên và người trẻ đến với nếp sống ấy chính là tình huynh đệ. Ngay đức nghèo cũng được xem như một con đường của tình huynh đệ. Phan-xi-cô nói: Không một anh em nào có quyền thống trị, nhất là trên anh em mình. Không ai được gọi là tu viện trưởng Bất cứ anh em ở đâu, khi gặp nhau hãy tỏ ra là anh em cùng một gia đình.
Đó quả là một sự mới mẻ lạ lùng trong Giáo Hội thời ấy. Các giám mục trong giáo phận, các viện phụ trong đan viện thực tế là những lãnh chúa phong kiến, hành xử quyền bính trần thế thật sự trên dân chúng một vùng lãnh địa.
Còn anh em không có đan viện, nhà thờ hay đất đai. Buổi đầu, anh em trú ngụ trong những nơi may mắn gặp được bên ngoài thành phố. Ban ngày, anh em hoà nhập vào dân chúng, làm thuê làm mướn chỗ này chỗ nọ. Anh em nuôi sống bằng công việc tay chân hay bằng của bố thí. Một vài anh em dấn thân vào việc rao giảng. Anh em rảo qua làng này đến làng khác; và đến bất cứ nơi nào, anh em cũng tỏ ra là những sứ giả xây dựng hoà bình.
Lạy Chúa, xin dùng chúng con như khí cụ hoà bình để chúng con đem yêu thương vào nơi oán thù đem hiệp nhất vào nơi bất hoà.
1) Hoà bình và ngợi khen
Hoà bình mà anh em loan báo có tên gọi là tình huynh đệ. Nói cho đúng, hoà bình đó không gì khác hơn là sự chiếu toả của tình huynh đệ giữa anh em. Anh em muốn chia sẻ tình huynh đệ ấy cho mọi người.
Đó cũng là sự hiệp thông trong lời ngợi khen Chúa. Thánh Phan-xi-cô rất nhấn mạnh điểm này. Ngài mong muốn anh em là những con người của lời ngợi khen và thờ phượng. Chính ngài làm gương cho anh em. Ngài thường xuyên rút lui vào ẩn viện cô tịch cùng với vài anh em dành trọn nhiều ngày để ngợi khen và thờ phượng Chúa; sau đó ngài mới trở lại cuộc đời hành hương của sứ giả hoà bình.
Cuộc đời ngài gắn liền với những ẩn viện cô tịch: Các-xê-ri, Xen-lê, Xan Uốc-ba-nô, Póc-gi-ô Bút-tô-nê, Phôn-tê Cô-lôm-bô, Grê-si-ô, La Véc-na
2) Ơn gọi Cla-ra
Sự thành công của huynh đoàn mới khai sinh không chỉ giới hạn trong nam giới. Nó lan toả đến giới nữ rất sớm. Thật vậy, lý tưởng Tin mừng của Phan-xi-cô đã chóng gây nên một âm hưởng sâu đậm trong con tim một thiếu nữ đài các ở thành phố Át-xi-di. Thiếu nữ ấy tên Cla-ra, 18 tuổi.
Chẳng có gì tiên liệu Cla-ra sẽ gặp Phan-xi-cô và thấu hiểu ngài. Cô kém ngài 12 tuổi, gia đình cô lại thuộc tầng lớp xã hội cổ kính, phong kiến và lãnh chúa, cô thừa hưởng một nền giáo dục uyên bác và hứa hẹn một cuộc hôn nhân vương giả. Cô không hề có một tuổi trẻ tinh nghịch như Phan-xi-cô. Không lâu trước khi thành lập công xã, thành phố Át-xi-di bị xáo trộn, gia đình cô lánh nạn sang thành phố láng giềng Pê-ru-di-a.
Trở về Át-xi-di vài năm sau đó, cô nghe đồn đãi chàng trai trưởng giả đã từ bỏ tất cả, gia đình, của cải, quyền thế để đi theo Đức Ki-tô nghèo khó. Nhất là cô đã nghe chàng giảng tại vương cung thánh đường Át-xi-di. Cô cảm kích sâu xa trước lời lẽ đơn sơ và nóng bỏng còn vang vọng trong tâm hồn cô như một lời mời gọi. Từ lúc ấy, cô mong muốn gặp chàng. Cùng với môt bạn gái, cô tìm gặp chàng để thỉnh ý về ơn gọi của mình. Nhận thấy cô có một tâm hồn tinh tuyền và dũng cảm, Phan-xi-cô khuyến khích cô tận hiến cho Chúa. Và cô đã quyết định.
Chiều ngày lễ Lá năm 1212, Cla-ra khoác một bộ áo lộng lẫy nhất, kín đáo ra khỏi nhà và vội vã tiến về nhà nguyện Đức Mẹ Póc-xi-un-cu-la, tại đây Phan-xi-cô và anh em đang đứng đợi. Cô trút bỏ trang phục lông lẫy và khoác tấm áo đền tội. Trước tiên, cô được đưa đến đan viện thánh Phao-lô, dòng nữ Bê-nê-đic-tô. Vài tuần sau, cô chuyển đến sống tại nhà nguyện thánh Đa-mi-a-nô. Lập tức, nhiều thiếu nữ thượng lưu, trong đó có cô em gái A-nê, đã nối gót theo cô, sống cuộc đời Tin mừng trong nghèo khó và ngợi khen. Cũng như huynh đoàn của anh em, huynh đoàn các chị gia tăng rất nhanh chóng.
3) Đan viện thánh Đa-mi-a-nô
Để có một khái niệm về cuộc sống của các chị trong buổi đầu, chúng ta phải trở về với đan viện thánh Đa-mi-a-nô, gần thành phố Át-xi-di, nơi Cla-ra và chị em sinh sống. Đan viện thánh Đa-mi-a-nô là một trong những nơi mà ngày nay chúng ta còn tìm thấy nét đẹp tinh tuyền của lý tưởng nguyên thuỷ.
Lối kiến trúc bình dị, phòng ốc chật hẹp, trần nhà thấp và dân giã, sườn nhà bằng gỗ, bàn ghế bằng gỗ xù xì, tất cả những thứ đó là bằng chứng của một ý chí muốn sống nghèo khó và dung dị. Dĩ nhiên, mọi nơi đều toả chiếu ánh sáng. Một thứ ánh sáng dịu dàng, nội tâm, hoà hợp với ánh sáng bầu trời Om-bri-a. Khi chúng ta đi dạo trong đan viện nhỏ bé ấy và trông thấy giếng nước trong lành hay vườn hoa của thánh nữ Cla-ra, chúng ta sẽ nhận ra Tin mừng của sự nghèo khó đã kết hợp với Tin mừng của lời ca tụng và niềm vui của lời ngợi khen như thế nào. Thật vậy, Tin mừng nghèo khó đã được sống như một con đường của tình huynh đệ và hiệp thông với tất cả mọi người và toàn thể tạo vật. Chúng ta sẽ thấu hiểu lời thánh vịnh mà thánh Phan-xi-cô rất yêu thích: Người nghèo khó sẽ vui mừng xem thấy Thiên Chúa
4) Sự lớn nhanh của huynh đoàn
Nhận thấy các huynh đoàn anh em cũng như chị em gia tăng, thánh Phan-xi-cô chỉ biết tạ ơn Thiên Chúa vì mùa xuân Tin mừng đến trong Giáo Hội. Vâng, ngài vẫn thích nói Thiên Chúa thật là Đấng Thiện Hảo, là nguồn mạch mọi điều thiện hảo. Ngài đã thấy Chúa chiếu toả trên anh em ánh quang huy hoàng như ánh mặt trời.
Mỗi năm, vào dịp lễ Ngũ Tuần, anh em trong mỗi tỉnh dòng tề tựu tại một nơi quy định để cử hành tu nghị. Những cuộc gặp gỡ đó là thời gian thiết yếu trong đời sống anh em. Anh em cầu nguyện chung với nhau, chia sẻ kinh nghiệm và với sự trợ giúp của những đại biểu ngay chính và đức độ, anh em hoạch định dự phóng đời sống.
Vì số anh em mỗi ngày một gia tăng, thánh Phan-xi-cô không thể đích thân tham dự mọi cuộc tu nghị tỉnh dòng. Do đó, ngài quyết định triệu tập toàn thể anh em về tham dự tổng tu nghị tại nhà nguyện Đức Mẹ Póc-xi-un-cu-la nằm trên cánh đồng Át-xi-di, nơi khai sinh huynh đoàn tiên khởi.
Mùa xuân 1217 (hoặc 1219), tin ấy nhanh chóng được loan đi và không những được anh em nhiệt tình hưởng ứng, mà tất cả dân chúng trong vùng cũng đồng tình, vì họ muốn góp phần vào sự thành công của ngày hội lớn ấy.
5) Tu nghị chiếu
Gần đến ngày lễ Ngũ Tuần, từng đoàn đông đảo anh em tiến về: ba ngàn hoặc năm ngàn tuỳ nguồn sử liệu. Tu viện nhỏ bé Póc-xi-un-cu-la không thể chứa tất cả anh em. Và mặc dầu công xã Át-xi-di đã cho xây dựng một nếp nhà bằng đá rộng thênh thang kế bên, nhưng phần đông anh em dựng trại từng nhóm ngoài đồng, trong các túp lều bằng lá hoặc trong các chòi tre vách chiếu. Bởi thế, người ta gọi là tu nghị chiếu.
Đại hội huynh đệ đã khơi dậy một mối thiện cảm dạt dào nơi dân chúng trong vùng.
Người ta thấy từng đoàn người cấp dưỡng từ Pê-ru-di-a, Xi-pen-lô và Át-xi-di kéo đến, họ mang đến cho anh em mọi thứ tốt lành.
Chính dân chúng cũng hoà lẫn với anh em. Tình huống thật khác thường. Quả là một ngày lễ.
Đức hồng y Hu-gô-li-nô, vị bảo trợ của dòng và nhiều giám mục cũng hiện diện. Trong thánh lễ, thánh Phan-xi-cô ngỏ lời với cộng đoàn. Mọi người chờ đợi giây phút ấy. Dáng dấp của ngài tuy nhỏ bé, nhưng giọng nói vút cao và trong trẻo. Một giọng nói nồng ấm và truyền cảm. Một chứng nhân kể lại rằng: Nếu một anh em nào đến dự tu nghị mà lòng còn ray rứt vì một cám dỗ nào đó, chỉ cần nghe tiếng nói cháy bỏng và ngọt ngào của thánh Phan-xi-cô, chỉ cần nhìn thấy ngài bằng xương bằng thịt là hết ray rứt ngay tức khắc. Thật thế, ngài biết cách khuyến dụ anh em, như thể chính ngài cảm nghiệm những đau đớn của họ (Truyện ký vô danh thành Pê-ru-di-a 8,39)
Tu nghị chiếu phô diễn một đỉnh cao trong cuộc đời thánh Phan-xi-cô cũng như trong kinh nghiệm phan sinh thời tiên khởi: đó là đỉnh cao sáng chói, kể về số lượng anh em cũng như nhiệt tình hiệp thông huynh đệ.
CHIỀU KÍCH THẾ GIỚI
Luồng sinh khí huynh đệ thúc đẩy Phan-xi-cô vượt qua biên giới các quốc gia đã làm cho hội dòng lớn mạnh. Nhưng Thiên Chúa muốn dạy cho ngài biết sự nghèo khó đích thật.
Luồng sinh khí huynh đệ đã từng nâng tâm hồn Phan-xi-cô lên cao không thể dừng lại nơi đó, nhưng đã luôn luôn thúc đẩy ngài đi xa hơn nữa, hướng đến một tình huynh đệ đại đồng.
Thật vậy, tầm nhìn của Người Nghèo thành Át-xi-di vượt qua biên giới nước Ý và cả châu Âu. Tầm nhìn của ngài bao trùm cả thế giới. Ngài mơ ước quy tụ tất cả mọi người trong một mối dây hiệp thông như thế và ngài đã thâu họp tất cả trong tình yêu Thiên Chúa.
Như triết gia P. Ri-cơ nhận xét, ngài mong muốn hoán cải mọi kẻ thù nghịch vì mối căng thẳng huynh đệ và hiệp nhất họ lại trong sự duy nhất của tạo thành.
Thời bấy giờ, thế giới hiển nhiên phân chia thành hai khối lớn khép kín, hai khối đối địch: một bên là thế giới ki-tô giáo và bên kia là hồi giáo. Giữa hai khối là thánh chiến, là thập tự chinh. Địa điểm gây bất hoà và tranh chấp đích thị là Thánh địa, nơi Đức Ki-tô đã sống và chịu đau khổ vì nền hoà bình thế giới.
6) Một dự phóng điên rồ
Thánh Phan-xi-cô không muốn chấp nhận sự đổ vỡ đó. Vì thế, ngài phác hoạ dự án xây dựng một nhịp cầu giữa hai khối, liên kết hai bên trong tình huynh đệ. Thời điểm lúc bấy giờ quả thật không thích hợp cho một kế hoạch như vậy. Cuộc thập tự chinh thứ năm do đức In-nô-xen-tê hạ chỉ đang đến hồi khốc liệt. Điều ấy không trở ngại chi! Phan-xi-cô quyết định lên đường sang Cận Đông để gặp vua hồi giáo nước Ai cập và để mang sứ điệp Tin Mừng và huynh đệ vào điểm nóng ấy. Một giấc mộng điên rồ. Cuối tháng sáu năm 1219, thánh Phan-xi-cô lên tàu tại cảng An-côn hứơng về cảng Ác-rờ và Đa-mi-ét-ta.
Hiển nhiên, sự hiện diện của ngài tại trại quân thập tự khiến mọi người cảm kích. Khi ngài tỏ bày dự phóng, người ta cho rằng ngài quá ảo tưởng. Chứng từ của Đức hồng y Gia-cô-bê đờ Vi-tri có mặt tại đó, đã phản ánh khá rõ ấn tượng của Người Nghèo thành Át-xi-di, người viết: Lòng nhiệt tâm và nỗi say mê thuộc linh đã thúc đẩy ngài hành động quá khích như thế, nên vừa đến nơi binh đoàn ki-tô giáo đóng quân đối diện thành phố Đa-mi-ét-ta bên Ai-cập, ngài liền tiến sang trại quân vua hồi giáo mà chẳng hề sợ hãi, chỉ trang bị bằng khiên thuẫn đức tin.
7) Thánh Phan-xi-cô trước mặt vua hồi giáo
Thật là một cuộc mạo hiểm gian nguy và nói cho đúng là điên rồ. Một toán quân hồi giáo chận bắt ngài. Thoát chết trong gang tấc. Thể theo lời yêu cầu của ngài, người ta dẫn ngài đến doanh trại vua hồi giáo là Ma-líc an Ka-min. Ông đồng ý tiếp chuyện và nghe ngài. Hai người có nhiều thiện cảm và tỏ ra lịch thiệp đối với nhau. Câu chuyện chỉ dừng lại ở đó. Người ta có thể hy vọng điều gì hơn nữa chăng? Như thế đã quá nhiều. Vừa nhiều vừa ít. Sứ mệnh hoà bình của thánh Phan-xi-cô đã chạm tới một ranh giới. Vả lại, khi thập tự quân đánh chiếm Đa-mi-ét-ta và chém giết tàn bạo, những hy vọng của thánh Phan-xi-cô liền tan theo mây khói. Những sự kiện ấy đã bổ báng cuộc vận động hoà bình của ngài. Ngài cảm thấy đau đớn.
8) Thất bại
Thật hết sức trớ trêu! Trong khi ngài đang nỗ lực làm trung gian hoà bình giữa thập tự quân và vua hồi giáo, một sứ giả đến từ nước Ý báo cho ngài biết trong khi ngài vắng mặt, nội bộ huynh đoàn đã bất hoà trầm trọng và các anh em thân cận của ngài đang khổ tâm.
Đây là sự thất bại trên mọi chiến tuyến. Hoạ vô đơn chí, đôi mắt viêm nhiễm vì mặt trời nóng bỏng nay khiến ngài hầu như mù loà và rất đau đớn.
Tổn thương trong tâm hồn cũng như trong thân xác, ngài trở về nước Ý trong thảm hại. Ngài tìm gặp những anh em lạc lối.
Các anh phó tổng phục vụ mà ngài uỷ thác điều hành Hội Dòng trong lúc ngài văng mặt, đã đề xuất một vài sáng kiến không hợp thời khiến các anh em trung thành nhất hoang mang.
Thật thế, vì số anh em không ngừng gia tăng, nên họ đã áp đặt một tổ chức chặt chẽ hơn. Đó là điều hiển nhiên.
Phải chấm dứt kiểu sống lang thang. Đàng khác, việc huấn luyện đòi hỏi cần phải có các cơ sở và thời gian. Thánh Phan-xi-cô nhận biết điều đó. Tuy nhiên, ngài cũng nhận thấy manh nha nơi một vài anh em ý muốn đồng hoá huynh đoàn với các hội dòng đan tu.
Bởi thế, công việc trước mắt là phải duy trì tính chất nguyên thuỷ của huynh đoàn, bảo vệ lý tưởng đơn sơ và tự do của Tin Mừng, lối sống ngay thật và huynh đệ.
9) Bất an và tức giận
Phải làm gì đây? Áp đặt? Ngài cảm thấy kiệt sức. Lực bất tòng tâm. Tình trạng sức khoẻ ngày càng tồi tệ, ngài phải từ chức tổng phục vụ; điều tệ hại đó lại xảy đến vào chính lúc anh em cần sự hiện diện của ngài.
Ngài tạm thời rút lui vào một ẩn viện cô tịch. Đó là giây phút đen tối nhất trong cuộc đời ngài. Ngài không còn biết rõ Thiên Chúa chờ đợi gì nơi ngài. Ngài có cảm tưởng người ta muốn giật ngài ra khỏi Hội Dòng và lôi kéo ngài xa rời ơn gọi ban đầu. Bấy giờ, ngài cảm nghiệm những giây phút bất an, buồn phiền và cả sự nổi giận nội tâm. Tô-ma Xê-la-nô viết: Thật là một nỗi đau lòng cho ngài khi biết tin một số anh em đã loại bỏ những gì họ đã quyết tâm trước đây Ngài bất an bên trong và bên ngoài, trong tâm hồn và ngoài thân xác. Đôi khi ngài trốn tránh anh em, bởi vì cơn cám dỗ đó làm cho ngài không thể tỏ lộ nét mặt vui tươi như trước đây (Truyện ký Pê-ru-di-a 21)
10) Sự trần trụi tối thượng
Huynh đoàn? Đoá hoa Tin Mừng? Huynh đoàn này đã là nguồn nghị lực mạnh mẽ cho đời sống của ngài và ngài muốn nó có tính phổ quát, không lẽ sắp thất bại sao? Chỉ là một giấc mơ, một ảo tưởng?
Mối hoài nghi len lỏi trong tâm hồn ngài cùng với cơn cám dỗ ghê gớm muốn khép mình trong sự cô tịch kiêu kỳ và cay đắng.
Cơn khủng hoảng ấy, càng trầm trọng hơn vì bệnh tật, quả là một thử thách nghiêm trọng. Thiên Chúa đợi ngài ở đấy. Thánh Phan-xi-cô được mời gọi tiến tới một sự trần trụi tối thượng, một sự nghèo khó triệt để. Một sự nghèo khó không chỉ liên quan đến của cải vật chất, nhưng đụng chạm đến bản chất thâm sâu nơi con người .
Bên trong con người có một ý muốn chiếm hữu, bởi đó con người chiếm làm của riêng điều thiện hảo mình thực hiện và vênh vang vì nó. Không phải vô cớ mà trong suốt các thư văn, thánh Phan-xi-cô tố giác cái ý muốn khiến chúng ta tự xưng là thầy và chủ nhân các điều thiện chúng ta làm; không phải vô cớ mà ngài nhận thấy trong sự bối rối và tức giận những dấu chỉ chắc chắn của sự chiếm hữu thầm kín ấy. Chính ngài đã có kinh nghiệm đó; ngài có kinh nghiệm về cơn cám dỗ bối rối và tức giận. Và Chúa đã chỉ cho ngài biết ngài phải truất hữu chính công trình của ngài - đó là huynh đoàn mà ngài nhiệt tâm gầy dựng - để chính mình trở thành công trình của Thiên Chúa: Hỡi con người nhỏ bé, thấp hèn và dốt nát, hãy nói cho ta biết vì sao người khổ tâm như thế? Ai đã gieo trồng hội dòng anh em? Chẳng phải ta sao? Ta đã chọn ngươi là kẻ đơn sơ và dốt nát để ngươi và anh em ngươi biết rằng chính ta sẽ chăm sóc cho đoàn chiên của ta. Vậy ngươi chớ buồn phiền nữa (Truyện ký Pê-ru-di-a 86)
Thánh Phan-xi-cô tin tưởng lời Chúa. Và với đức tin của người nghèo, ngài trao phó hoàn toàn Hội Dòng cũng như bản thân trong bàn tay Thiên Chúa (Lạy Chúa con, Lạy Chúa con, Chúa là ai? Và con là ai?) Yêu và yêu nhiều đều chưa đủ. Phải học trở nên nghèo khó trong tình yêu, nhất là trong tình yêu. Không chiếm hữu sự gì. Không chiếm hữu người nào. Bấy giờ, tình yêu mới đạt tới đỉnh trọn lành.
11) Bình an tái lập
Hội Dòng không còn là việc của ngài, nhưng là việc của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Thiên Chúa, như thế là đủ. Ngay từ lúc đó, thánh Phan-xi-cô cởi mở trọn vẹn cho Thánh Thần của Chúa. Một luồng gió bình an và thanh thản xâm chiếm ngài. Tất cả con người ngài bắt đầu toả rạng huy hoàng như ánh mặt trời sau cơn giông bão.
Thánh Phan-xi-cô trở thành con người tươi sáng. Không gì có thể tách rời ngài khỏi tình yêu của Đấng Tạo Hoá.
Và này đây, ngài cảm thấy chan chứa một năng động mới, ngài tâm sự cùng các bạn đường: Cho đến bây giờ, chúng ta chưa làm được gì, chúng ta hãy bắt đầu làm một cái gì đi nào.
Kỳ thực thì không phải làm việc này hay việc nọ, nhưng là để cho Thánh Thần Chúa hoạt động trong chúng ta.
Một anh phụ trách cộng đoàn xin phép rút lui vào ẩn viện cô tịch, bởi vì anh em cản trở anh yêu mến Chúa như anh ao ước, thánh Phan-xi-cô đã có thể viết cho anh một cách thanh thản và chân thành: Anh hãy yêu thương những kẻ gây phiền hà cho anh Hãy yêu thương họ như họ là Điều đó thì có công phúc hơn là sống trong ẩn viện
NHỮNG GIỜ PHÚT QUÝ BÁU CỦA TIỂU TỬ THANH BẦN
Theo năm tháng, sức khoẻ Phan-xi-cô yếu dần Nhưng trước máng cỏ Giáng Sinh ở Grê-si-ô, trong ẩn viện An-véc-na hay trong cộng đoàn, chính con người hoà bình và huynh đệ ấy tiếp tục cất lên Bài Ca Anh Mặt trời và say mê chiêm ngưỡng Đức Ki-tô.
Cuối năm 1223. Lễ Giáng Sinh gần đến. Một ý nghĩ vừa ngây thơ và vừa kỳ diệu loé sáng trong con tim yêu chuộng hoà bình của thánh Phan-xi-cô mà thỉnh thoảng chỉ loé lên trong tâm hồn các thi sĩ:
Tôi muốn tưởng niệm việc Hài Nhi giáng sinh tại Bê-lem. Tôi muốn thấy Người tận mắt như Người đã nằm trong máng cỏ và thiếp ngủ trên đống rơm rạ, giữa bò và lừa (1 Xê-la-nô 84)
12) Giáng Sinh tại Grê-si-ô
Nhìn thấy và làm cho người ta nhìn thấy với đôi mắt trẻ thơ Con Thiên Chúa rất cao cả giáng thế trong sự nghèo hèn và dịu hiền. Trong xã hội thương nhân, bị nỗi đam mê tiền bạc chế ngự, cần phải làm rạng tỏ sự nhưng không của Thiên Chúa. Trong thế giới các giáo sĩ ham hố quyền lực, cần thiết phải nhắc lại sự khiêm hạ của Thiên Chúa. Trong thời đại thập tự chinh và thánh chiến, có gì cần thiết hơn là tỏ cho người ta thấy sự dịu hiền của Thiên Chúa!
Để chuẩn bị cho cuộc cử hành đó, thánh Phan-xi-cô đã chọn thôn làng Grê-si-ô, nằm trên triền núi, bên trên thung lũng Ri-ê-ti. Ngài uỷ thác công việc chuẩn bị cho một người bạn tên là Gio-an, lãnh chúa làng Grê-si-ô.
Anh em những tu viện kế cận và dân chúng trong vùng được mời đến dự lễ. Họ đến với đuốc và nến trong tay. Đêm Giáng Sinh ấy rực sáng. Tất cả đã sẵn sàng: người ta đem vào hang một máng cỏ đầy rơm, cùng với một chú lừa và một con bò. Grê-si-ô trở thành Bê-lem mới. Anh em ca hát chúc tụng Chúa. Khu rừng chung quanh vang dội tiếng ca.
Suốt buổi canh thức, thánh Phan-xi-cô đứng chầu trước máng cỏ, khuôn mặt toả rạng niềm vui khôn tả như thể đang tận mắt nhìn thấy Hài Nhi. Kế đến, thánh lễ được cử hành trên máng cỏ dùng làm bàn thờ. Trong tư cách phó tế, Tiểu Tử Thanh Bần hát bài Tin Mừng Giáng Sinh. Rồi ngài giảng giải cho dân chúng. Bằng lời lẽ khá đơn sơ, ngài mời gọi tất cả hãy vui mừng vì Con Thiên Chúa giáng sinh mà ngài thốt lên một cách rất trìu mến Hài Nhi Bê-lem.
Ngài hằng muốn tất cả mọi tạo vật, con người cũng như loài vật, hân hoan trong Chúa. Ngài nói: Trong ngày lễ Giáng Sinh này, những người giàu có phải thiết đãi tất cả những người nghèo một bữa tiệc thịnh soạn. Vì lòng tôn kính Con Thiên Chúa đã được Thánh nữ Đồng trinh Ma-ri-a ấp ủ trong máng cỏ giữa bò lừa trong đêm cực thánh này, nên tôi cũng mong muốn cung cấp cho các anh chị bò lừa phần thóc lúa dồi dào (Truyện ký Pê-ru-di-a 110). Trong tâm tư ngài, Giáng sinh là ngày lễ của sự nhưng không, hoà bình và dịu hiền. Ngày lễ của tình huynh đệ đại đồng. Vì ngày đó, chính Con Thiên Chúa cao cả đã trở nên anh em của chúng ta.
13) An-véc-na
Tháng tám năm 1224, hai năm trước khi chết, thánh Phan-xi-cô cùng với các anh Lê-ô, Ăng-rờ và Mát-xê-ô lên đường tiến về núi An-véc-na, miền Tốt-can. Ngọn núi cao 1269 mét, nằm giữa 2 dòng sông Ác-nô và Ti-bờ, được bá tước Rô-lăng-đô tặng cho thánh Phan-xi-cô làm nơi tĩnh tâm và cầu nguyện. Ngọn núi dựng đứng như một tảng đá khổng lồ, trên đỉnh là một cánh rừng tuyệt đẹp. Sự cô tịch và hoang dã, cũng như sự yên ắng và uy nghiêm của ngọn núi mời mọc người ta suy niệm và chiêm ngưỡng.
Lên tận nơi ấy, thánh Phan-xi-cô ẩn mình trong các hốc đá và chìm đắm hàng giờ trong sự tĩnh lặng tuyệt đối. Ngài suy niệm hằng giờ như thế về điều gì? Lên núi An-véc-na, ngài có ý định chuẩn bị mừng lễ Thánh Tổng Lãnh Thiên Thần Mi-ca-e bằng một mùa chay tự nguyện vì lòng đạo đức. Nhưng khi vừa đến đây, ngài liền bị thu hút bởi cuộc khổ nạn của Chúa Ki-tô. Và những suy tưởng về cuộc khổ nạn không rời bỏ ngài nữa. Cuộc khổ nạn xuất hiện trong tâm trí ngài như một mặc khải về Tình yêu vô biên hằng thôi thúc trọn cả con người ngài. Ngài cảm thấy nẩy sinh trong lòng một nỗi khao khát vời vợi muốn kết hiệp với cuộc khổ nạn của Chúa Ki-tô. Ngài cầu nguyện như thế này: Lạy Chúa, ước gì mãnh lực nồng cháy và dịu dàng của tình yêu Chúa chiếm ngự tâm hồn con và giải thoát tâm hồn con khỏi mọi sự dưới bầu trời này, để con chết vì yêu Tình yêu của Chúa, như Chúa đã chết vì yêu tình yêu của con.
Thế rồi vào một buổi sáng - vào dịp lễ suy tôn Thánh Giá - trong khi ngài cầu nguyện trên sườn núi, ngài thấy từ trời xuất hiện một thực thể có cánh, một thực thể bằng lửa và ánh sáng: thần Xê-ra-phim có sáu cánh chói ngời như trong thị kiến của ngôn sứ Ê-dê-ki-en. Đó là một trong các thực thể bất tử chầu chực trước ngai Thiên Chúa và là sự chiếu toả vinh quang của Người. Nhưng điều lạ lùng là những thực thể vinh quang và sáng ngời ấy cũng đau khổ: tay chân đều bị đâm thâu.
Trước thị kiến ấy, tâm hồn thánh Phan-xi-cô như bị chia cắt bởi những tình cảm trái nghịch. Vẻ đẹp của thần Xê-ra-phim và ánh mắt dịu dàng của người làm cho thánh nhân chan chứa niềm vui, nhưng sự đau đớn của đấng chịu đóng đinh đồng thời cũng khiến tâm trí ngài rã rời. Một thực thể rạng ngời vinh quang như thế làm sao có thể chịu đau khổ được? Thánh Phan-xi-cô chỉ biết suy tưởng. Và bỗng nhiên, Đau khổ và Vinh Quang, kết hợp với nhau một cách kỳ lạ trong thị kiến ấy, vồ bắt ngài như một con chim săn mồi.
Thị kiến vụt tắt. Bấy giờ, cúi mắt xuống, ngài thấy đôi tay và đôi chân đã bị đâm thủng. Vinh quang Thiên Chúa đã chạm đến ngài. Ngài mãi mãi là con người bị đóng đinh.
Tất cả cuộc đời ngài là một sự chiêm ngưỡng Đức Ki-tô lâu dài và nồng nàn. Và sự chiêm ngưỡng ấy kết cuộc đã biến đổi ngài hoàn toàn theo hình ảnh Đấng Chịu Đóng Đinh.
14) Bài Ca Tạo Vật
Bấy giờ xảy ra một điều bất ngờ: con người mà thiên hạ tưởng đã biến khỏi mặt đất, vì tâm hồn ngài chìm đắm trong Thiên Chúa và thân xác yếu nhược vì các dấu đinh và bệnh tật, con người đó bắt đầu ngồi trên lưng lừa ngang dọc miền Om-bri-a và Mạc-sơ, đi đến làng này tới làng khác và tha thiết kêu gọi mọi người sống hoà bình, hoà giải, huynh đệ. Như thể ngài được phú ban một năng lực mới. Đó là năm 1225. Chứng đau mắt mà ngài nhiễm bệnh từ khi sang Cận Đông trở nên trầm trọng. Ngài hầu như mù loà. Ngài rất đau đớn và phải trải qua một quá trình trị liệu khủng khiếp: người ta đốt một thỏi sắt đỏ nung vào thái dương gần vành tai.
Ngày kia, đang khi ngài ghé thăm đan viện Xan Đa-mi-a-nô nơi chị Cla-ra cư ngụ, ngài gặp một cơn đau cấp tính. Ngài không thể trở về Póc-xi-un-cu-la. Thánh nữ Cla-ra cho đặt bệnh nhân trong một căn phòng nhỏ bên cạnh đan viện. Thánh nữ cũng sắp đặt cho ngài một căn buồng để bảo vệ đôi mắt khỏi ánh sáng.
Trong hơn năm mươi ngày, thánh nhân đã sống trong căn buồng tăm tối không một chút ánh sáng. Đôi mắt nhức nhối khủng khiếp khiến ngài không thể ngủ nghỉ được.
Đêm nọ, vì kiệt sức, Người Nghèo nài xin Thiên Chúa dủ thương. Một tiếng nói bên trong đáp lời ngài: Phan-xi-cô, hãy hân hoan như thể con đã ở trong vương quốc của Ta Một ánh sáng rất dịu dàng thấm nhập tâm hồn ngài. Và một nỗi khao khát ngợi khen xâm chiếm con người của ngài. Lời ngợi khen đó mặc lấy vẻ uy nghi của mặt trời, vẻ rực rỡ dịu dàng của tinh tú, đôi cánh của làn gió, sự khiêm nhu của dòng nước, sự nhiệt tâm của ngọn lửa và sự nhẫn nại của trái đất.
Ánh sáng mặt trời chiếu toả trên Át-xi-di. Phan-xi-cô, nay đã mù loà, ngồi ngay ngắn trên giừơng và cất lên Bài Ca Anh Mặt trời:
Lạy chúa Trời Cao Cả,
Đấng nhân hậu toàn năng,
Ngài xứng đáng lãnh nhận,
Tiếng ca ngợi hát mừng,
Danh dự và vinh quang
Với muôn lời cung chúc!
Ngợi khen và thánh đức,
Thật là phải đạo thay,
Người phàm ai đáng được
Gọi Danh Thánh của Ngài.
Muôn lạy Chúa con thờ, con xin ca tụng
Vì Ngài đã dựng nên muôn loài muôn giống,
Đặc biệt hơn cả là ông anh mặt trời,
Để cho có ngày và để sáng soi.
Anh đẹp tuyệt vời, anh rạng ngời rực rỡ,
Lạy Chúa Tối Cao, anh là hình ảnh Chúa
Và lời ngợi khen bao trùm tất cả tạo thành: chị mặt trăng và tinh tú, anh gió và chị nước, anh lửa và chị Mẹ đất. Quả thật là một bài ca thán phục trước kỳ công của Thiên Chúa: đó cũng là và nhất là bài ca tình huynh đệ đại đồng. Bài ca hoà giải giữa con người với mọi vật và với chính bản thân. Bài ca của con người hoà bình và huynh đệ, nhờ họ mà những thế lực sôi sục trong cuộc sống tìm lại được sự trong sáng nơi suối nguồn và vẻ huy hoàng của ánh sáng. Bài ca của cuộc tạo dựng mới, ngay trong trái tim con người.
15) Hoà giải Đức Giám mục và viên thị trưởng
Có một sự kiện trong năm 1225 xâu xé thành phố nhỏ Át-xi-di. Đức giám mục dứt phép thông viên thị trưởng. Ông thị trưởng trả đũa tức khắc và ầm ĩ công bố trong khắp thành phố lệnh cấm mọi công dân mua bán bất cứ sản phẩm gì của đức giám mục và giao tiếp với người. Một cuộc chiến công khai giữa hai người.
Tuy thánh Phan-xi-cô lúc ấy đang bệnh tật, nhưng cũng tỏ lòng thương cảm với họ. Ngài cảm thấy đau đớn vì không có ai đứng làm trung gian hoà giải nhằm khôi phục hoà bình. Ngài nói với các bạn đường: Thật hổ nhục cho chúng ta là những đầy tớ của Thiên Chúa!
Bỗng nhiên, ngài nẩy sinh ý tưởng thêm một tiểu khúc vào Bài Ca Anh Mặt trời:
Muôn lạy Chúa con thờ, con xin ca tụng,
Vì bao người rộng lượng thứ tha
Bởi lòng yêu mến Chúa:
Gian khổ yếu đau, chẳng nề hà!
Lạy Chúa Trời cao cả,
Phúc thay ai một mực sống hiền hoà,
Vì Ngài sẽ thưởng triều thiên quý giá.
Sau đó ngài mời viên thị trưởng đến gặp đức giám mục. Ngài xin anh em hát Bài Ca Anh Mặt trời trước sự hiện diện của hai đối thủ.
Chuyện khó tin đã xảy ra: viên thị trưởng và đức giám mục cảm kích trước sứ điệp hoà bình mà thánh Phan-xi-cô muốn gởi gắm, đã nhìn nhận sự nóng giận sai trái của mình, liền ôm nhau hôn và sống tình bạn như trước.
Người ta đoan chắc thánh Phan-xi-cô đã vui sướng như thế nào khi nghe tin vui. Lời kêu gọi hoà giải, hoà bình và huynh đệ của ngài đã được lắng nghe trong chính thành phố của ngài. Tại sao không công bố lời kêu gọi đó cho toàn thế giới? Ngài yêu cầu anh Pa-xi-phi-cô, là vua thi sĩ và ca trưởng tao nhã, hãy đi khắp thế giới cùng với vài anh em để cất lên bài ca chúc tụng và hoà bình như những người hát rong của Thiên Chúa.
Phần ngài, từ nay không còn có thể di chuyển được, ngài muốn viết một lá thơ gởi cho mọi cư dân trên toàn thế giới. Những dòng chữ đầu tiên của lá thư cho thấy chân trời của ngài:
Nhân Danh Chúa, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, Amen.
Kính gởi toàn thể các ki-tô hữu
Kính gởi toàn thể cư dân trên thế giới,
Tôi là tu sĩ Phan-xi-cô, người tôi tớ và thuộc hạ của anh chị em, xin gởi lời chào đầy lòng kính trọng và cầu chúc anh chị em được sự bình an đích thực bởi trời và tình thương chân thật trong Chúa
16) Cái chết thân xác, Chị chúng ta
Sức khoẻ ngài sa sút. Suốt cuộc đời, người nghèo Át-xi-di không hề đãi ngộ thân xác. Ngài bắt thân xác chịu đựng mọi sự túng thiếu. Bệnh tật nay đã tàn phá hết sức lực của ngài Cuối mùa hè năm 1226, người trở bệnh trầm trọng hơn. Một y sĩ thành Ác-dê-rô đến thăm ngài. Thánh nhân hỏi ông: Ông nghĩ bệnh tôi thế nào? Hãy nói cho tôi biết sự thật!. Vì ngài cố nài nỉ, nên ông y sĩ trả lời: Thưa thầy, vì thầy yêu cầu, nên tôi xin nói thật Dựa trên kiến thức y học hiện nay, bệnh của thầy vô phương cứu chữa. Chắc chắn thầy sẽ chết nay mai thôi. Có lẽ cuối tháng chín hoặc đầu tháng mười
Bấy giờ thánh Phan-xi-cô cho gọi anh Ăng-rờ và anh Lê-ô đến, rồi xin hai anh hát cho ngài nghe Bài Ca Anh Mặt trời. Hai anh ngậm ngùi thi hành. Hai anh ca tụng mặt trời, mặt trăng và tinh tú, gió trời, làn nước, ánh lửa và trái đất Trái đất khá đẹp cuối hạ. Ánh sáng dịu dàng hơn. Những vườn nho óng ánh. Một mùi hương trái chín lan toả khắp vườn. Và thánh Phan-xi-cô trầm ngâm lắng nghe anh em ca hát. Sau đó, ngài vụt phá tan sự im lặng và sáng tác một điệp khúc thêm vào Bài Ca Anh Mặt trời:
Con xin ca tụng, muôn lạy Chúa con thờ
Vì chị chết đang sẵn chờ thân xác,
Thật trong cõi người ta
Chẳng ai là thoát được.
Vô phúc thay kẻ nào,
Chết còn mang tội ác,
Nhưng quả là hạnh phúc cho ai
Khi bất ngờ chị tới
Đang thi hành ý Chúa miệt mài.
Vì dầu cái chết thứ hai
Cũng không tác hại cho đời họ đâu!
Đó là một sự nghênh đón chính cái chết của mình. Thánh Phan-xi-cô thân thiện tiếp đón cái chết với một trái tim hân hoan. Cái chết cũng là một con đường ánh sáng. Về cuối đời, ngài chào mừng cái chết như một ngày mới, nội tâm hơn, khiến ngài liên tưởng đến Chúa của Ngài.
Những ngày đầu tháng mười đã đến. Trở về Póc-xi-un-cu-la, thánh Phan-xi-cô sống những giờ phút cuối đời. Chiều ngày mồng 3, ngài xin anh em đem sách Tin Mừng đến và đọc cho ngài nghe đoạn Tin Mừng của thánh Gio-an: Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những người thuộc về mình còn ở thế gian và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13.1).
Kế đó, thánh Phan-xi-cô xướng thánh vịnh 141: Con lớn tiếng kêu gào Ya-vê, sức hèn con đã hầu như suy tàn xin đưa con ra khỏi chốn ngục tù Cuối cùng, đã đến giờ các mầu nhiệm của Đức Ki-tô thể hiện nơi ngài, linh hồn ngài hoan hỷ bay bổng lên cùng Thiên Chúa (1 Xê-la-nô 121)
Đó là buổi chiều ngày mồng 3 tháng mười. Ngài vừa 45 tuổi.
Tin ngài chết tức khắc được báo cho Cla-ra, và lan truyền khắp thành phố, gây nên một náo động ầm ỉ. Mọi người bỗng cảm thấy như trống vắng khủng khiếp. Con người huynh đệ đã ra đi.
Màn đêm buông xuống trên thành phố Át-xi-di, những ánh sao đầu tiên lấp lánh trên bầu trời. Từ nay ai sẽ mang hoà bình từ trời xuống trái đất? Ai sẽ sống đủ nghèo để trở nên anh em của mọi tạo vật? Ai sẽ nói được như ngài: Bình an và thiện hảo?
Tuy nhiên, trong tâm tư anh em và dân chúng chiều ngày mồng 3 tháng mười năm 1226, lòng nhiệt tâm đã chiến thắng: mầu nhiệm của cõi đất đã âm thầm gặp gỡ mầu nhiệm các tinh tú
17) Kết luận
Người ta kể rằng vào thời thánh Phan-xi-cô, có một chú sói hung dữ gây tại hại cho vùng Gu-bi-ô, tấn công súc vật và người ta. Người Nghèo Át-xi-di đã thuần hoá chú sói bằng sự dịu hiền của ngài. Chúng ta đã biết con sói hung dữ đó là gì. Nó hiện diện trong mọi thời đại. Nó không chỉ chạy nhảy trong rừng. Nhưng nó ẩn nấp trong thâm tâm mỗi người. Nó hiện diện trong mỗi người chúng ta. Thánh Phan-xi-cô là người gieo vãi hoà bình, kiến tạo tình huynh đệ cho thời của ngài. Chính ngài đã trở thành con người bình an, con người huynh đệ.
Hôm nay ai sẽ giải thoát chúng ta khỏi sói dữ? Ai sẽ thuần hoá con thú ấy? Người đó sẽ là con người huynh đệ, con người của thời sẽ đến. Cũng như thánh Phan-xi-cô, người đó sẽ bước đi giữa muôn vàn anh em. Và chú sói to lớn đã thuần dưỡng sẽ vui vẻ tự do tung tăng bên cạnh.
CUỘC HỘI NGỘ GIỮA TIN MỪNG VÀ LỊCH SỬ
Kinh nghiệm sống Tin Mừng của thánh Phan-xi-cô không chỉ là một giai đoạn trong lịch sử ki-tô giáo nhưng có giá trị mẫu mực và tiên tri. Kinh nghiệm đó là một sự đánh thức trong Giáo Hội thế kỷ thứ 13 và hôm nay vẫn còn duy trì một năng lực đổi mới và trẻ trung hoá. Thật thế, kinh nghiệm đó không ngừng lôi cuốn và gợi hứng cho một số đông người nam nữ.
Người nào làm bạn với Tin mừng mà không mơ ước một ngày kia sẽ được sống lại buổi đầu khiêm tốn trong tình huynh đệ phan sinh tiên khởi, trong sự đơn sơ, niềm vui và nghèo khó? Và một số người đã cương quyết thử nghiệm.
Nhưng ý muốn trở về nguồn, dù quảng đại thế nào đi nữa, liệu có đủ làm sống lại kinh nghiệm của thánh Phan-xi-cô trong sự trào dâng sáng tạo như ngài không? Có ba điểm đã đóng một trò quan trọng trong cuộc đời thánh Phan-xi-cô và góp phần làm cho ngài trở nên người dẫn đường và là nhà canh tân mà chúng ta ngưỡng mộ: một nhân bản phong phú, một hơi thở tin mừng, một sự hợp lực với phong trào lịch sử.
18) Một bản tính phi thường
Trước hết đó là bản tính phong phú của Phan-xi-cô. Điều đó không thể phủ nhận. Đọc truyện ký các tác giả tiên khởi, người ta không thể không cảm nhận một ấn tượng hết sức lôi cuốn: chúng ta có cảm tưởng như đứng trước một nhân vật độc đáo và sáng tạo, gặp gỡ một con người năng động, vui tươi, từ con người ấy toả chiếu sự viên mãn của đời sống vừa đơn sơ, vừa mãnh liệt và mới mẻ. Hiển nhiên, chúng ta đứng trước một người lôi kéo chúng ta ra khỏi lối mòn sáo ngữ. Với ngài, cuộc sống tìm lại được hương vị của cuộc tạo dựng. Nét căn bản của nhân vật ngoại thường này là khả năng liên lạc với mọi thực thể một cách phi thường, một năng lực luôn luôn được đổi mới nhờ sự kinh ngạc, trầm tư và từ bỏ. Tóm lại, đó là sự cởi mở của tinh thần và con tim khiến con người quan tâm đến mọi tạo vật và tự nhiên thúc đẩy con người làm cho tạo vật trổ hoa trong hoà bình và niềm vui. Tô-ma Xê-la-nô đã ghi nhận một cách ý vị: Tâm tính hoàn toàn tự nhiên của con tim đủ làm cho người trở thành anh em của mọi tạo vật Lu-y La-ven có lý khi viết: Có lẽ không ai có một lương tâm ngay thẳng, một tâm hồn nhạy cảm bộc phát và tế nhị, cũng như sự cảm kích mãnh liệt khi tiếp xúc với thiên nhiên, sinh vật và Thiên Chúa hơn Phan-xi-cô (Quatre Saints, Paris, 1962, p.89).
19) Linh hứng Tin Mừng
Một khi thấm nhập vào trong bản tính phong phú ấy, nguồn sinh khí Tin Mừng đã giải phóng tất cả mọi khả năng. Việc hoán cải không hề phá vỡ bất cứ khí lực nào của cá tính Phan-xi-cô. Sự khổ chế thái quá, đời sống cầu nguyện cao độ đôi khi làm cho sự nhạy bén trở nên cằn cỗi khiến con người ít nhiều trở nên xa lạ với thực tại hữu hình cụ thể. Nơi Phan-xi-cô thì không như thế.
Tất cả những gì cao quý trong bản tính của Phan-xi-cô rung động một cách nguyên vẹn dưới bàn tay Thiên Chúa. Ngay cả cảm tính phong phú, cảm quan thẩm mỹ và thi cảm sáng tạo. Việc hoán cải không làm chúng khô cằn. Trái lại, nó làm cho tất cả những khả năng cảm thụ của người triển nở viên mãn. Hơn nữa, việc hoán cải của người thiết yếu là một hiệp thông với một ngôi vị sống động, Đức Giê-su Ki-tô. Gắn bó với con người phi thường và siêu việt ấy, những năng lực của Phan-xi-cô được giải thoát khỏi những gì còn chật hẹp. Tính quảng đại tự nhiên của tinh thần và con tim được mở rộng tới chiều kích thế giới. Nụ hôn trao cho người phong là biểu tượng đẹp nhất của sự rộng mở ấy. Từ đó, mối hiệp thông với tạo vật có tính chất đại đồng.
20) Lịch sử con người
Ngoài bản tính phong phú của Phan-xi-cô và nguồn sinh khí Tin Mừng làm triển nở bản tính ấy, cuối cùng còn phải nói thêm một điều quan trọng thứ ba. Trở về với Tin Mừng sẽ luôn luôn hợp thời trong Giáo Hội: thế nào cũng sẽ trổ sinh hoa trái thánh thiện. Nhưng có những thời điểm đặc biệt sự trở về ấy gặp gỡ sự biến chuyển sâu xa của lịch sử con người: hệ quả của một xã hội mới. Sự trở về ấy đảm nhận vai trò men trong thế giới, đồng thời giải thoát Giáo Hội khỏi những trì trệ trên bình diện xã hội và mở ra cho Giáo hội một tương lai mới và một sự trẻ trung mới. Sự kỳ diệu phan sinh phát sinh từ một trong những cuộc gặp gỡ hãn hữu giữa Tin mừng và Lịch sử. Trào lưu huynh đệ theo Tin mừng khơi nguồn từ Phan-xi-cô Át-xi-di không trào dâng một cách phi thời gian. Nó trùng hợp với cuộc cách mạng lịch sử về các mối quan hệ xã hội và chứa đựng các đặc sắc của cuộc cách mạng đó. Cuộc cách mạng ấy là hậu quả của một quá trình biến đổi của xã hội trong lãnh vực kinh tế. Thay cho nền kinh tế nông thôn có tính chất cố định, nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tự do lưu thông hàng hoá và con người, đồng thời hô hào thiết lập những mối quan hệ xã hội và cơ cấu chính trị mới. Chế độ phong kiến - chư hầu không còn thích hợp; nó cản trở các sức mạnh của nền kinh tế mới. Một thể chế chính trị dân chủ hơn, cũng như mối quan hệ xã hội tự do và bình đẳng đựơc đón nhận. Các thương nhân liên kết với nhau để buôn bán đã làm nên mẫu mực cho một xã hội mới. Từ đó, chỉ cần đoạn tuyệt với quyền bính lãnh chúa. Đó là chiều hướng của phong trào công xã nhằm giải phóng các thành phố.
21) Một xã hội mới
Khai sinh bởi những đòi hỏi của kinh tế, phong trào giải phóng khỏi chế độ phong kiến cũng ôm ấp không ít những khát vọng sâu xa của con người. Nó biểu lộ một ý chí thật sự muốn liên kết. Thị dân, nhất là giới thương nhân, ý thức khả năng của mình, không còn chịu nổi cảnh sống như chư hầu lệ thuộc vào một lãnh chúa, họ muốn nắm lấy vận mệnh của mình và cùng nhau thực hiện dựa trên nền tảng bình đẳng. Tóm lại, từ nay họ muốn liên kết với nhau trong tình huynh đệ. Họ đặt cho ý muốn liên kết đó một tên gọi và một thực thể: công xã. Nhưng dự phóng xã hội ấy sớm đối diện với những trở ngại lớn. Những nguyên tắc kinh tế tỏ ra bất lực trước những trở ngại đó. Chỉ cậy dựa vào sức mạnh của mình, xã hội công xã non trẻ rơi vào ách thống trị của tiền bạc, các tập đoàn thương nhân co cụm và cấu kết vì quyền lợi. Sự tự do công xã làm lợi cho những kẻ giàu có hơn. Xã hội phân rẽ. Một chế độ phong kiến mới xuât hiện, chế độ của tiền bạc, với những hình thức áp bức mới.
Trong bối cảnh đó Phan-xi-cô Át-xi-di cổ võ lối sống theo Tin Mừng. Phát xuất từ môi trường thành thị và thương mại, người con ông Phê-rô Béc-na-đô-nê mang trong lòng nỗi sôi sục của thời đại; ngài chia sẻ hoài bão, tham vọng và tất cả sự hiếu động. Nhưng con người ngoại thường ấy không hài lòng với những gì mình thấy và sống. Ngài khám phá thấy nỗi khốn khổ của người nghèo. Có điều gì đó chuyển động trong ngài. Ngài tìm kiếm, cầu nguyện. Cuối cùng ngài nghe Tin Mừng. Không chỉ bằng đôi tai, nhưng bằng cả con người của ngài. Bấy giờ xuất hiện trong con tim chàng trai một cuộc gặp gỡ phi thường giữa đòi hỏi của Tin Mừng và nguyện vọng thẳm sâu của thời đại ngài.
22) Tin Mừng như là con đường tình huynh đệ
Thật vậy, Phan-xi-cô khám phá thấy Đức Ki-tô khiêm nhường và nghèo hèn đang lần bước giữa loài người và mặc khải cho họ tình yêu của Chúa Cha. Gương mẫu của Đức Ki-tô trở nên ánh sáng chói loà cho đời sống ngài: ngài đặt gương mẫu ấy trên con đường đưa đến tình huynh đệ đích thật. Phan-xi-cô dấn thân đến cùng trên con đường khó nghèo và khiêm hạ. Và một đoàn mộn đệ sớm theo ngài. Điều lôi cuốn tất cả những người nam và những người nữ chính là phẩm chất của lối sống mới mà ngài đề nghị, một lối sống loại trừ mọi hình thức thống trị trong các tương quan nhân loại: tất cả là anh em.
Cũng vậy, trong lòng một Giáo hội còn mang tính phong kiến và lãnh chúa trong cách thức cai quản và tương giao với con người, người con của công xã, khi đọc Tin Mừng với một sự nhạy cảm của thời đại, đã tạo nên điều mới; ngài khai sáng một nếp sống chung không có thống trị và ngôi thứ. Tóm lại, ngài kiến tạo huynh đoàn.
23) Nghèo khó Tin Mừng vì tình huynh đệ
Nếu Phan-xi-cô gắn bó chặt chẽ với nếp sống nghèo khó theo vết chân Đức Ki-tô, nếu ngài tìm kiếm sự nghèo khó say mê đến nỗi khước từ mọi hình thức sở hữu, ấy là vì nghèo khó tỏ ra là con đường vương giả dẫn đến tình huynh đệ và hiệp thông giữa mọi người. Không gì diễn tả ý nghĩa của nếp sống khó nghèo hay hơn điều ngài nói với đức giám mục Át-xi-di, khi người băn khoăn về sự trần trụi của anh em: Nếu chúng con có của cải, chúng con phải có quân đội để bảo vệ. Bởi vì của cải sinh ra tranh chấp và kiện tụng, chính nó tạo nên nhiều trở ngại ngăn cản người ta yêu mến Thiên Chúa và người thân cận. Bởi thế, chúng con không muốn sở hữu bất cứ của cải trần thế nào (Ba người bạn, một trong những truyện ký tiên khởi về thánh Phan-xi-cô). Ở đây, nghèo khó phục vụ tình huynh đệ. Ưu tiên là tương quan nhân loại. Trên bình diện này tỏ lộ sự độc đáo của Phan-xi-cô. Sự độc đáo ấy hoàn toàn hệ tại phẩm chất của mối tương quan: một phẩm chất mới bao hàm tình liên đới trong các công xã, nhưng đã được soi sáng và mở rộng nhờ Tin Mừng.
24) Nhân tính của Thiên Chúa
Nếu sự khai phóng Tin Mừng hướng đến các mối tương quan mới trong xã hội tương hợp với sự nhạy cảm thời đại, thì nó không chỉ dừng lại ở một lý tưởng nhân loại đơn thuần. Nó đi xa hơn nhiều. Nó liên kết với một nhận thức chính xác hơn về Thiên Chúa của Tin mừng. Nó khai mở một cuộc khám phá kỳ diệu mầu nhiệm Nhập Thể. Thật quá ít khi nói Phan-xi-cô đoạn tuyệt với Thiên Chúa của chiến tranh phong kiến và thánh chiến. Đối với ngài, Thiên Chúa không còn là Đức Chúa theo kiểu phong kiến. Cũng không còn là vị Chúa Tể thống trị ban phát dồi dào ân lộc cho chư hầu. Thiên Chúa rời bỏ địa vị thống trị ; Người cũng không còn chư hầu nữa; Người trở nên một người giữa chúng ta; Người sống giữa chúng ta, hoàn toàn trút bỏ mọi dấu hiệu quyền lực, như một người khiêm nhu và bé mọn nhất. Phan-xi-cô khám phá nhân tính của Thiên Chúa, sự khiêm hạ của Thiên Chúa: Thiên Chúa uy quyền tự nguyện làm một người anh em của chúng ta (2 Xê-la-nô)
25) Suy tư về một kinh nghiệm
Nơi bản thân Phan-xi-cô, người ta thấy cuộc gặp gỡ giữa Tin Mừng và lịch sử sâu xa như thế nào. Cuộc gặp gỡ ấy hẳn không phải là hoa quả của một hoài bão và kế hoạch tiên lập. Nhưng là sự kiện một cá tính phi thường trở về với Tin Mừng với một sự bén nhạy của thời đại, giải hoà cơ chế cổ kính của Giáo Hội với sự trẻ trung của thế giới.
Ở đây cần có vài suy nghĩ. Để sống lại kinh nghiệm như Phan-xi-cô Át-xi-di trong mọi chiều kích, thì ý chí trở về với Tin Mừng, dù ưu tiên và cấp thiết, vẫn không đủ. Phải đồng cảm với chuyển động sáng tạo của lịch sử. Một chuyển động như thế không phải lúc nào cũng có sẵn. Không phải ngày nào xã hội cũng biến chuyển. Và người ta không tạo ra sự biến chuyển. Những biến chuyển ấy, khi nó xảy ra, là hậu quả của những biến đổi sâu xa trên bình diện sản xuất, trao đổi và điều kiện sinh sống.
26) Hôm nay
Hôm nay có xuất hiện các biến chuyển như thế không? Chúng ta hẳn đang sống trong một thời kỳ chuyển biến sâu xa. Kích thích bởi bước nhảy vọt của kỹ thuật, một xã hội mới sẽ xuất hiện. Tất cả nhân loại bị liên luỵ và như đang trong thời kỳ thai nghén. Giữa biến chuyển khủng khiếp ấy, vấn đề nóng bỏng trong các mối tương quan lại được đặt ra. Trong một thế giới ngày càng thu hẹp, vấn đề đó sẽ trở nên vấn nạn nghiêm trọng. Tìm kiếm một cách thức mới để sống các mối tương quan xã hội, ngang qua hiện tượng xã hội hoá đang phát triển. Một hiện tượng vừa phát sinh nhiều hy vọng và lo âu: hy vọng vì ý thức liên đới trên bình diện toàn cầu, lo âu vì sự nhập cuộc của các cơ cấu máy móc.
Cũng thế, trong thế giới biến chuyển này đang gióng lên những tiếng kêu gào đòi nhân ái, đôi khi đầy lo âu: đòi khoan dung, tự do và công lý hơn, đòi tham gia nhiều hơn vào những quyết định và trách nhiệm, đòi một nền hoà bình đảm bảo hơn việc tôn trọng quyền con người và các dân tộc
Bởi vậy, kinh nghiệm của phong trào phan sinh tiên khởi thu hút chúng ta biết bao. Huynh đoàn mà Phan-xi-cô kiến tạo hôm nay chắc hẳn không hoàn toàn giống như huynh đoàn được người khai sinh thế kỷ 13. Tuy nhiên, nó vẫn mang cùng những nét đặc trưng như nhau: đó là loại trừ ách thống trị của tiền bạc, tìm kiếm một cộng đoàn nhân loại thật sự huynh đệ, ý thức và cảm nhận con người cụ thể và riêng biệt, tiếp nhận và tôn trọng thiên nhiên, thể nghiệm tất cả những điều đó trong sự tiếp cận sống động và ngất ngây nhân tính của Thiên Chúa.
Sinh thời, Phan-xi-cô đoạn giao với quyền lãnh chúa trong Giáo Hội, cuộc chiến tranh phong kiến và các cuộc thánh chiến, não trạng gia trưởng trong đan viện, và tất cả mọi hình thức thống trị. Hôm nay, người vẫn đi trong chiều hướng đó, nhưng chắc chắn người còn đi xa hơn. Bằng cách trung thành với Tin Mừng được đọc lại và nhận thức dưới ánh sáng của những tiếng kêu gào trong thời đại chúng ta. Bằng cách trung thành với sự khiêm hạ của Thiên Chúa, nhân tính của Thiên Chúa không ngừng được chiêm ngưỡng trong Đức Ki-tô và từ đó việc Người tỏ lộ sẽ đi đôi với việc kiến tạo một huynh đoàn nhân loại luôn luôn đích thật hơn, rộng mở hơn và tôn trọng hình ảnh Thiên Chúa nơi con người hơn.
GIAI ĐOẠN KHỞI ĐẦU
Thành phố Át-xi-di nằm ở trung tâm nước Ý, toạ lạc trên dãy hoành sơn Xu-ba-di-ô, bên dưới là đồng bằng Om-bri-a. Thành phố được xây dựng ở đó như để đón nhận và phản chiếu tất cả ánh sáng từ trời toả xuống và từ đất chiếu lênChính tại thành phố nhỏ bé thời trung cổ này, Phan-xi-cô thành Át-xi-di chào đời năm 1181. Cậu bé này sẽ trở thành người của thời sẽ đến, như Tô-ma Xê-la-nô, nhà viết tiểu sử tiên khởi về ngài đã nói.
Là con trai một thương nhân buôn vải giàu có, cậu bé được đặt tên là Gio-an vào ngày nhận phép rửa tội. Nhưng khi ông Phê-rô Béc-na-đô-nê, cha cậu từ nước Pháp trở về sau một một chuyến buôn, ông đã đổi tên cậu bé thành Phan-xi-cô (Francesco - chú bé người Pháp).
Thế kỷ 12 là thời vàng son của các thương nhân. Chính trong thời kỳ đó, các thành phố thương mại lần lượt tự giải phóng khỏi quyền lực của chế độ phong kiến và thiết lập những công xã tự trị, tự quản.
Mùa xuân 1198, dân chúng Át-xi-di nổi dậy đánh chiếm pháo đài Rốc-ca thống lĩnh thành phố và san bằng bình địa. Năm 1200, thành phố Át-xi-di tuyên bố là công xã tự do.
1) Trong cơn lốc thời đại
Chàng trai Phan-xi-cô lớn lên trong một thế giới đang biến chuyển, trong đó người ta được hít thở một làn không khí vừa tự do, vừa ngột ngạt trong một bầu khí thù nghịch, tranh đấu và chiến tranh.
Phan-xi-cô tham gia rất sớm vào thương nghiệp của gia đình. Chàng kiếm được rất nhiều tiền và cũng phung phí một cách ngông cuồng trong các lễ hội với bạn bè. Họ tôn phong chàng là ông vua tuổi trẻ vàng son thành phố Át-xi-di. Chàng khôn khéo trong việc buôn bán, tao nhã và lịch thiệp trong giao tiếp, đồng thời chàng còn là một người bạn vui tính. Chàng có tất cả mọi thứ để có thể gặt hái thành công trong cuộc sống.
Phan-xi-cô ôm ấp những hoài bão lớn. Năm 16 tuổi, chàng mơ ước vinh quang binh nghiệp và khao khát trở thành một hiệp sĩ. Năm 18 tuổi, chàng gia nhập quân đội công xã và tham chiến chống lại thành phố láng giềng thù nghịch là Pê-ru-di-a.
Nhưng chàng bị bắt làm tù binh, một năm sau mới được trở về Át-xi-di với một tấm thân tàn tạ. Chàng ngã bệnh. Đó là giai đoạn cô đơn và phản tỉnh trong cuộc đời chàng. Thế giới nội tâm của chàng biến chuyển.
2) Hoán cải
Sau khi bình phục, những bước chân đầu tiên đi ra ngoài đã dẫn chàng tới các nhà thờ hoang phế nhỏ bé miền quê ngoại ô thành phố Át-xi-di. Chẳng hạn nhà thờ Thánh Đa-mi-a-nô. Tại đó, chàng đã cầu nguyện hằng giờ trước ảnh tượng Chúa Ki-tô theo kiểu Bi-giăng-tin. Giây phút quyết định đã đến: ánh mắt Phan-xi-cô đăm đăm nhìn lên Đức kitô, ánh mắt Đức Ki-tô đăm đăm nhìn Phan-xi-cô: Thiên Chúa tối cao và vinh hiển đến chiếu rọi vào cõi tối tăm trong tâm hồn tôi Một làn sóng sự sống, một dòng nước tình yêu xâm chiếm con tim Phan-xi-cô.
Thế rồi, dòng nước tình yêu ấy đã cuốn hút chàng đi đến với những người bần cùng: bấy giờ chàng mạnh dạn đến với người phong cùi, thăm viếng các trại phong và tận tình chăm sóc cho họ. Thế giới của chàng đã nghiêng về phía những người bị loại trừ, bé nhỏ và nghèo hèn.
Ông Phê-rô Béc-na-đô-nê không thừa nhận cậu con trai nữa. Ông không hiểu, nên ông không chấp nhận sự biến chuyển đang làm thay đổi người con của ông. Thất vọng và xấu hổ vì cậu con trai thường lui tới trại phong, ông giận tím mặt khi nghe biết chàng đã bán một kiện vải để lấy tiền tu sửa một ngôi nhà thờ hoang tàn. Ông đòi lại số tiền. Phan-xi-cô bị triệu hồi ra trước toà án đức giám mục Át-xi-di, chàng trả lại cho cha tất cả mọi sự, kể cả tiền bạc lẫn áo quần. Sự bất hoà đến hồi kết thúc.
Kể từ lúc ấy, Phan-xi-cô hoàn toàn tự do. Chàng khoác một tấm áo thô hèn và lên đường ra đi, quay lưng với tiền bạc, quyền thế và công danh mà chàng chảng quan tâm dính bén hơn bụi đường: chàng chìm ngập một cách huyền nhiệm trong luồng khí ca tụng. Khi mấy anh cướp trấn lột chàng trên núi, chàng thản nhiên tuyên bố: Tôi là sứ giả của Đức Vua cao cả. Nơi chàng, Tin mừng nghèo khó song hành với Tin mừng lời tụng ca.
3) Sống ẩn dật
Chàng sống cuộc đời ẩn dật 2 năm, đi xin của bố thí như một người hành khất. Vâng lệnh Đức Ki-tô truyền dạy tại nhà thờ thánh Đa-mi-a-nô, Đấng chỉ thị cho chàng tu sửa lại nhà của Người, chàng bắt tay sửa chữa nhiều nhà nguyện hư nát vùng ngoại ô thành phố Át-xi-di như nhà nguyện thánh Đa-mi-a-nô, nhà nguyện thánh Phê-rô và nhà nguyện Đức Bà các thiên thần hay còn gọi là nhà nguyện Đức Ma-ri-a Póc-xi-un-cu-la.
4) Tiếng gọi Tin mừng
Thế rồi một ngày kia, ngài vào cung thánh nhà nguyện Đức Mẹ Póc-xi-un-cu-la tham dự thánh lễ và nghe đọc bài Tin mừng Đức Giêsu sai các môn đệ đi truyền giáo: Anh em hãy ra đi, Thầy sai anh em đi như chiên giữa bầy sói. Anh em đừng đem theo vàng bạc, tiền của Vào nhà nào, anh em hãy nói: chúc bình an cho nhà này. Đó là một khai sáng cho tâm trí Phan-xi-cô. Ơn gọi của ngài đã được mặc khải. Ngài sung sướng kêu lên: Đó là điều tôi ao ước, đó là điều tôi tìm kiếm! Ngài sẽ đi vào thế giới như các môn đệ đã được Thầy sai đi, không vàng không bạc, hoàn toàn trần trụi; và cũng như các môn đệ, ngài loan báo hoà bình: hoà bình thiên sai, sự giải hoà giữa Thiên Chúa với con người và giữa con người với nhau. Trong một thế giới xâu xé, ngài sẽ là một sứ giả kiến tạo hoà bình.
Một dự phóng táo bạo trong tinh thần đơn sơ. Bước theo lý tưởng Tin mừng , Phan-xi-cô sẽ tuyệt giao với hệ thống chính trị-tôn giáo thời đại của ngài, thậm chí ngài cũng không biết rõ điều đó: với quyền lãnh chúa của giáo hội cũng như với các cuộc thánh chiến và thập tự chinh. Ngài sẽ khai mở một con đường mới trong một Giáo Hội, vì sở hữu nhiều tài sản - các toà giám mục và đan viện -, nên đã trở thành phong kiến và lãnh chúa.
5) Chúa đã ban cho tôi các anh em
Nói cho đúng, Phan-xi-cô không hề mơ tưởng thiết lập một hội dòng tu trì hay cải cách giáo hội. Ngài chỉ muốn đi theo sát Đức Ki-tô.
Tuy nhiên, nhiều thanh niên trưởng giả thành phố Át-xi-di như Béc-na Canh-ta-va-lê, Phê-rô Ca-ta-nê đã bị gương sáng của ngài thu hút và đến với ngài rất sớm. Phan-xi-cô tiếp nhận họ như những anh em được Chúa gởi đến. Đó là khoảnh khắc hệ trọng trong cuộc đời ngài. Bởi lẽ đó là giây phút bắt đầu cuộc mạo hiểm phan sinh đúng nghĩa. Từ đó về sau, chính trong huynh đệ đoàn mà ngài sống lý tưởng Tin mừng.
Phản ứng đầu tiên của ngài là cùng với mười một anh em tiên khởi đi triều yết đức giáo hoàng và đệ trình dự phóng tin mừng. Sự táo bạo của dự phóng không khỏi làm cho Đức In-nô-xen-tê và giáo triều ái ngại: Phan-xi-cô và anh em sẽ sống thế nào nếu không có sở hữu và lợi tức? Đàng khác, thời kỳ ấy đã có nhiều giáo phái viện dẫn lý tưởng Tin mừng và nhân danh lý tưởng nghèo khó để công kích Giáo Hội!
Tuy thế, nhờ Thánh thần thúc đẩy và cảm kích trước sự khiêm hạ và đơn sơ của anh em, đức In-nô-xen-tê đã phê chuẩn dự phóng của anh em.
Anh em tràn ngập niềm vui, lên đường trở về Át-xi-di. Anh em dừng chân tại Ri-vô Tóc-tô, trú ngụ trong một túp lều chật chội và bỏ hoang bên một dòng suối.
Thế là đời sống của anh em bắt đầu: sống nghèo triệt để, nhưng cũng hân hoan trong tình huynh đệ và trong tiếng ca ngợi khen Chúa. Để kiếm sống, anh em tự nguyện làm công trong nhà dân chúng và đảm nhận những công việc thấp hèn. Một vài anh em chăm sóc cho bệnh nhân phong cùi. Tất cả anh em đều chỉ có một mối ưu tư trở nên người xây dựng hoà bình. Số lượng anh em không ngừng phát triển. Anh em rời Ri-vô Tóc-tô và đến cư trú giữa một rừng cây trong cánh đồng Át-xi-di, chung quanh nhà nguyện Đức Mẹ Póc-xi-un-cu-la.
MỘT PHONG TRÀO HUYNH ĐỆ
Đó là mùa xuân của Tin mừng. Trong một xã hội xáo trộn bởi sự phát triển kinh tế, làm mồi cho những xung đột xã hội, Phan-xi-cô khai mở những con đường huynh đệ.
Huynh đoàn tiên khởi đã khai sinh nhiều huynh đoàn khác. Người ta thấy nở rộ hầu như khắp nơi trên đất nước. Đó là mùa xuân thật sự của Tin mừng. Số anh em tăng lên hàng trăm, rồi hàng ngàn; và toả lan khắp châu Âu.
Động lực thu hút các thanh niên và người trẻ đến với nếp sống ấy chính là tình huynh đệ. Ngay đức nghèo cũng được xem như một con đường của tình huynh đệ. Phan-xi-cô nói: Không một anh em nào có quyền thống trị, nhất là trên anh em mình. Không ai được gọi là tu viện trưởng Bất cứ anh em ở đâu, khi gặp nhau hãy tỏ ra là anh em cùng một gia đình.
Đó quả là một sự mới mẻ lạ lùng trong Giáo Hội thời ấy. Các giám mục trong giáo phận, các viện phụ trong đan viện thực tế là những lãnh chúa phong kiến, hành xử quyền bính trần thế thật sự trên dân chúng một vùng lãnh địa.
Còn anh em không có đan viện, nhà thờ hay đất đai. Buổi đầu, anh em trú ngụ trong những nơi may mắn gặp được bên ngoài thành phố. Ban ngày, anh em hoà nhập vào dân chúng, làm thuê làm mướn chỗ này chỗ nọ. Anh em nuôi sống bằng công việc tay chân hay bằng của bố thí. Một vài anh em dấn thân vào việc rao giảng. Anh em rảo qua làng này đến làng khác; và đến bất cứ nơi nào, anh em cũng tỏ ra là những sứ giả xây dựng hoà bình.
Lạy Chúa, xin dùng chúng con như khí cụ hoà bình để chúng con đem yêu thương vào nơi oán thù đem hiệp nhất vào nơi bất hoà.
1) Hoà bình và ngợi khen
Hoà bình mà anh em loan báo có tên gọi là tình huynh đệ. Nói cho đúng, hoà bình đó không gì khác hơn là sự chiếu toả của tình huynh đệ giữa anh em. Anh em muốn chia sẻ tình huynh đệ ấy cho mọi người.
Đó cũng là sự hiệp thông trong lời ngợi khen Chúa. Thánh Phan-xi-cô rất nhấn mạnh điểm này. Ngài mong muốn anh em là những con người của lời ngợi khen và thờ phượng. Chính ngài làm gương cho anh em. Ngài thường xuyên rút lui vào ẩn viện cô tịch cùng với vài anh em dành trọn nhiều ngày để ngợi khen và thờ phượng Chúa; sau đó ngài mới trở lại cuộc đời hành hương của sứ giả hoà bình.
Cuộc đời ngài gắn liền với những ẩn viện cô tịch: Các-xê-ri, Xen-lê, Xan Uốc-ba-nô, Póc-gi-ô Bút-tô-nê, Phôn-tê Cô-lôm-bô, Grê-si-ô, La Véc-na
2) Ơn gọi Cla-ra
Sự thành công của huynh đoàn mới khai sinh không chỉ giới hạn trong nam giới. Nó lan toả đến giới nữ rất sớm. Thật vậy, lý tưởng Tin mừng của Phan-xi-cô đã chóng gây nên một âm hưởng sâu đậm trong con tim một thiếu nữ đài các ở thành phố Át-xi-di. Thiếu nữ ấy tên Cla-ra, 18 tuổi.
Chẳng có gì tiên liệu Cla-ra sẽ gặp Phan-xi-cô và thấu hiểu ngài. Cô kém ngài 12 tuổi, gia đình cô lại thuộc tầng lớp xã hội cổ kính, phong kiến và lãnh chúa, cô thừa hưởng một nền giáo dục uyên bác và hứa hẹn một cuộc hôn nhân vương giả. Cô không hề có một tuổi trẻ tinh nghịch như Phan-xi-cô. Không lâu trước khi thành lập công xã, thành phố Át-xi-di bị xáo trộn, gia đình cô lánh nạn sang thành phố láng giềng Pê-ru-di-a.
Trở về Át-xi-di vài năm sau đó, cô nghe đồn đãi chàng trai trưởng giả đã từ bỏ tất cả, gia đình, của cải, quyền thế để đi theo Đức Ki-tô nghèo khó. Nhất là cô đã nghe chàng giảng tại vương cung thánh đường Át-xi-di. Cô cảm kích sâu xa trước lời lẽ đơn sơ và nóng bỏng còn vang vọng trong tâm hồn cô như một lời mời gọi. Từ lúc ấy, cô mong muốn gặp chàng. Cùng với môt bạn gái, cô tìm gặp chàng để thỉnh ý về ơn gọi của mình. Nhận thấy cô có một tâm hồn tinh tuyền và dũng cảm, Phan-xi-cô khuyến khích cô tận hiến cho Chúa. Và cô đã quyết định.
Chiều ngày lễ Lá năm 1212, Cla-ra khoác một bộ áo lộng lẫy nhất, kín đáo ra khỏi nhà và vội vã tiến về nhà nguyện Đức Mẹ Póc-xi-un-cu-la, tại đây Phan-xi-cô và anh em đang đứng đợi. Cô trút bỏ trang phục lông lẫy và khoác tấm áo đền tội. Trước tiên, cô được đưa đến đan viện thánh Phao-lô, dòng nữ Bê-nê-đic-tô. Vài tuần sau, cô chuyển đến sống tại nhà nguyện thánh Đa-mi-a-nô. Lập tức, nhiều thiếu nữ thượng lưu, trong đó có cô em gái A-nê, đã nối gót theo cô, sống cuộc đời Tin mừng trong nghèo khó và ngợi khen. Cũng như huynh đoàn của anh em, huynh đoàn các chị gia tăng rất nhanh chóng.
3) Đan viện thánh Đa-mi-a-nô
Để có một khái niệm về cuộc sống của các chị trong buổi đầu, chúng ta phải trở về với đan viện thánh Đa-mi-a-nô, gần thành phố Át-xi-di, nơi Cla-ra và chị em sinh sống. Đan viện thánh Đa-mi-a-nô là một trong những nơi mà ngày nay chúng ta còn tìm thấy nét đẹp tinh tuyền của lý tưởng nguyên thuỷ.
Lối kiến trúc bình dị, phòng ốc chật hẹp, trần nhà thấp và dân giã, sườn nhà bằng gỗ, bàn ghế bằng gỗ xù xì, tất cả những thứ đó là bằng chứng của một ý chí muốn sống nghèo khó và dung dị. Dĩ nhiên, mọi nơi đều toả chiếu ánh sáng. Một thứ ánh sáng dịu dàng, nội tâm, hoà hợp với ánh sáng bầu trời Om-bri-a. Khi chúng ta đi dạo trong đan viện nhỏ bé ấy và trông thấy giếng nước trong lành hay vườn hoa của thánh nữ Cla-ra, chúng ta sẽ nhận ra Tin mừng của sự nghèo khó đã kết hợp với Tin mừng của lời ca tụng và niềm vui của lời ngợi khen như thế nào. Thật vậy, Tin mừng nghèo khó đã được sống như một con đường của tình huynh đệ và hiệp thông với tất cả mọi người và toàn thể tạo vật. Chúng ta sẽ thấu hiểu lời thánh vịnh mà thánh Phan-xi-cô rất yêu thích: Người nghèo khó sẽ vui mừng xem thấy Thiên Chúa
4) Sự lớn nhanh của huynh đoàn
Nhận thấy các huynh đoàn anh em cũng như chị em gia tăng, thánh Phan-xi-cô chỉ biết tạ ơn Thiên Chúa vì mùa xuân Tin mừng đến trong Giáo Hội. Vâng, ngài vẫn thích nói Thiên Chúa thật là Đấng Thiện Hảo, là nguồn mạch mọi điều thiện hảo. Ngài đã thấy Chúa chiếu toả trên anh em ánh quang huy hoàng như ánh mặt trời.
Mỗi năm, vào dịp lễ Ngũ Tuần, anh em trong mỗi tỉnh dòng tề tựu tại một nơi quy định để cử hành tu nghị. Những cuộc gặp gỡ đó là thời gian thiết yếu trong đời sống anh em. Anh em cầu nguyện chung với nhau, chia sẻ kinh nghiệm và với sự trợ giúp của những đại biểu ngay chính và đức độ, anh em hoạch định dự phóng đời sống.
Vì số anh em mỗi ngày một gia tăng, thánh Phan-xi-cô không thể đích thân tham dự mọi cuộc tu nghị tỉnh dòng. Do đó, ngài quyết định triệu tập toàn thể anh em về tham dự tổng tu nghị tại nhà nguyện Đức Mẹ Póc-xi-un-cu-la nằm trên cánh đồng Át-xi-di, nơi khai sinh huynh đoàn tiên khởi.
Mùa xuân 1217 (hoặc 1219), tin ấy nhanh chóng được loan đi và không những được anh em nhiệt tình hưởng ứng, mà tất cả dân chúng trong vùng cũng đồng tình, vì họ muốn góp phần vào sự thành công của ngày hội lớn ấy.
5) Tu nghị chiếu
Gần đến ngày lễ Ngũ Tuần, từng đoàn đông đảo anh em tiến về: ba ngàn hoặc năm ngàn tuỳ nguồn sử liệu. Tu viện nhỏ bé Póc-xi-un-cu-la không thể chứa tất cả anh em. Và mặc dầu công xã Át-xi-di đã cho xây dựng một nếp nhà bằng đá rộng thênh thang kế bên, nhưng phần đông anh em dựng trại từng nhóm ngoài đồng, trong các túp lều bằng lá hoặc trong các chòi tre vách chiếu. Bởi thế, người ta gọi là tu nghị chiếu.
Đại hội huynh đệ đã khơi dậy một mối thiện cảm dạt dào nơi dân chúng trong vùng.
Người ta thấy từng đoàn người cấp dưỡng từ Pê-ru-di-a, Xi-pen-lô và Át-xi-di kéo đến, họ mang đến cho anh em mọi thứ tốt lành.
Chính dân chúng cũng hoà lẫn với anh em. Tình huống thật khác thường. Quả là một ngày lễ.
Đức hồng y Hu-gô-li-nô, vị bảo trợ của dòng và nhiều giám mục cũng hiện diện. Trong thánh lễ, thánh Phan-xi-cô ngỏ lời với cộng đoàn. Mọi người chờ đợi giây phút ấy. Dáng dấp của ngài tuy nhỏ bé, nhưng giọng nói vút cao và trong trẻo. Một giọng nói nồng ấm và truyền cảm. Một chứng nhân kể lại rằng: Nếu một anh em nào đến dự tu nghị mà lòng còn ray rứt vì một cám dỗ nào đó, chỉ cần nghe tiếng nói cháy bỏng và ngọt ngào của thánh Phan-xi-cô, chỉ cần nhìn thấy ngài bằng xương bằng thịt là hết ray rứt ngay tức khắc. Thật thế, ngài biết cách khuyến dụ anh em, như thể chính ngài cảm nghiệm những đau đớn của họ (Truyện ký vô danh thành Pê-ru-di-a 8,39)
Tu nghị chiếu phô diễn một đỉnh cao trong cuộc đời thánh Phan-xi-cô cũng như trong kinh nghiệm phan sinh thời tiên khởi: đó là đỉnh cao sáng chói, kể về số lượng anh em cũng như nhiệt tình hiệp thông huynh đệ.
CHIỀU KÍCH THẾ GIỚI
Luồng sinh khí huynh đệ thúc đẩy Phan-xi-cô vượt qua biên giới các quốc gia đã làm cho hội dòng lớn mạnh. Nhưng Thiên Chúa muốn dạy cho ngài biết sự nghèo khó đích thật.
Luồng sinh khí huynh đệ đã từng nâng tâm hồn Phan-xi-cô lên cao không thể dừng lại nơi đó, nhưng đã luôn luôn thúc đẩy ngài đi xa hơn nữa, hướng đến một tình huynh đệ đại đồng.
Thật vậy, tầm nhìn của Người Nghèo thành Át-xi-di vượt qua biên giới nước Ý và cả châu Âu. Tầm nhìn của ngài bao trùm cả thế giới. Ngài mơ ước quy tụ tất cả mọi người trong một mối dây hiệp thông như thế và ngài đã thâu họp tất cả trong tình yêu Thiên Chúa.
Như triết gia P. Ri-cơ nhận xét, ngài mong muốn hoán cải mọi kẻ thù nghịch vì mối căng thẳng huynh đệ và hiệp nhất họ lại trong sự duy nhất của tạo thành.
Thời bấy giờ, thế giới hiển nhiên phân chia thành hai khối lớn khép kín, hai khối đối địch: một bên là thế giới ki-tô giáo và bên kia là hồi giáo. Giữa hai khối là thánh chiến, là thập tự chinh. Địa điểm gây bất hoà và tranh chấp đích thị là Thánh địa, nơi Đức Ki-tô đã sống và chịu đau khổ vì nền hoà bình thế giới.
6) Một dự phóng điên rồ
Thánh Phan-xi-cô không muốn chấp nhận sự đổ vỡ đó. Vì thế, ngài phác hoạ dự án xây dựng một nhịp cầu giữa hai khối, liên kết hai bên trong tình huynh đệ. Thời điểm lúc bấy giờ quả thật không thích hợp cho một kế hoạch như vậy. Cuộc thập tự chinh thứ năm do đức In-nô-xen-tê hạ chỉ đang đến hồi khốc liệt. Điều ấy không trở ngại chi! Phan-xi-cô quyết định lên đường sang Cận Đông để gặp vua hồi giáo nước Ai cập và để mang sứ điệp Tin Mừng và huynh đệ vào điểm nóng ấy. Một giấc mộng điên rồ. Cuối tháng sáu năm 1219, thánh Phan-xi-cô lên tàu tại cảng An-côn hứơng về cảng Ác-rờ và Đa-mi-ét-ta.
Hiển nhiên, sự hiện diện của ngài tại trại quân thập tự khiến mọi người cảm kích. Khi ngài tỏ bày dự phóng, người ta cho rằng ngài quá ảo tưởng. Chứng từ của Đức hồng y Gia-cô-bê đờ Vi-tri có mặt tại đó, đã phản ánh khá rõ ấn tượng của Người Nghèo thành Át-xi-di, người viết: Lòng nhiệt tâm và nỗi say mê thuộc linh đã thúc đẩy ngài hành động quá khích như thế, nên vừa đến nơi binh đoàn ki-tô giáo đóng quân đối diện thành phố Đa-mi-ét-ta bên Ai-cập, ngài liền tiến sang trại quân vua hồi giáo mà chẳng hề sợ hãi, chỉ trang bị bằng khiên thuẫn đức tin.
7) Thánh Phan-xi-cô trước mặt vua hồi giáo
Thật là một cuộc mạo hiểm gian nguy và nói cho đúng là điên rồ. Một toán quân hồi giáo chận bắt ngài. Thoát chết trong gang tấc. Thể theo lời yêu cầu của ngài, người ta dẫn ngài đến doanh trại vua hồi giáo là Ma-líc an Ka-min. Ông đồng ý tiếp chuyện và nghe ngài. Hai người có nhiều thiện cảm và tỏ ra lịch thiệp đối với nhau. Câu chuyện chỉ dừng lại ở đó. Người ta có thể hy vọng điều gì hơn nữa chăng? Như thế đã quá nhiều. Vừa nhiều vừa ít. Sứ mệnh hoà bình của thánh Phan-xi-cô đã chạm tới một ranh giới. Vả lại, khi thập tự quân đánh chiếm Đa-mi-ét-ta và chém giết tàn bạo, những hy vọng của thánh Phan-xi-cô liền tan theo mây khói. Những sự kiện ấy đã bổ báng cuộc vận động hoà bình của ngài. Ngài cảm thấy đau đớn.
8) Thất bại
Thật hết sức trớ trêu! Trong khi ngài đang nỗ lực làm trung gian hoà bình giữa thập tự quân và vua hồi giáo, một sứ giả đến từ nước Ý báo cho ngài biết trong khi ngài vắng mặt, nội bộ huynh đoàn đã bất hoà trầm trọng và các anh em thân cận của ngài đang khổ tâm.
Đây là sự thất bại trên mọi chiến tuyến. Hoạ vô đơn chí, đôi mắt viêm nhiễm vì mặt trời nóng bỏng nay khiến ngài hầu như mù loà và rất đau đớn.
Tổn thương trong tâm hồn cũng như trong thân xác, ngài trở về nước Ý trong thảm hại. Ngài tìm gặp những anh em lạc lối.
Các anh phó tổng phục vụ mà ngài uỷ thác điều hành Hội Dòng trong lúc ngài văng mặt, đã đề xuất một vài sáng kiến không hợp thời khiến các anh em trung thành nhất hoang mang.
Thật thế, vì số anh em không ngừng gia tăng, nên họ đã áp đặt một tổ chức chặt chẽ hơn. Đó là điều hiển nhiên.
Phải chấm dứt kiểu sống lang thang. Đàng khác, việc huấn luyện đòi hỏi cần phải có các cơ sở và thời gian. Thánh Phan-xi-cô nhận biết điều đó. Tuy nhiên, ngài cũng nhận thấy manh nha nơi một vài anh em ý muốn đồng hoá huynh đoàn với các hội dòng đan tu.
Bởi thế, công việc trước mắt là phải duy trì tính chất nguyên thuỷ của huynh đoàn, bảo vệ lý tưởng đơn sơ và tự do của Tin Mừng, lối sống ngay thật và huynh đệ.
9) Bất an và tức giận
Phải làm gì đây? Áp đặt? Ngài cảm thấy kiệt sức. Lực bất tòng tâm. Tình trạng sức khoẻ ngày càng tồi tệ, ngài phải từ chức tổng phục vụ; điều tệ hại đó lại xảy đến vào chính lúc anh em cần sự hiện diện của ngài.
Ngài tạm thời rút lui vào một ẩn viện cô tịch. Đó là giây phút đen tối nhất trong cuộc đời ngài. Ngài không còn biết rõ Thiên Chúa chờ đợi gì nơi ngài. Ngài có cảm tưởng người ta muốn giật ngài ra khỏi Hội Dòng và lôi kéo ngài xa rời ơn gọi ban đầu. Bấy giờ, ngài cảm nghiệm những giây phút bất an, buồn phiền và cả sự nổi giận nội tâm. Tô-ma Xê-la-nô viết: Thật là một nỗi đau lòng cho ngài khi biết tin một số anh em đã loại bỏ những gì họ đã quyết tâm trước đây Ngài bất an bên trong và bên ngoài, trong tâm hồn và ngoài thân xác. Đôi khi ngài trốn tránh anh em, bởi vì cơn cám dỗ đó làm cho ngài không thể tỏ lộ nét mặt vui tươi như trước đây (Truyện ký Pê-ru-di-a 21)
10) Sự trần trụi tối thượng
Huynh đoàn? Đoá hoa Tin Mừng? Huynh đoàn này đã là nguồn nghị lực mạnh mẽ cho đời sống của ngài và ngài muốn nó có tính phổ quát, không lẽ sắp thất bại sao? Chỉ là một giấc mơ, một ảo tưởng?
Mối hoài nghi len lỏi trong tâm hồn ngài cùng với cơn cám dỗ ghê gớm muốn khép mình trong sự cô tịch kiêu kỳ và cay đắng.
Cơn khủng hoảng ấy, càng trầm trọng hơn vì bệnh tật, quả là một thử thách nghiêm trọng. Thiên Chúa đợi ngài ở đấy. Thánh Phan-xi-cô được mời gọi tiến tới một sự trần trụi tối thượng, một sự nghèo khó triệt để. Một sự nghèo khó không chỉ liên quan đến của cải vật chất, nhưng đụng chạm đến bản chất thâm sâu nơi con người .
Bên trong con người có một ý muốn chiếm hữu, bởi đó con người chiếm làm của riêng điều thiện hảo mình thực hiện và vênh vang vì nó. Không phải vô cớ mà trong suốt các thư văn, thánh Phan-xi-cô tố giác cái ý muốn khiến chúng ta tự xưng là thầy và chủ nhân các điều thiện chúng ta làm; không phải vô cớ mà ngài nhận thấy trong sự bối rối và tức giận những dấu chỉ chắc chắn của sự chiếm hữu thầm kín ấy. Chính ngài đã có kinh nghiệm đó; ngài có kinh nghiệm về cơn cám dỗ bối rối và tức giận. Và Chúa đã chỉ cho ngài biết ngài phải truất hữu chính công trình của ngài - đó là huynh đoàn mà ngài nhiệt tâm gầy dựng - để chính mình trở thành công trình của Thiên Chúa: Hỡi con người nhỏ bé, thấp hèn và dốt nát, hãy nói cho ta biết vì sao người khổ tâm như thế? Ai đã gieo trồng hội dòng anh em? Chẳng phải ta sao? Ta đã chọn ngươi là kẻ đơn sơ và dốt nát để ngươi và anh em ngươi biết rằng chính ta sẽ chăm sóc cho đoàn chiên của ta. Vậy ngươi chớ buồn phiền nữa (Truyện ký Pê-ru-di-a 86)
Thánh Phan-xi-cô tin tưởng lời Chúa. Và với đức tin của người nghèo, ngài trao phó hoàn toàn Hội Dòng cũng như bản thân trong bàn tay Thiên Chúa (Lạy Chúa con, Lạy Chúa con, Chúa là ai? Và con là ai?) Yêu và yêu nhiều đều chưa đủ. Phải học trở nên nghèo khó trong tình yêu, nhất là trong tình yêu. Không chiếm hữu sự gì. Không chiếm hữu người nào. Bấy giờ, tình yêu mới đạt tới đỉnh trọn lành.
11) Bình an tái lập
Hội Dòng không còn là việc của ngài, nhưng là việc của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Thiên Chúa, như thế là đủ. Ngay từ lúc đó, thánh Phan-xi-cô cởi mở trọn vẹn cho Thánh Thần của Chúa. Một luồng gió bình an và thanh thản xâm chiếm ngài. Tất cả con người ngài bắt đầu toả rạng huy hoàng như ánh mặt trời sau cơn giông bão.
Thánh Phan-xi-cô trở thành con người tươi sáng. Không gì có thể tách rời ngài khỏi tình yêu của Đấng Tạo Hoá.
Và này đây, ngài cảm thấy chan chứa một năng động mới, ngài tâm sự cùng các bạn đường: Cho đến bây giờ, chúng ta chưa làm được gì, chúng ta hãy bắt đầu làm một cái gì đi nào.
Kỳ thực thì không phải làm việc này hay việc nọ, nhưng là để cho Thánh Thần Chúa hoạt động trong chúng ta.
Một anh phụ trách cộng đoàn xin phép rút lui vào ẩn viện cô tịch, bởi vì anh em cản trở anh yêu mến Chúa như anh ao ước, thánh Phan-xi-cô đã có thể viết cho anh một cách thanh thản và chân thành: Anh hãy yêu thương những kẻ gây phiền hà cho anh Hãy yêu thương họ như họ là Điều đó thì có công phúc hơn là sống trong ẩn viện
NHỮNG GIỜ PHÚT QUÝ BÁU CỦA TIỂU TỬ THANH BẦN
Theo năm tháng, sức khoẻ Phan-xi-cô yếu dần Nhưng trước máng cỏ Giáng Sinh ở Grê-si-ô, trong ẩn viện An-véc-na hay trong cộng đoàn, chính con người hoà bình và huynh đệ ấy tiếp tục cất lên Bài Ca Anh Mặt trời và say mê chiêm ngưỡng Đức Ki-tô.
Cuối năm 1223. Lễ Giáng Sinh gần đến. Một ý nghĩ vừa ngây thơ và vừa kỳ diệu loé sáng trong con tim yêu chuộng hoà bình của thánh Phan-xi-cô mà thỉnh thoảng chỉ loé lên trong tâm hồn các thi sĩ:
Tôi muốn tưởng niệm việc Hài Nhi giáng sinh tại Bê-lem. Tôi muốn thấy Người tận mắt như Người đã nằm trong máng cỏ và thiếp ngủ trên đống rơm rạ, giữa bò và lừa (1 Xê-la-nô 84)
12) Giáng Sinh tại Grê-si-ô
Nhìn thấy và làm cho người ta nhìn thấy với đôi mắt trẻ thơ Con Thiên Chúa rất cao cả giáng thế trong sự nghèo hèn và dịu hiền. Trong xã hội thương nhân, bị nỗi đam mê tiền bạc chế ngự, cần phải làm rạng tỏ sự nhưng không của Thiên Chúa. Trong thế giới các giáo sĩ ham hố quyền lực, cần thiết phải nhắc lại sự khiêm hạ của Thiên Chúa. Trong thời đại thập tự chinh và thánh chiến, có gì cần thiết hơn là tỏ cho người ta thấy sự dịu hiền của Thiên Chúa!
Để chuẩn bị cho cuộc cử hành đó, thánh Phan-xi-cô đã chọn thôn làng Grê-si-ô, nằm trên triền núi, bên trên thung lũng Ri-ê-ti. Ngài uỷ thác công việc chuẩn bị cho một người bạn tên là Gio-an, lãnh chúa làng Grê-si-ô.
Anh em những tu viện kế cận và dân chúng trong vùng được mời đến dự lễ. Họ đến với đuốc và nến trong tay. Đêm Giáng Sinh ấy rực sáng. Tất cả đã sẵn sàng: người ta đem vào hang một máng cỏ đầy rơm, cùng với một chú lừa và một con bò. Grê-si-ô trở thành Bê-lem mới. Anh em ca hát chúc tụng Chúa. Khu rừng chung quanh vang dội tiếng ca.
Suốt buổi canh thức, thánh Phan-xi-cô đứng chầu trước máng cỏ, khuôn mặt toả rạng niềm vui khôn tả như thể đang tận mắt nhìn thấy Hài Nhi. Kế đến, thánh lễ được cử hành trên máng cỏ dùng làm bàn thờ. Trong tư cách phó tế, Tiểu Tử Thanh Bần hát bài Tin Mừng Giáng Sinh. Rồi ngài giảng giải cho dân chúng. Bằng lời lẽ khá đơn sơ, ngài mời gọi tất cả hãy vui mừng vì Con Thiên Chúa giáng sinh mà ngài thốt lên một cách rất trìu mến Hài Nhi Bê-lem.
Ngài hằng muốn tất cả mọi tạo vật, con người cũng như loài vật, hân hoan trong Chúa. Ngài nói: Trong ngày lễ Giáng Sinh này, những người giàu có phải thiết đãi tất cả những người nghèo một bữa tiệc thịnh soạn. Vì lòng tôn kính Con Thiên Chúa đã được Thánh nữ Đồng trinh Ma-ri-a ấp ủ trong máng cỏ giữa bò lừa trong đêm cực thánh này, nên tôi cũng mong muốn cung cấp cho các anh chị bò lừa phần thóc lúa dồi dào (Truyện ký Pê-ru-di-a 110). Trong tâm tư ngài, Giáng sinh là ngày lễ của sự nhưng không, hoà bình và dịu hiền. Ngày lễ của tình huynh đệ đại đồng. Vì ngày đó, chính Con Thiên Chúa cao cả đã trở nên anh em của chúng ta.
13) An-véc-na
Tháng tám năm 1224, hai năm trước khi chết, thánh Phan-xi-cô cùng với các anh Lê-ô, Ăng-rờ và Mát-xê-ô lên đường tiến về núi An-véc-na, miền Tốt-can. Ngọn núi cao 1269 mét, nằm giữa 2 dòng sông Ác-nô và Ti-bờ, được bá tước Rô-lăng-đô tặng cho thánh Phan-xi-cô làm nơi tĩnh tâm và cầu nguyện. Ngọn núi dựng đứng như một tảng đá khổng lồ, trên đỉnh là một cánh rừng tuyệt đẹp. Sự cô tịch và hoang dã, cũng như sự yên ắng và uy nghiêm của ngọn núi mời mọc người ta suy niệm và chiêm ngưỡng.
Lên tận nơi ấy, thánh Phan-xi-cô ẩn mình trong các hốc đá và chìm đắm hàng giờ trong sự tĩnh lặng tuyệt đối. Ngài suy niệm hằng giờ như thế về điều gì? Lên núi An-véc-na, ngài có ý định chuẩn bị mừng lễ Thánh Tổng Lãnh Thiên Thần Mi-ca-e bằng một mùa chay tự nguyện vì lòng đạo đức. Nhưng khi vừa đến đây, ngài liền bị thu hút bởi cuộc khổ nạn của Chúa Ki-tô. Và những suy tưởng về cuộc khổ nạn không rời bỏ ngài nữa. Cuộc khổ nạn xuất hiện trong tâm trí ngài như một mặc khải về Tình yêu vô biên hằng thôi thúc trọn cả con người ngài. Ngài cảm thấy nẩy sinh trong lòng một nỗi khao khát vời vợi muốn kết hiệp với cuộc khổ nạn của Chúa Ki-tô. Ngài cầu nguyện như thế này: Lạy Chúa, ước gì mãnh lực nồng cháy và dịu dàng của tình yêu Chúa chiếm ngự tâm hồn con và giải thoát tâm hồn con khỏi mọi sự dưới bầu trời này, để con chết vì yêu Tình yêu của Chúa, như Chúa đã chết vì yêu tình yêu của con.
Thế rồi vào một buổi sáng - vào dịp lễ suy tôn Thánh Giá - trong khi ngài cầu nguyện trên sườn núi, ngài thấy từ trời xuất hiện một thực thể có cánh, một thực thể bằng lửa và ánh sáng: thần Xê-ra-phim có sáu cánh chói ngời như trong thị kiến của ngôn sứ Ê-dê-ki-en. Đó là một trong các thực thể bất tử chầu chực trước ngai Thiên Chúa và là sự chiếu toả vinh quang của Người. Nhưng điều lạ lùng là những thực thể vinh quang và sáng ngời ấy cũng đau khổ: tay chân đều bị đâm thâu.
Trước thị kiến ấy, tâm hồn thánh Phan-xi-cô như bị chia cắt bởi những tình cảm trái nghịch. Vẻ đẹp của thần Xê-ra-phim và ánh mắt dịu dàng của người làm cho thánh nhân chan chứa niềm vui, nhưng sự đau đớn của đấng chịu đóng đinh đồng thời cũng khiến tâm trí ngài rã rời. Một thực thể rạng ngời vinh quang như thế làm sao có thể chịu đau khổ được? Thánh Phan-xi-cô chỉ biết suy tưởng. Và bỗng nhiên, Đau khổ và Vinh Quang, kết hợp với nhau một cách kỳ lạ trong thị kiến ấy, vồ bắt ngài như một con chim săn mồi.
Thị kiến vụt tắt. Bấy giờ, cúi mắt xuống, ngài thấy đôi tay và đôi chân đã bị đâm thủng. Vinh quang Thiên Chúa đã chạm đến ngài. Ngài mãi mãi là con người bị đóng đinh.
Tất cả cuộc đời ngài là một sự chiêm ngưỡng Đức Ki-tô lâu dài và nồng nàn. Và sự chiêm ngưỡng ấy kết cuộc đã biến đổi ngài hoàn toàn theo hình ảnh Đấng Chịu Đóng Đinh.
14) Bài Ca Tạo Vật
Bấy giờ xảy ra một điều bất ngờ: con người mà thiên hạ tưởng đã biến khỏi mặt đất, vì tâm hồn ngài chìm đắm trong Thiên Chúa và thân xác yếu nhược vì các dấu đinh và bệnh tật, con người đó bắt đầu ngồi trên lưng lừa ngang dọc miền Om-bri-a và Mạc-sơ, đi đến làng này tới làng khác và tha thiết kêu gọi mọi người sống hoà bình, hoà giải, huynh đệ. Như thể ngài được phú ban một năng lực mới. Đó là năm 1225. Chứng đau mắt mà ngài nhiễm bệnh từ khi sang Cận Đông trở nên trầm trọng. Ngài hầu như mù loà. Ngài rất đau đớn và phải trải qua một quá trình trị liệu khủng khiếp: người ta đốt một thỏi sắt đỏ nung vào thái dương gần vành tai.
Ngày kia, đang khi ngài ghé thăm đan viện Xan Đa-mi-a-nô nơi chị Cla-ra cư ngụ, ngài gặp một cơn đau cấp tính. Ngài không thể trở về Póc-xi-un-cu-la. Thánh nữ Cla-ra cho đặt bệnh nhân trong một căn phòng nhỏ bên cạnh đan viện. Thánh nữ cũng sắp đặt cho ngài một căn buồng để bảo vệ đôi mắt khỏi ánh sáng.
Trong hơn năm mươi ngày, thánh nhân đã sống trong căn buồng tăm tối không một chút ánh sáng. Đôi mắt nhức nhối khủng khiếp khiến ngài không thể ngủ nghỉ được.
Đêm nọ, vì kiệt sức, Người Nghèo nài xin Thiên Chúa dủ thương. Một tiếng nói bên trong đáp lời ngài: Phan-xi-cô, hãy hân hoan như thể con đã ở trong vương quốc của Ta Một ánh sáng rất dịu dàng thấm nhập tâm hồn ngài. Và một nỗi khao khát ngợi khen xâm chiếm con người của ngài. Lời ngợi khen đó mặc lấy vẻ uy nghi của mặt trời, vẻ rực rỡ dịu dàng của tinh tú, đôi cánh của làn gió, sự khiêm nhu của dòng nước, sự nhiệt tâm của ngọn lửa và sự nhẫn nại của trái đất.
Ánh sáng mặt trời chiếu toả trên Át-xi-di. Phan-xi-cô, nay đã mù loà, ngồi ngay ngắn trên giừơng và cất lên Bài Ca Anh Mặt trời:
Lạy chúa Trời Cao Cả,
Đấng nhân hậu toàn năng,
Ngài xứng đáng lãnh nhận,
Tiếng ca ngợi hát mừng,
Danh dự và vinh quang
Với muôn lời cung chúc!
Ngợi khen và thánh đức,
Thật là phải đạo thay,
Người phàm ai đáng được
Gọi Danh Thánh của Ngài.
Muôn lạy Chúa con thờ, con xin ca tụng
Vì Ngài đã dựng nên muôn loài muôn giống,
Đặc biệt hơn cả là ông anh mặt trời,
Để cho có ngày và để sáng soi.
Anh đẹp tuyệt vời, anh rạng ngời rực rỡ,
Lạy Chúa Tối Cao, anh là hình ảnh Chúa
Và lời ngợi khen bao trùm tất cả tạo thành: chị mặt trăng và tinh tú, anh gió và chị nước, anh lửa và chị Mẹ đất. Quả thật là một bài ca thán phục trước kỳ công của Thiên Chúa: đó cũng là và nhất là bài ca tình huynh đệ đại đồng. Bài ca hoà giải giữa con người với mọi vật và với chính bản thân. Bài ca của con người hoà bình và huynh đệ, nhờ họ mà những thế lực sôi sục trong cuộc sống tìm lại được sự trong sáng nơi suối nguồn và vẻ huy hoàng của ánh sáng. Bài ca của cuộc tạo dựng mới, ngay trong trái tim con người.
15) Hoà giải Đức Giám mục và viên thị trưởng
Có một sự kiện trong năm 1225 xâu xé thành phố nhỏ Át-xi-di. Đức giám mục dứt phép thông viên thị trưởng. Ông thị trưởng trả đũa tức khắc và ầm ĩ công bố trong khắp thành phố lệnh cấm mọi công dân mua bán bất cứ sản phẩm gì của đức giám mục và giao tiếp với người. Một cuộc chiến công khai giữa hai người.
Tuy thánh Phan-xi-cô lúc ấy đang bệnh tật, nhưng cũng tỏ lòng thương cảm với họ. Ngài cảm thấy đau đớn vì không có ai đứng làm trung gian hoà giải nhằm khôi phục hoà bình. Ngài nói với các bạn đường: Thật hổ nhục cho chúng ta là những đầy tớ của Thiên Chúa!
Bỗng nhiên, ngài nẩy sinh ý tưởng thêm một tiểu khúc vào Bài Ca Anh Mặt trời:
Muôn lạy Chúa con thờ, con xin ca tụng,
Vì bao người rộng lượng thứ tha
Bởi lòng yêu mến Chúa:
Gian khổ yếu đau, chẳng nề hà!
Lạy Chúa Trời cao cả,
Phúc thay ai một mực sống hiền hoà,
Vì Ngài sẽ thưởng triều thiên quý giá.
Sau đó ngài mời viên thị trưởng đến gặp đức giám mục. Ngài xin anh em hát Bài Ca Anh Mặt trời trước sự hiện diện của hai đối thủ.
Chuyện khó tin đã xảy ra: viên thị trưởng và đức giám mục cảm kích trước sứ điệp hoà bình mà thánh Phan-xi-cô muốn gởi gắm, đã nhìn nhận sự nóng giận sai trái của mình, liền ôm nhau hôn và sống tình bạn như trước.
Người ta đoan chắc thánh Phan-xi-cô đã vui sướng như thế nào khi nghe tin vui. Lời kêu gọi hoà giải, hoà bình và huynh đệ của ngài đã được lắng nghe trong chính thành phố của ngài. Tại sao không công bố lời kêu gọi đó cho toàn thế giới? Ngài yêu cầu anh Pa-xi-phi-cô, là vua thi sĩ và ca trưởng tao nhã, hãy đi khắp thế giới cùng với vài anh em để cất lên bài ca chúc tụng và hoà bình như những người hát rong của Thiên Chúa.
Phần ngài, từ nay không còn có thể di chuyển được, ngài muốn viết một lá thơ gởi cho mọi cư dân trên toàn thế giới. Những dòng chữ đầu tiên của lá thư cho thấy chân trời của ngài:
Nhân Danh Chúa, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, Amen.
Kính gởi toàn thể các ki-tô hữu
Kính gởi toàn thể cư dân trên thế giới,
Tôi là tu sĩ Phan-xi-cô, người tôi tớ và thuộc hạ của anh chị em, xin gởi lời chào đầy lòng kính trọng và cầu chúc anh chị em được sự bình an đích thực bởi trời và tình thương chân thật trong Chúa
16) Cái chết thân xác, Chị chúng ta
Sức khoẻ ngài sa sút. Suốt cuộc đời, người nghèo Át-xi-di không hề đãi ngộ thân xác. Ngài bắt thân xác chịu đựng mọi sự túng thiếu. Bệnh tật nay đã tàn phá hết sức lực của ngài Cuối mùa hè năm 1226, người trở bệnh trầm trọng hơn. Một y sĩ thành Ác-dê-rô đến thăm ngài. Thánh nhân hỏi ông: Ông nghĩ bệnh tôi thế nào? Hãy nói cho tôi biết sự thật!. Vì ngài cố nài nỉ, nên ông y sĩ trả lời: Thưa thầy, vì thầy yêu cầu, nên tôi xin nói thật Dựa trên kiến thức y học hiện nay, bệnh của thầy vô phương cứu chữa. Chắc chắn thầy sẽ chết nay mai thôi. Có lẽ cuối tháng chín hoặc đầu tháng mười
Bấy giờ thánh Phan-xi-cô cho gọi anh Ăng-rờ và anh Lê-ô đến, rồi xin hai anh hát cho ngài nghe Bài Ca Anh Mặt trời. Hai anh ngậm ngùi thi hành. Hai anh ca tụng mặt trời, mặt trăng và tinh tú, gió trời, làn nước, ánh lửa và trái đất Trái đất khá đẹp cuối hạ. Ánh sáng dịu dàng hơn. Những vườn nho óng ánh. Một mùi hương trái chín lan toả khắp vườn. Và thánh Phan-xi-cô trầm ngâm lắng nghe anh em ca hát. Sau đó, ngài vụt phá tan sự im lặng và sáng tác một điệp khúc thêm vào Bài Ca Anh Mặt trời:
Con xin ca tụng, muôn lạy Chúa con thờ
Vì chị chết đang sẵn chờ thân xác,
Thật trong cõi người ta
Chẳng ai là thoát được.
Vô phúc thay kẻ nào,
Chết còn mang tội ác,
Nhưng quả là hạnh phúc cho ai
Khi bất ngờ chị tới
Đang thi hành ý Chúa miệt mài.
Vì dầu cái chết thứ hai
Cũng không tác hại cho đời họ đâu!
Đó là một sự nghênh đón chính cái chết của mình. Thánh Phan-xi-cô thân thiện tiếp đón cái chết với một trái tim hân hoan. Cái chết cũng là một con đường ánh sáng. Về cuối đời, ngài chào mừng cái chết như một ngày mới, nội tâm hơn, khiến ngài liên tưởng đến Chúa của Ngài.
Những ngày đầu tháng mười đã đến. Trở về Póc-xi-un-cu-la, thánh Phan-xi-cô sống những giờ phút cuối đời. Chiều ngày mồng 3, ngài xin anh em đem sách Tin Mừng đến và đọc cho ngài nghe đoạn Tin Mừng của thánh Gio-an: Đức Giê-su biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những người thuộc về mình còn ở thế gian và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13.1).
Kế đó, thánh Phan-xi-cô xướng thánh vịnh 141: Con lớn tiếng kêu gào Ya-vê, sức hèn con đã hầu như suy tàn xin đưa con ra khỏi chốn ngục tù Cuối cùng, đã đến giờ các mầu nhiệm của Đức Ki-tô thể hiện nơi ngài, linh hồn ngài hoan hỷ bay bổng lên cùng Thiên Chúa (1 Xê-la-nô 121)
Đó là buổi chiều ngày mồng 3 tháng mười. Ngài vừa 45 tuổi.
Tin ngài chết tức khắc được báo cho Cla-ra, và lan truyền khắp thành phố, gây nên một náo động ầm ỉ. Mọi người bỗng cảm thấy như trống vắng khủng khiếp. Con người huynh đệ đã ra đi.
Màn đêm buông xuống trên thành phố Át-xi-di, những ánh sao đầu tiên lấp lánh trên bầu trời. Từ nay ai sẽ mang hoà bình từ trời xuống trái đất? Ai sẽ sống đủ nghèo để trở nên anh em của mọi tạo vật? Ai sẽ nói được như ngài: Bình an và thiện hảo?
Tuy nhiên, trong tâm tư anh em và dân chúng chiều ngày mồng 3 tháng mười năm 1226, lòng nhiệt tâm đã chiến thắng: mầu nhiệm của cõi đất đã âm thầm gặp gỡ mầu nhiệm các tinh tú
17) Kết luận
Người ta kể rằng vào thời thánh Phan-xi-cô, có một chú sói hung dữ gây tại hại cho vùng Gu-bi-ô, tấn công súc vật và người ta. Người Nghèo Át-xi-di đã thuần hoá chú sói bằng sự dịu hiền của ngài. Chúng ta đã biết con sói hung dữ đó là gì. Nó hiện diện trong mọi thời đại. Nó không chỉ chạy nhảy trong rừng. Nhưng nó ẩn nấp trong thâm tâm mỗi người. Nó hiện diện trong mỗi người chúng ta. Thánh Phan-xi-cô là người gieo vãi hoà bình, kiến tạo tình huynh đệ cho thời của ngài. Chính ngài đã trở thành con người bình an, con người huynh đệ.
Hôm nay ai sẽ giải thoát chúng ta khỏi sói dữ? Ai sẽ thuần hoá con thú ấy? Người đó sẽ là con người huynh đệ, con người của thời sẽ đến. Cũng như thánh Phan-xi-cô, người đó sẽ bước đi giữa muôn vàn anh em. Và chú sói to lớn đã thuần dưỡng sẽ vui vẻ tự do tung tăng bên cạnh.
CUỘC HỘI NGỘ GIỮA TIN MỪNG VÀ LỊCH SỬ
Kinh nghiệm sống Tin Mừng của thánh Phan-xi-cô không chỉ là một giai đoạn trong lịch sử ki-tô giáo nhưng có giá trị mẫu mực và tiên tri. Kinh nghiệm đó là một sự đánh thức trong Giáo Hội thế kỷ thứ 13 và hôm nay vẫn còn duy trì một năng lực đổi mới và trẻ trung hoá. Thật thế, kinh nghiệm đó không ngừng lôi cuốn và gợi hứng cho một số đông người nam nữ.
Người nào làm bạn với Tin mừng mà không mơ ước một ngày kia sẽ được sống lại buổi đầu khiêm tốn trong tình huynh đệ phan sinh tiên khởi, trong sự đơn sơ, niềm vui và nghèo khó? Và một số người đã cương quyết thử nghiệm.
Nhưng ý muốn trở về nguồn, dù quảng đại thế nào đi nữa, liệu có đủ làm sống lại kinh nghiệm của thánh Phan-xi-cô trong sự trào dâng sáng tạo như ngài không? Có ba điểm đã đóng một trò quan trọng trong cuộc đời thánh Phan-xi-cô và góp phần làm cho ngài trở nên người dẫn đường và là nhà canh tân mà chúng ta ngưỡng mộ: một nhân bản phong phú, một hơi thở tin mừng, một sự hợp lực với phong trào lịch sử.
18) Một bản tính phi thường
Trước hết đó là bản tính phong phú của Phan-xi-cô. Điều đó không thể phủ nhận. Đọc truyện ký các tác giả tiên khởi, người ta không thể không cảm nhận một ấn tượng hết sức lôi cuốn: chúng ta có cảm tưởng như đứng trước một nhân vật độc đáo và sáng tạo, gặp gỡ một con người năng động, vui tươi, từ con người ấy toả chiếu sự viên mãn của đời sống vừa đơn sơ, vừa mãnh liệt và mới mẻ. Hiển nhiên, chúng ta đứng trước một người lôi kéo chúng ta ra khỏi lối mòn sáo ngữ. Với ngài, cuộc sống tìm lại được hương vị của cuộc tạo dựng. Nét căn bản của nhân vật ngoại thường này là khả năng liên lạc với mọi thực thể một cách phi thường, một năng lực luôn luôn được đổi mới nhờ sự kinh ngạc, trầm tư và từ bỏ. Tóm lại, đó là sự cởi mở của tinh thần và con tim khiến con người quan tâm đến mọi tạo vật và tự nhiên thúc đẩy con người làm cho tạo vật trổ hoa trong hoà bình và niềm vui. Tô-ma Xê-la-nô đã ghi nhận một cách ý vị: Tâm tính hoàn toàn tự nhiên của con tim đủ làm cho người trở thành anh em của mọi tạo vật Lu-y La-ven có lý khi viết: Có lẽ không ai có một lương tâm ngay thẳng, một tâm hồn nhạy cảm bộc phát và tế nhị, cũng như sự cảm kích mãnh liệt khi tiếp xúc với thiên nhiên, sinh vật và Thiên Chúa hơn Phan-xi-cô (Quatre Saints, Paris, 1962, p.89).
19) Linh hứng Tin Mừng
Một khi thấm nhập vào trong bản tính phong phú ấy, nguồn sinh khí Tin Mừng đã giải phóng tất cả mọi khả năng. Việc hoán cải không hề phá vỡ bất cứ khí lực nào của cá tính Phan-xi-cô. Sự khổ chế thái quá, đời sống cầu nguyện cao độ đôi khi làm cho sự nhạy bén trở nên cằn cỗi khiến con người ít nhiều trở nên xa lạ với thực tại hữu hình cụ thể. Nơi Phan-xi-cô thì không như thế.
Tất cả những gì cao quý trong bản tính của Phan-xi-cô rung động một cách nguyên vẹn dưới bàn tay Thiên Chúa. Ngay cả cảm tính phong phú, cảm quan thẩm mỹ và thi cảm sáng tạo. Việc hoán cải không làm chúng khô cằn. Trái lại, nó làm cho tất cả những khả năng cảm thụ của người triển nở viên mãn. Hơn nữa, việc hoán cải của người thiết yếu là một hiệp thông với một ngôi vị sống động, Đức Giê-su Ki-tô. Gắn bó với con người phi thường và siêu việt ấy, những năng lực của Phan-xi-cô được giải thoát khỏi những gì còn chật hẹp. Tính quảng đại tự nhiên của tinh thần và con tim được mở rộng tới chiều kích thế giới. Nụ hôn trao cho người phong là biểu tượng đẹp nhất của sự rộng mở ấy. Từ đó, mối hiệp thông với tạo vật có tính chất đại đồng.
20) Lịch sử con người
Ngoài bản tính phong phú của Phan-xi-cô và nguồn sinh khí Tin Mừng làm triển nở bản tính ấy, cuối cùng còn phải nói thêm một điều quan trọng thứ ba. Trở về với Tin Mừng sẽ luôn luôn hợp thời trong Giáo Hội: thế nào cũng sẽ trổ sinh hoa trái thánh thiện. Nhưng có những thời điểm đặc biệt sự trở về ấy gặp gỡ sự biến chuyển sâu xa của lịch sử con người: hệ quả của một xã hội mới. Sự trở về ấy đảm nhận vai trò men trong thế giới, đồng thời giải thoát Giáo Hội khỏi những trì trệ trên bình diện xã hội và mở ra cho Giáo hội một tương lai mới và một sự trẻ trung mới. Sự kỳ diệu phan sinh phát sinh từ một trong những cuộc gặp gỡ hãn hữu giữa Tin mừng và Lịch sử. Trào lưu huynh đệ theo Tin mừng khơi nguồn từ Phan-xi-cô Át-xi-di không trào dâng một cách phi thời gian. Nó trùng hợp với cuộc cách mạng lịch sử về các mối quan hệ xã hội và chứa đựng các đặc sắc của cuộc cách mạng đó. Cuộc cách mạng ấy là hậu quả của một quá trình biến đổi của xã hội trong lãnh vực kinh tế. Thay cho nền kinh tế nông thôn có tính chất cố định, nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tự do lưu thông hàng hoá và con người, đồng thời hô hào thiết lập những mối quan hệ xã hội và cơ cấu chính trị mới. Chế độ phong kiến - chư hầu không còn thích hợp; nó cản trở các sức mạnh của nền kinh tế mới. Một thể chế chính trị dân chủ hơn, cũng như mối quan hệ xã hội tự do và bình đẳng đựơc đón nhận. Các thương nhân liên kết với nhau để buôn bán đã làm nên mẫu mực cho một xã hội mới. Từ đó, chỉ cần đoạn tuyệt với quyền bính lãnh chúa. Đó là chiều hướng của phong trào công xã nhằm giải phóng các thành phố.
21) Một xã hội mới
Khai sinh bởi những đòi hỏi của kinh tế, phong trào giải phóng khỏi chế độ phong kiến cũng ôm ấp không ít những khát vọng sâu xa của con người. Nó biểu lộ một ý chí thật sự muốn liên kết. Thị dân, nhất là giới thương nhân, ý thức khả năng của mình, không còn chịu nổi cảnh sống như chư hầu lệ thuộc vào một lãnh chúa, họ muốn nắm lấy vận mệnh của mình và cùng nhau thực hiện dựa trên nền tảng bình đẳng. Tóm lại, từ nay họ muốn liên kết với nhau trong tình huynh đệ. Họ đặt cho ý muốn liên kết đó một tên gọi và một thực thể: công xã. Nhưng dự phóng xã hội ấy sớm đối diện với những trở ngại lớn. Những nguyên tắc kinh tế tỏ ra bất lực trước những trở ngại đó. Chỉ cậy dựa vào sức mạnh của mình, xã hội công xã non trẻ rơi vào ách thống trị của tiền bạc, các tập đoàn thương nhân co cụm và cấu kết vì quyền lợi. Sự tự do công xã làm lợi cho những kẻ giàu có hơn. Xã hội phân rẽ. Một chế độ phong kiến mới xuât hiện, chế độ của tiền bạc, với những hình thức áp bức mới.
Trong bối cảnh đó Phan-xi-cô Át-xi-di cổ võ lối sống theo Tin Mừng. Phát xuất từ môi trường thành thị và thương mại, người con ông Phê-rô Béc-na-đô-nê mang trong lòng nỗi sôi sục của thời đại; ngài chia sẻ hoài bão, tham vọng và tất cả sự hiếu động. Nhưng con người ngoại thường ấy không hài lòng với những gì mình thấy và sống. Ngài khám phá thấy nỗi khốn khổ của người nghèo. Có điều gì đó chuyển động trong ngài. Ngài tìm kiếm, cầu nguyện. Cuối cùng ngài nghe Tin Mừng. Không chỉ bằng đôi tai, nhưng bằng cả con người của ngài. Bấy giờ xuất hiện trong con tim chàng trai một cuộc gặp gỡ phi thường giữa đòi hỏi của Tin Mừng và nguyện vọng thẳm sâu của thời đại ngài.
22) Tin Mừng như là con đường tình huynh đệ
Thật vậy, Phan-xi-cô khám phá thấy Đức Ki-tô khiêm nhường và nghèo hèn đang lần bước giữa loài người và mặc khải cho họ tình yêu của Chúa Cha. Gương mẫu của Đức Ki-tô trở nên ánh sáng chói loà cho đời sống ngài: ngài đặt gương mẫu ấy trên con đường đưa đến tình huynh đệ đích thật. Phan-xi-cô dấn thân đến cùng trên con đường khó nghèo và khiêm hạ. Và một đoàn mộn đệ sớm theo ngài. Điều lôi cuốn tất cả những người nam và những người nữ chính là phẩm chất của lối sống mới mà ngài đề nghị, một lối sống loại trừ mọi hình thức thống trị trong các tương quan nhân loại: tất cả là anh em.
Cũng vậy, trong lòng một Giáo hội còn mang tính phong kiến và lãnh chúa trong cách thức cai quản và tương giao với con người, người con của công xã, khi đọc Tin Mừng với một sự nhạy cảm của thời đại, đã tạo nên điều mới; ngài khai sáng một nếp sống chung không có thống trị và ngôi thứ. Tóm lại, ngài kiến tạo huynh đoàn.
23) Nghèo khó Tin Mừng vì tình huynh đệ
Nếu Phan-xi-cô gắn bó chặt chẽ với nếp sống nghèo khó theo vết chân Đức Ki-tô, nếu ngài tìm kiếm sự nghèo khó say mê đến nỗi khước từ mọi hình thức sở hữu, ấy là vì nghèo khó tỏ ra là con đường vương giả dẫn đến tình huynh đệ và hiệp thông giữa mọi người. Không gì diễn tả ý nghĩa của nếp sống khó nghèo hay hơn điều ngài nói với đức giám mục Át-xi-di, khi người băn khoăn về sự trần trụi của anh em: Nếu chúng con có của cải, chúng con phải có quân đội để bảo vệ. Bởi vì của cải sinh ra tranh chấp và kiện tụng, chính nó tạo nên nhiều trở ngại ngăn cản người ta yêu mến Thiên Chúa và người thân cận. Bởi thế, chúng con không muốn sở hữu bất cứ của cải trần thế nào (Ba người bạn, một trong những truyện ký tiên khởi về thánh Phan-xi-cô). Ở đây, nghèo khó phục vụ tình huynh đệ. Ưu tiên là tương quan nhân loại. Trên bình diện này tỏ lộ sự độc đáo của Phan-xi-cô. Sự độc đáo ấy hoàn toàn hệ tại phẩm chất của mối tương quan: một phẩm chất mới bao hàm tình liên đới trong các công xã, nhưng đã được soi sáng và mở rộng nhờ Tin Mừng.
24) Nhân tính của Thiên Chúa
Nếu sự khai phóng Tin Mừng hướng đến các mối tương quan mới trong xã hội tương hợp với sự nhạy cảm thời đại, thì nó không chỉ dừng lại ở một lý tưởng nhân loại đơn thuần. Nó đi xa hơn nhiều. Nó liên kết với một nhận thức chính xác hơn về Thiên Chúa của Tin mừng. Nó khai mở một cuộc khám phá kỳ diệu mầu nhiệm Nhập Thể. Thật quá ít khi nói Phan-xi-cô đoạn tuyệt với Thiên Chúa của chiến tranh phong kiến và thánh chiến. Đối với ngài, Thiên Chúa không còn là Đức Chúa theo kiểu phong kiến. Cũng không còn là vị Chúa Tể thống trị ban phát dồi dào ân lộc cho chư hầu. Thiên Chúa rời bỏ địa vị thống trị ; Người cũng không còn chư hầu nữa; Người trở nên một người giữa chúng ta; Người sống giữa chúng ta, hoàn toàn trút bỏ mọi dấu hiệu quyền lực, như một người khiêm nhu và bé mọn nhất. Phan-xi-cô khám phá nhân tính của Thiên Chúa, sự khiêm hạ của Thiên Chúa: Thiên Chúa uy quyền tự nguyện làm một người anh em của chúng ta (2 Xê-la-nô)
25) Suy tư về một kinh nghiệm
Nơi bản thân Phan-xi-cô, người ta thấy cuộc gặp gỡ giữa Tin Mừng và lịch sử sâu xa như thế nào. Cuộc gặp gỡ ấy hẳn không phải là hoa quả của một hoài bão và kế hoạch tiên lập. Nhưng là sự kiện một cá tính phi thường trở về với Tin Mừng với một sự bén nhạy của thời đại, giải hoà cơ chế cổ kính của Giáo Hội với sự trẻ trung của thế giới.
Ở đây cần có vài suy nghĩ. Để sống lại kinh nghiệm như Phan-xi-cô Át-xi-di trong mọi chiều kích, thì ý chí trở về với Tin Mừng, dù ưu tiên và cấp thiết, vẫn không đủ. Phải đồng cảm với chuyển động sáng tạo của lịch sử. Một chuyển động như thế không phải lúc nào cũng có sẵn. Không phải ngày nào xã hội cũng biến chuyển. Và người ta không tạo ra sự biến chuyển. Những biến chuyển ấy, khi nó xảy ra, là hậu quả của những biến đổi sâu xa trên bình diện sản xuất, trao đổi và điều kiện sinh sống.
26) Hôm nay
Hôm nay có xuất hiện các biến chuyển như thế không? Chúng ta hẳn đang sống trong một thời kỳ chuyển biến sâu xa. Kích thích bởi bước nhảy vọt của kỹ thuật, một xã hội mới sẽ xuất hiện. Tất cả nhân loại bị liên luỵ và như đang trong thời kỳ thai nghén. Giữa biến chuyển khủng khiếp ấy, vấn đề nóng bỏng trong các mối tương quan lại được đặt ra. Trong một thế giới ngày càng thu hẹp, vấn đề đó sẽ trở nên vấn nạn nghiêm trọng. Tìm kiếm một cách thức mới để sống các mối tương quan xã hội, ngang qua hiện tượng xã hội hoá đang phát triển. Một hiện tượng vừa phát sinh nhiều hy vọng và lo âu: hy vọng vì ý thức liên đới trên bình diện toàn cầu, lo âu vì sự nhập cuộc của các cơ cấu máy móc.
Cũng thế, trong thế giới biến chuyển này đang gióng lên những tiếng kêu gào đòi nhân ái, đôi khi đầy lo âu: đòi khoan dung, tự do và công lý hơn, đòi tham gia nhiều hơn vào những quyết định và trách nhiệm, đòi một nền hoà bình đảm bảo hơn việc tôn trọng quyền con người và các dân tộc
Bởi vậy, kinh nghiệm của phong trào phan sinh tiên khởi thu hút chúng ta biết bao. Huynh đoàn mà Phan-xi-cô kiến tạo hôm nay chắc hẳn không hoàn toàn giống như huynh đoàn được người khai sinh thế kỷ 13. Tuy nhiên, nó vẫn mang cùng những nét đặc trưng như nhau: đó là loại trừ ách thống trị của tiền bạc, tìm kiếm một cộng đoàn nhân loại thật sự huynh đệ, ý thức và cảm nhận con người cụ thể và riêng biệt, tiếp nhận và tôn trọng thiên nhiên, thể nghiệm tất cả những điều đó trong sự tiếp cận sống động và ngất ngây nhân tính của Thiên Chúa.
Sinh thời, Phan-xi-cô đoạn giao với quyền lãnh chúa trong Giáo Hội, cuộc chiến tranh phong kiến và các cuộc thánh chiến, não trạng gia trưởng trong đan viện, và tất cả mọi hình thức thống trị. Hôm nay, người vẫn đi trong chiều hướng đó, nhưng chắc chắn người còn đi xa hơn. Bằng cách trung thành với Tin Mừng được đọc lại và nhận thức dưới ánh sáng của những tiếng kêu gào trong thời đại chúng ta. Bằng cách trung thành với sự khiêm hạ của Thiên Chúa, nhân tính của Thiên Chúa không ngừng được chiêm ngưỡng trong Đức Ki-tô và từ đó việc Người tỏ lộ sẽ đi đôi với việc kiến tạo một huynh đoàn nhân loại luôn luôn đích thật hơn, rộng mở hơn và tôn trọng hình ảnh Thiên Chúa nơi con người hơn.