Ý Kiến Một Giáo Dân Về Vấn Ðề Linh Mục Lấy Vợ.
Tôi không nhớ rõ ở vào cái thời điểm nào, có lẽ đã lâu, lâu lắm, khi tôi mới có trí khôn, lần đầu tiên tôi được nghe giảng rằng trong mọi loài, mọi vật mà Thiên Chúa tạo ra, con người được Ngài cho làm sinh vật cao cấp nhất. Cùng với thời gian trôi qua, khi mà trí khôn tôi phát triển tốt hơn, thì tôi lại được nghe giảng rằng con người được Thiên Chúa ban cho những quyền tự do, kể cả tự do theo Chúa cũng như không theo Chúa. Và chúng ta, những người theo Chúa phải cố gắng sống theo lời Chúa, phải làm gương tốt để đưa những người anh em không theo Chúa, hoặc chưa biết đến Chúa, về với Chúa. Tương tự như vậy, Chúa cũng ban cho con người một quyền tự do khác nữa. Ðó là quyền tự do đi tu hay không đi tu.
Quả vậy, theo sức hiểu biết hạn hẹp của tôi, trước khi về trời, Chúa Giê Su chỉ phán với các tông đồ: “Hãy đi và rao giảng tin mừng cho mọi người”, Chúa không hề nói là phải đi tu, phải có chức này, chức nọ mới được rao giảng tin mừng của Chúa. Tôi chưa từng có cơ hội đọc lịch sử Giáo-hội Chúa, nhưng tôi nghĩ rằng tất cả cái cơ chế của Giáo-hội là do Giáo-hội xây dựng nên, Chúa không hề tạo ra một cơ chế nào cho Giáo-hội trước khi về trời cả. Và chúng ta, những người tin Chúa và theo Chúa, cũng đặt niềm tin nơi những vị trong Giáo-hội, được trao cho quyền thay mặt Chúa ở trần gian để chăn dắt đàn chiên Chúa và mở rộng Nước Chúa. Về vấn đề đi tu để trở thành Linh-mục và dần dần có thể lên những chức vị cao hơn, cũng như để trở thành các Ma-sơ, tôi tin rằng Giáo-hội cũng không hề bắt buộc một người nam hay một người nữ nào phải làm điều đó. Việc đi tu là tự nguyện.
Thực vậy, việc đi tu là tự nguyện. Những người đi tu để trở thành các đấng chăn chiên, chúng ta thuờng nói rằng họ đưọc “ơn kêu gọi”. Yếu tố khách quan khiến một người có quyết định đi tu, nếu có, chỉ là một sự khuyến khích, có thể từ gia đình, có thể từ bạn bè, cũng có thể từ các cộng đồng. Nhưng quyết định vẫn do chính các đương sự, một quyết định cao cả nguyện hiến dấng trọn đời mình cho Chúa và cho Giáo-hội Chúa. Quyết định đi tu cũng có thể do những nguyên nhân khác mà chỉ người trong cuộc mới hiểu rõ. Khi tôi được mười một tuổi, gia đình đang sống trong vùng “giải phóng”, hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, mẹ tôi có ý muốn tôi đi tu. Ðó là sự khuyến khích vì hoàn cảnh kinh tế, nói rõ hơn là vì nghèo. Tôi hay ra vào nhà xứ, gần gũi các thầy, vào ban hát và tập hát bằng tiếng la-tinh, thấy cái không khí nó “thanh thản” hơn cuộc sống bên ngoài, nên cũng muốn đi tu. Mẹ tôi bèn nhờ người thưa với cha chánh xứ nhưng ngài từ chối. Tôi còn nhớ câu ngài nói: “Trong hoàn cảnh này, Cha không muốn mang con đi bỏ chợ”. Ngài từ chối cũng vì lý do kinh tế, vì chủng viện không đủ tiền, hay tôi không được “ơn kêu gọi”.
Tôi nghĩ rằng nếu vì chán cuộc sống bên ngoài, hay thất vọng gì đó, mà một người đã trưởng thành quyết định đi tu, coi vậy mà không khó. Cái khó nhất, cái cao cả nhất chính là quyết định dâng trọn cuộc đời cho Chúa của một cá nhân có cuộc sống đầy đủ, cuộc sống như mơ, trong một xã hội sung túc, nhiều cám dỗ. Thật vậy, trong một xã hội còn nhiều vấn đề như xã hội Việt Nam ta, chúng ta thỉnh thoảng lại nghe “Thà rằng đi tu.”, “Ði tu quách”, “Ði tu cho rảnh”. Theo ý kiến cá nhân, trong một xã hội có nhiều vấn đề như vậy, nổi bật là vấn đề kinh tế, việc tuyển sinh không khó lắm, nhưng chính các chủng viện cũng không đủ sức chứa vì thiếu tiền bạc. Việc “tuyển sinh” trong hai xã hội giàu nghèo, vi vậy, cũng có những nét khác nhau. Chúng ta không nên khắt khe khi cho rằng đi tu vì “có vấn đề” thì không quý bằng đi tu “không có vấn đề”. Tôi nghĩ rằng khi được gần Chúa hơn, suy niệm về Chuá nhiều hơn, hiểu Chúa hơn, yêu Chúa hơn, thì các vấn đề sẽ tan biến đi, để rồi chỉ còn lại một vấn đề duy nhất “dâng trọn cuộc đời”. Tôi có một người cháu họ, từng là Sĩ-quan Hải-quân trong QLVNCH. Sau di tản, cháu tôi đi tu và trở thành linh mục. Tôi thật cảm động khi nghe tin này. Trong chiến tranh, trong khó khăn, cháu tôi tham gia việc đời. Hết chiến tranh, hết khó khăn, thay vì hưởng thụ, cháu tôi lại dâng trọn cuộc đời cho Chúa. Tôi cũng có một người bạn, gia đình vượt biên qua Mỹ, sau bao gian nan để sang được đất nước này, gia đình lại dâng cho Chúa hai vị linh mục. Thật là cao quý. Không ai bắt buộc họ cả. Họ tự nguyện, tự nguyện từ bỏ những giá trị vật chất sẽ chóng qua đi, để đạt tới một giá trị tinh thần cao quý và vĩnh cửu: Chăn dắt đàn chiên Chúa.
Như vậy những người dâng trọn cuộc đời để trở thành các đấng chăn chiên, chăn dắt đàn chiên Chúa, là tự nguyện, dù cho có chút vướng mắc lúc ban đầu. Thế tại sao lại có vấn đề “linh mục lấy vợ”, bỏ đi điều khấn hứa quan trọng trong việc “dâng trọn cuộc đời”. “Linh mục có vợ” chắc chắn sẽ làm giảm cái cao quý, và chắc chắn làm giảm sự kính trọng chức năng linh mục. Và đương nhiên, việc “dâng trọn cuộc đời” không còn đúng nghĩa nữa. Giả thử một linh mục được phép có vợ, tôi sẽ gọi vợ của linh mục là gì? Bà linh mục ư? Bà có đi tu bao giờ? Tôi gọi ông là Cha thì tôi gọi bà là Mẹ ư? Cũng không ổn. Giả thử khi một giáo dân cần đến ông thì ông đang bận lo chuyện gì đấy cho vợ con ông? Hay giáo dân chúng ta phải lo cho vợ con ông để ông “dành trọn” thời giờ cho Chúa, cho Giáo-hội?
Theo ý kiến cá nhân tôi thì vấn đề không phức tạp như chúng ta thoạt nghĩ. Chúng ta cũng không nên coi đó là một sự “khủng hoảng” hay một sự “băng hoại” trong Giáo-hội. Ðã “tự nguyện”, đã hứa “dâng trọn cuộc đời” thì dứt khoát không thể bị ràng buộc bởi “bất cứ cái gì”. Ðơn giản chỉ có vậy. Và khi cảm thấy không còn có thể giữ trọn lời hứa thì trả lại chức linh mục cho Giáo-hội, trở về cuộc sống bình thường của một giáo dân. Tôi tin rằng Chúa sẽ tha thứ, giáo dân sẽ thông cảm, vì linh mục “cũng là con người” như chúng ta thường nói và thường nghe nói. Ðiều này đã xảy ra cách đây mấy chục năm trong Giáo-hội Việt Nam, khi có vị linh mục đã cởi áo, trả chức cho Giáo-hội, để đi lấy vợ. Chúng ta đã đau lòng nhưng thà vậy còn hơn vì đó là hành động đúng. Ở lại mà “luộm thuộm” mới là tội lỗi, mới là lường gạt. Chúa không phạt ngay vì nếu Chúa phạt ngay thì không ai dám phạm tội cả. Ðối với những người có lương tâm thì khi làm một điều gì sai trái, trước hết lương tâm mình biết và lương tâm mình sẽ cắn rứt trọn cuộc đời, mặc dầu không ai biết việc làm sai trái của mình. Cái vấn đề nó có rắc rối chính là vì các vị vừa muốn ở lại chức linh mục lại vừa muốn có vợ. Dân gian có thể đặt câu hỏi: “Như vậy ‘ông’ có gì đặc biệt, có gì nổi bật, để chúng tôi phải gọi ‘ông’ là ‘Cha’, ‘ông’ cũng là con người như chúng tôi mà”. Tiếng Việt phong phú, xưng hô bằng cách khác sẽ thấy ngay sự kính trọng đã giảm đi. Tôi còn nhớ những ngày còn nhỏ, mẹ tôi dạy tôi rằng khi gặp các Cha thì phải cúi đầu, vòng tay, và thưa “Xin phép lạy Cha”. Chúng ta thấy ngày xưa các vị còn được kính trọng hơn trong thế giới văn minh ngày nay như thế nào. Ðã “lạy” còn phải “xin phép”. Tôi cũng nghĩ rằng ngay cả ngày nay, “xin phép” rồi mới “lạy” vẫn còn tồn tại ở đâu đó. (còn một kỳ)
Tôi không nhớ rõ ở vào cái thời điểm nào, có lẽ đã lâu, lâu lắm, khi tôi mới có trí khôn, lần đầu tiên tôi được nghe giảng rằng trong mọi loài, mọi vật mà Thiên Chúa tạo ra, con người được Ngài cho làm sinh vật cao cấp nhất. Cùng với thời gian trôi qua, khi mà trí khôn tôi phát triển tốt hơn, thì tôi lại được nghe giảng rằng con người được Thiên Chúa ban cho những quyền tự do, kể cả tự do theo Chúa cũng như không theo Chúa. Và chúng ta, những người theo Chúa phải cố gắng sống theo lời Chúa, phải làm gương tốt để đưa những người anh em không theo Chúa, hoặc chưa biết đến Chúa, về với Chúa. Tương tự như vậy, Chúa cũng ban cho con người một quyền tự do khác nữa. Ðó là quyền tự do đi tu hay không đi tu.
Quả vậy, theo sức hiểu biết hạn hẹp của tôi, trước khi về trời, Chúa Giê Su chỉ phán với các tông đồ: “Hãy đi và rao giảng tin mừng cho mọi người”, Chúa không hề nói là phải đi tu, phải có chức này, chức nọ mới được rao giảng tin mừng của Chúa. Tôi chưa từng có cơ hội đọc lịch sử Giáo-hội Chúa, nhưng tôi nghĩ rằng tất cả cái cơ chế của Giáo-hội là do Giáo-hội xây dựng nên, Chúa không hề tạo ra một cơ chế nào cho Giáo-hội trước khi về trời cả. Và chúng ta, những người tin Chúa và theo Chúa, cũng đặt niềm tin nơi những vị trong Giáo-hội, được trao cho quyền thay mặt Chúa ở trần gian để chăn dắt đàn chiên Chúa và mở rộng Nước Chúa. Về vấn đề đi tu để trở thành Linh-mục và dần dần có thể lên những chức vị cao hơn, cũng như để trở thành các Ma-sơ, tôi tin rằng Giáo-hội cũng không hề bắt buộc một người nam hay một người nữ nào phải làm điều đó. Việc đi tu là tự nguyện.
Thực vậy, việc đi tu là tự nguyện. Những người đi tu để trở thành các đấng chăn chiên, chúng ta thuờng nói rằng họ đưọc “ơn kêu gọi”. Yếu tố khách quan khiến một người có quyết định đi tu, nếu có, chỉ là một sự khuyến khích, có thể từ gia đình, có thể từ bạn bè, cũng có thể từ các cộng đồng. Nhưng quyết định vẫn do chính các đương sự, một quyết định cao cả nguyện hiến dấng trọn đời mình cho Chúa và cho Giáo-hội Chúa. Quyết định đi tu cũng có thể do những nguyên nhân khác mà chỉ người trong cuộc mới hiểu rõ. Khi tôi được mười một tuổi, gia đình đang sống trong vùng “giải phóng”, hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn, mẹ tôi có ý muốn tôi đi tu. Ðó là sự khuyến khích vì hoàn cảnh kinh tế, nói rõ hơn là vì nghèo. Tôi hay ra vào nhà xứ, gần gũi các thầy, vào ban hát và tập hát bằng tiếng la-tinh, thấy cái không khí nó “thanh thản” hơn cuộc sống bên ngoài, nên cũng muốn đi tu. Mẹ tôi bèn nhờ người thưa với cha chánh xứ nhưng ngài từ chối. Tôi còn nhớ câu ngài nói: “Trong hoàn cảnh này, Cha không muốn mang con đi bỏ chợ”. Ngài từ chối cũng vì lý do kinh tế, vì chủng viện không đủ tiền, hay tôi không được “ơn kêu gọi”.
Tôi nghĩ rằng nếu vì chán cuộc sống bên ngoài, hay thất vọng gì đó, mà một người đã trưởng thành quyết định đi tu, coi vậy mà không khó. Cái khó nhất, cái cao cả nhất chính là quyết định dâng trọn cuộc đời cho Chúa của một cá nhân có cuộc sống đầy đủ, cuộc sống như mơ, trong một xã hội sung túc, nhiều cám dỗ. Thật vậy, trong một xã hội còn nhiều vấn đề như xã hội Việt Nam ta, chúng ta thỉnh thoảng lại nghe “Thà rằng đi tu.”, “Ði tu quách”, “Ði tu cho rảnh”. Theo ý kiến cá nhân, trong một xã hội có nhiều vấn đề như vậy, nổi bật là vấn đề kinh tế, việc tuyển sinh không khó lắm, nhưng chính các chủng viện cũng không đủ sức chứa vì thiếu tiền bạc. Việc “tuyển sinh” trong hai xã hội giàu nghèo, vi vậy, cũng có những nét khác nhau. Chúng ta không nên khắt khe khi cho rằng đi tu vì “có vấn đề” thì không quý bằng đi tu “không có vấn đề”. Tôi nghĩ rằng khi được gần Chúa hơn, suy niệm về Chuá nhiều hơn, hiểu Chúa hơn, yêu Chúa hơn, thì các vấn đề sẽ tan biến đi, để rồi chỉ còn lại một vấn đề duy nhất “dâng trọn cuộc đời”. Tôi có một người cháu họ, từng là Sĩ-quan Hải-quân trong QLVNCH. Sau di tản, cháu tôi đi tu và trở thành linh mục. Tôi thật cảm động khi nghe tin này. Trong chiến tranh, trong khó khăn, cháu tôi tham gia việc đời. Hết chiến tranh, hết khó khăn, thay vì hưởng thụ, cháu tôi lại dâng trọn cuộc đời cho Chúa. Tôi cũng có một người bạn, gia đình vượt biên qua Mỹ, sau bao gian nan để sang được đất nước này, gia đình lại dâng cho Chúa hai vị linh mục. Thật là cao quý. Không ai bắt buộc họ cả. Họ tự nguyện, tự nguyện từ bỏ những giá trị vật chất sẽ chóng qua đi, để đạt tới một giá trị tinh thần cao quý và vĩnh cửu: Chăn dắt đàn chiên Chúa.
Như vậy những người dâng trọn cuộc đời để trở thành các đấng chăn chiên, chăn dắt đàn chiên Chúa, là tự nguyện, dù cho có chút vướng mắc lúc ban đầu. Thế tại sao lại có vấn đề “linh mục lấy vợ”, bỏ đi điều khấn hứa quan trọng trong việc “dâng trọn cuộc đời”. “Linh mục có vợ” chắc chắn sẽ làm giảm cái cao quý, và chắc chắn làm giảm sự kính trọng chức năng linh mục. Và đương nhiên, việc “dâng trọn cuộc đời” không còn đúng nghĩa nữa. Giả thử một linh mục được phép có vợ, tôi sẽ gọi vợ của linh mục là gì? Bà linh mục ư? Bà có đi tu bao giờ? Tôi gọi ông là Cha thì tôi gọi bà là Mẹ ư? Cũng không ổn. Giả thử khi một giáo dân cần đến ông thì ông đang bận lo chuyện gì đấy cho vợ con ông? Hay giáo dân chúng ta phải lo cho vợ con ông để ông “dành trọn” thời giờ cho Chúa, cho Giáo-hội?
Theo ý kiến cá nhân tôi thì vấn đề không phức tạp như chúng ta thoạt nghĩ. Chúng ta cũng không nên coi đó là một sự “khủng hoảng” hay một sự “băng hoại” trong Giáo-hội. Ðã “tự nguyện”, đã hứa “dâng trọn cuộc đời” thì dứt khoát không thể bị ràng buộc bởi “bất cứ cái gì”. Ðơn giản chỉ có vậy. Và khi cảm thấy không còn có thể giữ trọn lời hứa thì trả lại chức linh mục cho Giáo-hội, trở về cuộc sống bình thường của một giáo dân. Tôi tin rằng Chúa sẽ tha thứ, giáo dân sẽ thông cảm, vì linh mục “cũng là con người” như chúng ta thường nói và thường nghe nói. Ðiều này đã xảy ra cách đây mấy chục năm trong Giáo-hội Việt Nam, khi có vị linh mục đã cởi áo, trả chức cho Giáo-hội, để đi lấy vợ. Chúng ta đã đau lòng nhưng thà vậy còn hơn vì đó là hành động đúng. Ở lại mà “luộm thuộm” mới là tội lỗi, mới là lường gạt. Chúa không phạt ngay vì nếu Chúa phạt ngay thì không ai dám phạm tội cả. Ðối với những người có lương tâm thì khi làm một điều gì sai trái, trước hết lương tâm mình biết và lương tâm mình sẽ cắn rứt trọn cuộc đời, mặc dầu không ai biết việc làm sai trái của mình. Cái vấn đề nó có rắc rối chính là vì các vị vừa muốn ở lại chức linh mục lại vừa muốn có vợ. Dân gian có thể đặt câu hỏi: “Như vậy ‘ông’ có gì đặc biệt, có gì nổi bật, để chúng tôi phải gọi ‘ông’ là ‘Cha’, ‘ông’ cũng là con người như chúng tôi mà”. Tiếng Việt phong phú, xưng hô bằng cách khác sẽ thấy ngay sự kính trọng đã giảm đi. Tôi còn nhớ những ngày còn nhỏ, mẹ tôi dạy tôi rằng khi gặp các Cha thì phải cúi đầu, vòng tay, và thưa “Xin phép lạy Cha”. Chúng ta thấy ngày xưa các vị còn được kính trọng hơn trong thế giới văn minh ngày nay như thế nào. Ðã “lạy” còn phải “xin phép”. Tôi cũng nghĩ rằng ngay cả ngày nay, “xin phép” rồi mới “lạy” vẫn còn tồn tại ở đâu đó. (còn một kỳ)