Giáo Dân Trưởng Thành - Đề tài 3
TỪ GIÁO HỘI LÀ “MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG”
LÀ “CỘNG ĐOÀN DÂN CHÚA”,
ĐẾN “GIÁO HỘI LÀ CỘNG ĐOÀN MÀ TRONG ĐÓ
MỌI NGƯỜI CÓ PHẦN VÀ PHẢI GÓP PHẦN
(PARTICIPATORY CHURCH)”
A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Giúp các học viên nắm bắt được những nét chính yếu và nổi bật nhất trong Giáo hội học ngày nay. Từ sau Công Đồng Vatican II, mỗi khi nói đến Giáo hội thì người ta không thể không trình bày Giáo hội là mầu nhiệm hiệp thông, là cộng đoàn Dân Chúa và là cộng đoàn mà trong đó mọi người có phần và phải góp phần (Trong ngôn ngữ tiếng anh là Participatory Church: có người dịch là Giáo hội tham gia).
B. TIẾP CẬN VẤN ĐỀ
I. PHẦN THAM GIA CỦA HỌC VIÊN:
1. Khi nói đến Giáo hội Công giáo, anh chị nghĩ đến cái gì trước nhất: cơ sở vật chất đồ sộ, tổ chức vững mạnh chặt chẽ, thành tích vẻ vang, tinh thần bất khuất hay điều gì khác?
2. Tại sao trước Công đồng Vatican II người ta thường trình bày Giáo hội bằng hình kim tự tháp: Đức Giáo hoàng ở trên đỉnh cao chót vót; dưới ngài là các tầng khác nhau dành cho các giám mục, linh mục, tu sĩ và dưới cùng, ở đáy kim tự tháp mới là giáo dân. Hình ảnh ấy làm nổi bật điều gì? Có phù hợp với thực tại Giáo hội không? Tại sao?
3. Ngày nay Giáo hội thường được trình bày là cộng đoàn Dân Chúa, là mầu nhiệm hiệp thông, là cộng đoàn mà trong đó mọi người có phần và phải góp phần (Giáo hội tham gia). Cách trình này mới này đúng hay sai? Tại sao? Anh chị thử dùng một hình vẽ để trình bày Giáo hội theo quan điểm của Vatican II.
II. PHẦN DẪN Ý CỦA HƯỚNG DẪN VIÊN:
Quan điểm Thần học Công giáo phổ biến trước Công đồng Vatican II xem Giáo hội là hình ảnh Chúa Kitô. Đây là một quan niệm mà nhà thần học Y. Congar gọi là “Kitô nhất nguyên: Christomonisme”, nghĩa là đặt quá nặng vào khía cạnh cơ chế hữu hình mà bỏ quên mặt mầu nhiệm và bí tích của Giáo hội. Chính hai chiều kích sau này mới thực là điểm đầy ơn ích, còn mặt cơ chế chỉ là diện, tức mặt nổi bên ngoài.
Sở dĩ nền Giáo hội học tiền Công đồng đi tới quan niệm thiếu sót đó là vì nhiều lý do:
- Sau khi được vua Constantin cho tự do, Giáo hội từ thế kỷ thứ 4 trở đi phát triển rất mạnh, tới độ cuối cùng đồng hóa luôn thế quyền vào giáo quyền. Phẩm trật cũng theo đó mà phát triển và uy quyền của một số hồng y, giám mục trở nên như những lãnh chúa.
- Càng phản ứng lại các thuyết đề cao mặt mầu nhiệm vô hình của Giáo hội cũng như chống lại chủ nghĩa bảo hoàng (muốn qui phục thần quyền vào thế quyền) Giáo hội thời Trung cổ lại càng cương lên về mặt cơ chế.
Cho đến thế kỷ XX Giáo hội học dường như chỉ là những phản ứng chống đỡ các trào lưu bên ngoài, nhưng dựa trên một nền tảng phát triển đã mang phần lệch lạc. Tuy nhiên, bước vào thế kỷ XX, nhất là kể từ sau hai cuộc chiến thế giới, với khủng hoảng niềm tin vào cơ chế, với khuynh hướng quay về với tôn giáo sau những thất vọng của con người về lịch sử đồng thời với sự thay đổi tâm thức của con người (khuynh hướng tục hóa gia tăng), Giáo hội đã quay trở về với chính mình, nhận chân và suy gẫm những khiếm khuyết sai lầm và nhất quyết trở về lại tinh thần Phúc âm ban đầu qua cuộc triệu tập Công đồng Vatican II. Công đồng Vatican II, vì vậy, có thể nói là một Công đồng về Giáo hội. Giáo hội được quan niệm lại và toàn bộ nội dung được đúc kết trong hai Hiến chế: “Anh sáng muôn dân” (Lumen Gentium) và “Vui mừng và hy vọng” (Gaudium et Spes). Lumen Gentium nói lên tính chất huyền nhiệm và bí tích, Gaudium et Spes diễn tả khía cạnh hữu hình nhập thế của Giáo hội.
(Tài liệu Hướng dẫn Khóa Đào tạo cơ bản, Định Hướng Tùng Thư 1996, trang 9-11).
C. HỌC HỎI THÁNH KINH & CÔNG ĐỒNG
I. GIÁO HỘI LÀ MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG
1.1 Nền tảng Thánh Kinh:
* Con không chỉ cầu nguyện cho những người này nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, dế tất cả nên một , như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ ở trong chúng ta. Như vậy thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,20-21);
* “Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Kitô Giêsu, Đấng đã tự hiến làm gía chuộc mọi người ” (1 Tm 2,5-6);
* “Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng; thì chúng ta cũng vậy: tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Kitô, ai nấy liên đới với nhau như những bộ phận của một thân thể. Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tùy theo ân sủng Chúa ban cho mỗi người” (Rm 12, 4-6);
* “Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được đồng tâm nhất trí với nhau, như Đức Kitô đòi hỏi. Nhờ đó, anh em sẽ có thể hiệp ý đồng thanh mà tôn vinh Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 15, 5-6);
* “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau…..Họ đồng tâm nhất trí…” (Cv 2,44.45 );< br> * “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo mà chỉ có một lòng một ý …”( Cv 4,32 ).< br> 1.2 Giáo huấn của Công đồng:
“Vì Giáo hội ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại, nên dựa trên giáo huấn của các Công đồng trước, Giáo hội muốn làm sáng tỏ bản tính và sứ mệnh phổ quát của mình cho tín hữu và toàn thế giới…..
“Bởi ý định khôn ngoan nhân lành, hoàn toàn tự do và mầu nhiệm Chúa Cha hằng hữu đã tạo dựng vũ trụ; Ngài dã quyết định nâng loài người lên tham dự đời sống thần linh, và Ngài đã không từ bỏ con người sa ngã trong Ađam, nhưng luôn ban sự trợ giúp để họ được cứu rỗi, nhờ Chúa Kitô Đấng Cứu thế, là ‘hình ảnh Thiên Chúa vô hình, Con đầu lòng của tạo vật ‘ (Cl 1,15). Thực vậy, từ muôn thuở tất cả mọi người được tuyển chọn, Chúa Cha ‘đã biết trước và đã tiền định cho họ trở nên giống hình ảnh Con Chúa hầu người Con đó được trở nên trưởng tử trong nhiều anh em’ (Rm 8,29). Thế nên Chúa Cha muốn qui tụ những ai tin kính Chúa Kitô vào trong Giáo hội”……
“Như thế Giáo hội phổ quát xuất hiện như một dân tộc hiệp nhất do sư hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 1.2.4).
1.3 Khai triển của Tông huấn “Giáo hội tại châu Á”:
“Vì Thiên Chúa đã muốn «toàn thể nhân loại trở thành một Dân của Thiên Chúa, làm nên một Thân Thể của Đức Kitô và được xây dựng thành một đền thờ của Chúa Thánh Thần nên trong thế giới này, Giáo Hội chính là «kế hoạch hữu hình của tình thương Thiên Chúa đối với nhân loại, là bí tích của ơn cứu độ» Bởi đó, không thể hiểu Giáo Hội như là một tổ chức xã hội hay cơ quan phúc lợi xã hội. Dù còn gồm chứa nhiều người tội lỗi, Giáo Hội vẫn phải được coi là môi trường ưu việt cho Thiên Chúa và con người gặp gỡ nhau, cũng là nơi Thiên Chúa chọn mặc khải đời sống mầu nhiệm sâu xa của Ngài và thực hiện chương trình cứu độ thế giới.
“Mầu nhiệm kế hoạch tình yêu ấy của Thiên Chúa đã hiện diện và hoạt động trong chính cộng đoàn những người đã từng nhờ phép Rửa mà cùng được mai táng trong cái chết với Đức Kitô, để rồi cũng như Đức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết nhờ vinh quang của Chúa Cha, họ cũng được bước đi trong cuộc sống mới (x. Rm 6,4). Trọng tâm của mầu nhiệm Giáo hội chính là mối hiệp thông nối kết Đức Kitô Lang Quân với mọi người đã lãnh nhận phép Rửa. Nhờ sự hiệp thông sống động và có khả năng đem lại sự sống ấy, «các Kitô hữu không còn thuộc về mình nữa, nhưng thuộc hẳn về Chúa» Một khi kết hợp với Chúa Con trong mối dây yêu thương của Thánh Thần, các Kitô hữu cũng kết hợp với Chúa Cha, và từ sự hiệp thông này mà các Kitô hữu được hiệp thông với nhau qua Đức Kitô trong Thánh Thần” Nếu thế, mục tiêu trước tiên của Giáo Hội là phải sống bí tích biểu hiện sự kết hiệp thâm sâu của con người với Thiên Chúa và, vì sự hiệp thông giữa con người với nhau xuất phát từ sự hiệp thông của họ với Thiên Chúa nên Giáo hội cũng là bí tích của sự hiệp nhất của nhân loại. Nơi Giáo hội sự hiệp nhất ấy đã khởi sự. Nhưng Giáo hội cũng đồng thời «là dấu chỉ và là dụng cụ» của sự hiệp nhất sẽ được hoàn thành trong tương lai.
“Một đòi hỏi thiết yếu của đời sống trong Đức Kitô là bất cứ ai hiệp thông với Chúa thì phải sinh hoa kết quả: «Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái » (Ga 15,5). Như thế, cũng đúng khi bảo rằng ai không sinh hoa kết quả, thì người ấy đã không ở trong sự hiệp thông: «Cành nào không sinh hoa trái thì (Cha Thầy) sẽ tỉa đi» (Ga 15,2). Hiệp thông với Đức Giêsu, và từ đó phát sinh sự hiệp thông giữa các Kitô hữu với nhau, chính là điều kiện rất cần thiết để sinh hoa kết quả; và sự hiệp thông với người khác, một món quà của Đức Kitô và Thánh Thần, chính là hoa quả tuyệt vời mà cành cây có thể sinh ra. Hiểu như thế thì hiệp thông và truyền giáo là hai việc không thể tách rời nhau. Chúng thấm nhập và bao hàm lẫn nhau đến nỗi «hiệp thông vừa là gốc vừa là hoa quả của truyền giáo: hiệp thông phát sinh truyền giáo và truyền giáo được hoàn thành trong hiệp thông» (số 24 ).< br>
II. GIÁO HỘI LÀ CỘNG ĐOÀN DÂN CHÚA
2.1 Nền tảng Thánh Kinh:
“Này đây sẽ tới ngày Ta ký giao ước mới với nhà Israel và nhà Giuđa…Ta sẽ ban luật Ta trong lòng chúng và khắc ghi luật ấy vào trái tim chúng và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, và chúng sẽ trở thành dân Ta….Tất cả những người từ nhỏ chí lớn đều nhận biết Ta. Đó là Lời Chúa phán” (Gr 31, 32-34, được “Anh sáng muôn dân” số 9 trích lại).
2.2 Giáo huấn của Công Đồng:
“Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi loài người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn qui tụ họ thành một dân tộc để họ nhận biết chính Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài trong thánh thiện. Vì thế Ngài đã chọn dân Israel là dân Ngài, đã thiết lập với họ một giao ước, giáo huấn họ dần dần bằng cách tỏ chính mình và ý định mình qua lịch sử ấy, và Ngài đã thánh hóa họ để dành riêng cho mình. Tuy nhiên tất cả những điều ấy chỉ là chuẩn bị và hình bóng của giao ước mới và hoàn hảo, sẽ được ký kết trong Đức Kitô, và là chuẩn bị cho mạc khải trọn vẹn hơn do chính Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể mang đến…..
“Chúa Kitô đã thiết lập minh ước mới trong máu Người (x. 1 Cr 11,25), Người triệu tập dân chúng từ dân Israel và từ các dân ngoại, họp thành một khối duy nhất trong Thánh Thần chứ không theo xác thịt, để làm họ nên dân tộc mới của Thiên Chúa ”
(Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9)
2.3 Đặc điểm của Dân Chúa:
2.3.1 Dân Chúa có Đức Giêsu Kitô là thủ lãnh, là đầu:
“Dân thiên sai này có vị thủ lãnh là Chúa Kitô, “Đấng đã bị nộp vì tội lỗi ta và phục sinh cho ta nên công chính” (Rm 4,25) và bây giờ Người được một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu và đang hiển trị trên trời”
(Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9).
2.3.2 Dân Chúa có địa vị:
“Là được vinh dự và tự do làm con Thiên Chúa và Thánh Thần ngự trong tâm hồn họ như trong đền thờ”
(Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9).
“Những ai tin kính Chúa Kitô….được trở thành một dòng giống dược tuyển chọn, thành hàng tư tế vương gỉa, dân tộc thánh, dân tộc được Thiên Chúa thu phục
(x. 1 Pr 2,9-10; Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9).
2.3.3 Luật của Dân Chúa:
“Luật của họ là giới răn mới: phải yêu thương nhau như chính Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta
(x. Ga 13, 34; Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9 ).< br> 2.3.4 Cứu cánh của Dân Chúa:
“Cứu cánh của họ tức là phát triển thêm Nước Thiên Chúa, đã được Ngài khai nguyên trên trần gian, cho tới khi được Ngài hoàn tất trong ngày tận thế”
(Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9 ).< br> 2.3.5 Dân Chúa tham dự chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Giêsu Kitô:
“Chức linh mục cộng đồng của các tín hữu và chức linh mục thừa tác hay phẩm trật cùng tham dự vào chức linh mục duy nhất của Chúa Kitô theo cách riêng của mình. ……Phần tín hữu, nhờ chức linh mục vương giả, cộng tác dâng thánh lễ và thi hành chức vụ đó trong việc lãnh nhận các bí tích, khi cầu nguyện và tạ ơn, bằng đời sống chứng tá thánh thiện, bằng sự từ bỏ và bác ái tích cực”
“Dân thánh Thiên Chúa cũng tham dự vào chức vụ tiên tri của Chúa Kitô bằng cách phổ biến chứng tá sống động về Người, nhất là qua đời sống đức tin và đức ái; và dâng lên Thiên Chúa của lễ ca tụng, hoa trái của những miệng lưỡi ngợi khen thánh Danh Người (x. Dt 13,15).
III. GIÁO HỘI LÀ CỘNG ĐOÀN MÀ TRONG ĐÓ MỌI NGƯỜI CÓ PHẦN VÀ PHẢI GÓP PHẦN
3.1 Nền tảng Thánh Kinh:
* Dụ ngôn những nén bạc:
“Quả thế, cũng như người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ riêng của mình đến mà giao phó của cải mình cho họ. Ong cho người này năm nén, người kia hai nén, người khác nữa một nén, tùy khả năng riêng mỗi người. Rồi ông ra đi. Lập tức, người đã lãnh năm nén lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm nén khác. Cũng vậy, người đã lãnh hai nén gây lời được hai nén khác. Còn người đã lãnh một nén thì đi đào lỗ chôn giấu số bạc cuả chủ …..” (Mt 25,14-30).
* Một Thân Thể, một Thần Khí, một Phép Rửa…. nhiều ân sủng:
“Chỉ có một Thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được ơn để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người và trong mọi người.
Nhưng mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tùy theo mức độ Đức Kitô ban cho …(Ep 4, 4-7).
* Đặc sủng tuy nhiều, nhưng chung một gốc:
“Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người mỗi cách, là vì ích chung …….” (1 Cr 12,4-30).
3.2 Giáo huấn của Công Đồng:
“ Giáo hữu được qui tụ trong Dân Thiên Chúa và cấu thành Thân Thể duy nhất của Chúa Kitô dưới quyền của một Đầu duy nhất; dù họ là ai, họ vẫn được kêu gọi dùng hết sức lực đã nhận lãnh do lòng từ ái của Đấng Tạo Hóa và do ân huệ Đấng Cứu Thế để như những chi thể sống động, phát triển và thánh hóa Giáo hội không ngừng”
(Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 33).
3.3 Triển khai tại châu Á:
Khái niệm Giáo hội mà trong đó mọi người có phần và góp phần (cũng được gọi là Giáo hội tham gia hay dự phần) được Liên Hội đồng Giám mục Á châu và các Giáo hội tại châu Á rất coi trọng và triển khai trong việc thiết lập cơ cấu mục vụ (Hội đồng linh mục, Hội đồng mục vụ giáo phận, Hội đồng mục vụ giáo xứ) và xây dựng cộng đoàn (cộng đoàn Giáo hội cơ bản, cộng đoàn nhân sinh cơ bản). Khi triển khai “tính tham gia” hay “dự phần” của mọi thành phần Dân Chúa vào việc thực thi sứ mạng của Giáo hội, Giáo hội vừa sống tính mầu nhiệm hiệp thông và tính cộng đoàn Dân Chúa của Giáo hội vừa áp dụng tính dân chủ - là một trong những đặc trưng của xã hội văn minh - vào sinh hoạt của Giáo hội.
D. THẢO LUẬN & ỨNG DỤNG
“Giáo hội là cộng đoàn hiệp thông, cộng đoàn Dân Chúa, cộng đoàn mà trong dó mọi người có phần và phải góp phần.”
1. Nhìn vào cách tổ chức và cách sống của gia đình mình:
1.1 Anh chị thấy có những nét nào làm nổi bật thực tại ấy?
1.2 Anh chị thấy có những nét nào đối nghịch với thực tại ấy?
1.3 Anh chị quyết tâm điều chỉnh gì để gia đình mình thể hiện rõ nét hơn tính hiệp thông, tính cộng đoàn dân Chúa và tính ‘tham gia’ của mọi thành viên gia đình?
2. Nhìn vào cách tổ chức và cách sống của nhóm (chia sẻ Lời Chúa, công tác xã hội…) hay cộng đoàn mình (hội đoàn, tu hội đời, dòng tu):
2.1 Anh chị thấy có những nét nào làm nổi bật thực tại ấy?
2.2 Anh chị thấy có những nét nào đối nghịch với thực tại ấy?
2.3 Anh chị muốn đề nghị gì để nhóm hay cộng đoàn mình thể hiện rõ nét hơn tính hiệp thông, tính cộng đoàn dân Chúa và tính ‘tham gia’ của mọi thành viên nhóm hay cộng đoàn?
3. Nhìn vào cách tổ chức và cách sống của giáo xứ mình:
3.1 Anh chị thấy có những nét nào làm nổi bật thực tại ấy?
3.2 Anh chị thấy có những nét nào đối nghịch với thực tại ấy?
3.3 Anh chị muốn đề nghị gì để giáo xứ thể hiện rõ nét hơn tính hiệp thông, tính cộng đoàn dân Chúa và tính ‘tham gia’ của mọi thành phần giáo xứ?
4. Nhìn vào cách tổ chức và cách sống của giáo phận mình:
4.1 Anh chị thấy có những nét nào làm nổi bật thực tại ấy?
4.2 Anh chị thấy có những nét nào đối nghịch với thực tại ấy?
4.3 Anh chị muốn đề nghị gì để giáo phận thể hiện rõ nét hơn tính hiệp thông, tính cộng đoàn dân Chúa và tính ‘tham gia’ của mọi thành phần giáo phận?
Đ. TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU I:
NHỮNG CÁCH THỂ HIỆN GIÁO HỘI KHÁC TẠI CHÂU Á CỦA THẬP NIÊN 90
Năm 1990 là cột mốc quan trọng đối với tất cả các Giáo hội Công giáo tại á châu: từ ngày 17 đến 27 tháng 7 Liên Hiệp các Hội đồng Giám Mục á châu (FABC: Federation of Asian Bishops Conferences) đã tổ chức Đại Hội toàn thể lần thứ 5 tại Bandung, Indonesia. Mục tiêu của đại Hội này là “suy nghĩ và tìm ra con đường Giáo hội phải đi tại lục địa rộng lớn là châu á này ”. Đại Hội đã dựa vào một tài liệu rất có giá trị được Oswald Hirmer soạn thảo chu đáo và đầy đủ, để làm tài liệu cơ bản cho các buổi thảo luận trong Đại Hội. Tài liệu này có tựa đề là “Alternative waỵs of being Church in the Asia of the 1990's, tạm dịch là “NHỮNG CÁCH THỂ HIỆN GIÁO HỘI KHÁC TẠI CHÂU Á CỦA THẬP NIÊN 90”. Tài liệu chia làm hai chương:
- Năm giai đoạn tiêu biểu của một Giáo hội trưởng thành.
- Chia sẻ Lời Chúa là một cách khác để thể hiện Giáo Hội.
*
* *
NĂM GIAI ĐOẠN TIÊU BIỂU CỦA MỘT GIÁO HỘI TRƯỞNG THÀNH
“Một Giáo hội trưởng thành ” vừa là ước mơ, vừa là mục tiêu cụ thể của rất nhiều người trong Giáo hội, từ giáo phẩm cho tới giáo dân. Trong suốt một thời gian dài, sinh hoạt của Giáo hội như dậm chân tại chỗ. Ai nấy đều có cảm tưởng là Giáo hội không cần phải thay đổi chi cả, vì đã hoàn hảo cả rồi! Nhưng Công đồng Vaticanô II đã thổi một luồng gió mới vào trong Giáo hội. Mọi người như bừng tỉnh và khám phá ra rằng: lý tưởng của một Giáo hội cộng đoàn hiệp thông vẫn còn là một thực tại phải tìm kiếm và xây dựng. Chính vì vậy mà khắp đó đây xuất hiện bao tìm tòi, thử nghiệm, khám phá hết sức lý thú và phong phú.
Khi đối chiếu với thực tế Giáo hội, chúng ta sẽ nhanh chóng nhận ra rằng: Không nhất thiết là năm giai đoạn phát triển này phải giống hệt nhau nơi mỗi giáo xứ, giáo phận. Đàng khác một giáo xứ, giáo phận có thể vào nhiều giai đoạn khác nhau tùy theo từng lãnh vực khác nhau của đời sống Giáo hội. Nhưng dựa vào năm giai đoạn tiêu biểu này, chúng ta dễ dàng khám phá ra giáo xứ, giáo phận của mình đang ở đâu, và biết được giai đoạn tiếp theo là như thế nào. Điều này rất quan trọng, vì năm giai đoạn đây cũng là năm cách thức khác nhau thể hiện Giáo hội… từ thấp tới cao, từ thiếu sót đến hoàn hảo. nếu lấy Vaticanô II làm chuẩn.
Giai đoạn 1: Một Giáo Hội đóng vai người chu cấp tất cả
1. Hình vẽ tượng trưng:
Đây là giai đoạn đã qua, tuy chưa hẳn đã hoàn toàn qua, của một Giáo Hội mà vị linh mục là trung tâm, là người ban phát ân sủng và ban lệnh cho mọi người. Giữa các tín hữu với nhau, họ chỉ là những cá nhân riêng lẻ, rời rạc… Nếu có hội đoàn, thì hội đoàn ấy cũng chỉ quây quần ở bên lề cộng đoàn và chỉ biết lo cho những người trong nội bộ mà thôi…
2. Ghi chú lịch sử:
Thật hữu ích nếu chúng ta nhớ lại mô hình trên của Giáo hội đã được phát triển như thế nào trong quá khứ. Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn những khó khăn mà chúng ta phải đương đầu khi chúng ta muốn thực hiện bất kỳ nỗ lực nào nhằm thay đổi Giáo hội. Từ “giáo dân ” xuất phát từ từ Hy lạp Laos (nghĩa là dân) và từ này được Đức Giáo Hoàng Clêmentê I (93-97) sử dụng để phân biệt dân của Chúa với dân ngoại Ta Ethne.
Vào thế kỷ thứ III, các tu sĩ xuất hiện và đời sống tu trì sớm được coi là cách “hoàn hảo ” để thể hiện người kitô hữu. Giới tu sĩ xuất hiện như một loại “siêu ki tô hữu ”. Ngài Gratian, luật sư của Giáo bội đã tuyên bố thẳng thừng rằng “có hai loại ki tô hữu ”.
Đến thế kỷ thứ XI-XIII, với sự phát triển của giáo triều Rôma, giáo sĩ với giáo luật bước vào sân khấu. Một người giáo dân chẳng là cả, vì không có giáo luật mà cũng chẳng có uy tín. Vị mục tử trở thành ông chủ của đám tín hữu. Sự phân hóa giữa giáo sĩ và giáo dân thậm chí trở thành thù nghịch. Tông chỉ của Đức Bonifacio VIII có tựa đề “Giáo sĩ giáo dân ” (ngày 2 tháng 2 năm 1296) đã bắt đầu bằng những lời lẽ thế này: “Giáo dân là thù địch của giáo sĩ. Điều đó đã được minh chứng một cách mạnh mẽ trong quá khứ và lại được giảng dạy trong thời đại chúng ta hiện nay ”.
Giáo luật năm 1917 bảo đảm cho giáo dân quyền “được nhận từ giáo sĩ những ơn huệ thiêng liêng và sự hỗ trợ mạnh mẽ để được rỗi ” (Gl 682). Không có quyền nào khác được dành cho giáo dân trừ việc cho phép họ được dạy giáo lý (GL 1453-1455) và quyền quản lý quĩ của Giáo hội địa phương (GL 1562). Gánh nặng lịch sử của một hàng giáo dân “bị mất giá ” là di sản mục vụ của chúng ta và cần được ghi nhớ. Hàng thế kỷ của chế độ chu cấp cho tín hữu mọi ơn thiêng liêng cần thiết, mà không dành cho họ một quyền nào khác ngoài quyền được “nhận ”, đã để dấu ấn cho cả hàng giáo sĩ lẫn hàng giáo dân ngày nay.
Tuy nhiên các Nghị phụ Công đồng Vaticanô II đã cho chúng ta một cái nhìn mới về giáo dân và nhấn mạnh đến phẩm giá chung được mọi thành phần Giáo hội cùng nhau chia sẻ (LG 32).
Ngay cả trước Công đồng Vaticanô II, chúng ta nhận thấy sự đổi hướng trong “thần học của các vị giáo hoàng ”. Ngày 14 tháng 10 năm 1951, Đức Piô XII nhắn nhủ Đại Hội Thế giới lần I của Tông đồ giáo dân rằng: “Công giáo tiến hành… là công cụ trong tay hàng giáo phẩm và phải là cánh tay nối dài của hàng giáo phẩm, như đã xảy ra từ trước đến giờ ” (AAS 43,1951, trang 789). Tại Đại Hội thế giới lần 2 của chính tổ chức Tông đồ giáo dân này (ngày 5 tháng 10 năm 1957), Đức Piô XII đã sử dụng một ngôn ngữ khác: “Cách làm tông đồ này (Công giáo tiến hành) luôn luôn là cách làm tông đồ của hàng giáo dân và không được trở thành tông đồ của hàng giáo phẩm, ngay cả khi việc tông đồ ấy được thực hiện với sự uỷ nhiệm của Giáo hội ” (AAS 49,1957, trang 928).
Giai đoạn 2: Một Giáo Hội có hội đồng mục vụ giáo xứ
1. Hình vẽ tượng trưng:
Ở giai đoạn này, linh mục không còn đứng ở vị trí trung tâm nhà thờ, mà ngài ngồi cùng bàn với một nhóm người, được gọi là Hội đồng Mục vụ giáo xứ. Hội đoàn cũng chuyển từ vị trí bên cạnh nhà thờ vào vị trí giữa cộng đoàn. Các tín hữu đã tụ năm tụ ba, gắn bó với nhau hơn.
Sau Công đồng Vaticano II, Hội đồng Mục vụ giáo xứ được đưa vào rất nhiều xứ đạo trên toàn thế giới. HĐMVGX đã trở thành dấu chỉ của việc áp dụng một cái nhìn mới về Giáo hội mà Công đồng tuyên dương.
2. Một vài điểm pháp lý:
a/ Các Hội đồng ở cấp giáo phận:
Bộ Giáo luật đã tu chính nhắc đến 3 cơ cấu có tính tham vấn tại cấp giáo phận:
( Thượng Hội đồng giáo phận.
(“để trợ giúp vị Giám mục giáo phận ” GL 460).
( Hội đồng Linh mục.
(“…nhằm lợi ích mục vụ ” GL 495,1) và
( Hội đồng Mục vụ
(“…nhằm đưa ra những kết luận cụ thể ” GL 511).
Phạm vi của 3 cơ cấu trên bao trùm lẫn nhau. Giáo luật rất uyển chuyển với 3 tổ chức này.
- Thượng Hội đồng giáo phận (THĐGP) thì hoàn toàn có tính tự do, không bắt buộc. Nó có thể được triệu tập bất cứ lúc nào mà Giám mục cảm thấy tình hình cho phép (GL 461, l). Có thể có những thành viên giáo dân trong THĐGP (GL 463, l.5). Giám mục chủ trì THĐGP (Gl 500, l). Điều đó không có nghĩa là bắt buộc ngài phải chủ tọa cuộc họp. Ngài có thể chủ tọa mà ngài cũng có thể không chủ tọa cuộc họp mà vẫn chủ trì THĐGP khi ngài hiện diện tại bàn danh dự và tham gia tích cực vào thảo luận.
- Hội đồng Linh mục (HĐLM) có tính cách bắt buộc. HĐLM tiếp tục hiện hữu và chỉ tan rã khi vị Giám mục từ trần. HĐLM gồm các linh mục (GL 495, l). HĐLM không có ý trở thành một thứ thượng viện hoặc ưu tú viện. HĐLM có ý trở thành một cơ cấu tư vấn đối với vị Giám mục và một cách nào đó biểu lộ sự hiệp nhất của hàng giáo sĩ giáo phận xung quanh Giám mục.
- Hội đồng mục vụ (HĐMV) có tính cách tự do. Tuy nhiên có lý đo để giám mục có thể dùng HĐMV giáo phận như là một công cụ then chốt cho việc cai quản tốt giáo phận. HĐMV có mặt khi mà mọi người trong Giáo hội, không phân biệt vai trò của họ, có tiếng nói quan trọng đối với công việc của Giáo hội, đối với phương hướng mục vụ và việc làm sao để Tin Mừng được rao giảng thích đáng. Vì thế HĐMV hết sức quan trọng và cần thiết và có đất sống. Vai trò của HĐMV rất quyết định bởi vì sự đối thoại bên trong Giáo hội ở một mức rộng rãi hơn sẽ thúc đẩy một sự hỗ trợ rộng lớn hơn trong các quyết định.
HĐMV khiến điều đó thành khả thi nhờ lòng chân thành thực hành quyền được phát biểu ý kiến và quyền được lắng nghe khi có quyết định (GL 212).
HLMV phải được triệu tập ít nhất một năm một lần (Gl 5 14).
b/ Hội đồng Mục vụ ở cấp giáo xứ:
Nếu Giám mục thấy thuận lợi, một HĐMVGX sẽ được thiết lập trong mỗi giáo xứ. HĐMVGX sẽ do linh mục xứ chủ trì và có quyền bỏ phiếu có tính cách tư vấn (Gl 536).
Sự kiện HĐMVGX có tính tự do, không bắt buộc, không hề có nghĩa rằng nó không quan trọng. Thật ra thì phải khuyến khích mỗi giáo xứ nên có một HĐMV. Đúng đây là lần đầu tiên Giáo luật đề xuất một HĐ như thế, cho nên cần phải coi lời đề xuất ấy một cách nghiêm túc. Việc Giáo hội gọi HĐ ấy là HĐMV cũng có ý nghĩa; ý nghĩa đó là mọi thành viên chia sẻ trách nhiệm mục vụ của giáo xứ, bên cạnh vị linh mục, bên cạnh vị mục tử.
“Chủ trì ” (giống như Giám mục chủ trì HĐLM) không có nghĩa là linh mục xứ phải ngồi chủ tọa các buổi họp của HĐMVGX. Linh mục xứ có thể chủ tọa mà cũng có thể không, nhưng vẫn là chủ trì, nếu ngài tán thành cuộc họp của HĐMVGX hoặc ngài có mặt giữa các thành viên.
Sự việc HĐMVGX chỉ có tiếng nói tư vấn không có nghĩa là những thảo luận và quyết định của HĐ không quan trọng. HĐMVGX mở ra khả năng cai quản tốt chia một kiểu lãnh đạo thấm nhuần Kinh Thánh Ki tô giáo. một kiểu lãnh đạo không thống trị (non-dominating leadership).
Khi nói đến đầu phiếu và quyết định trong đời sống Giáo hội, chúng ta chấp nhận sự kiện rằng Giáo hội, không phải là một thể chế dân chủ. Tuy thế, Giáo hội cũng không phải là độc tài. Mặc dầu “mọi quyền hành không do dân mà ra ”, nhưng những luật lệ dân chủ cơ bản của cách hành xử của loài người cần được tuân giữ để chu toàn sứ mạng chung đã được ban cho toàn thể dân Chúa. Cách hành xử trong cộng đoàn, Giáo hội đặt nền tảng trên “sự bình đẳng đích thực giữa tất cả mọi người về phẩm giá và hoạt động chung đối với mọi tín hữu ” (LG 32), và được giới luật Chúa hướng dẫn: “…anh em chỉ có một Thầy và tất cả là anh chị em với nhau ” (Mt 23,8).
Giai đoạn 3: Một Giáo Hội thức tỉnh
1. Hình vẽ tượng trưng:
Tín hữu ở giai đoạn này đã tập hợp thành nhiều nhóm khác nhau và ai nấy đều muốn hiểu sâu hơn về Giáo hội. Họ cùng nhau tìm hiểu: Giáo hội là gì? Giáo hội là ai? trong các buổi nhóm họp. Vị linh mục cũng tham dự vào sinh hoạt các nhóm chứ không chỉ đứng ở bục giảng mà giảng như giai đoạn 1.
Điều này xảy ra khi trong giáo xứ có nhiều giáo dân không chịu bằng lòng chỉ là những cá nhân đi lễ ngày Chúa nhật. Họ mơ ước một cái gì lớn hơn, sâu xa hơn và họ đi tìm…
2. Ghi chú tổng quát:
Một tinh thần thức tỉnh có thể được hình thành trong một giáo xứ, do tình trạng thiếu linh mục, do các thư mục vụ của Giám mục, do các bài giảng, do Kinh Thánh, do các khóa học hỏi, do cảm nghiệm về việc Giáo hội được thể hiện một cách khác, ở một nơi nào đó, do ý thức về những giá trị được đòi hỏi ở bên ngoài Giáo hội, thí dụ: việc tham khảo ý kiến, sự bình đẳng, tinh thần đồng trách nhiệm v. v…
Nếu cả giáo xứ ở trong cùng dòng chảy như thế thì hàng giáo sĩ và những người lãnh đạo cộng đoàn phải chấp nhận một cái nhìn mới. Có thể sau đây là một số lãnh vực cần có một cái nhìn mới chăng?
( Là hay thuộc về Giáo hội thì có ý nghĩa gì?
( Được thanh tẩy (rửa tội) thì có ý nghĩa gì?
( Phục vụ tha nhân, hợp tác với người khác trong Giáo hội, làm chứng, rao giảng Tin Mừng, sống Tin Mừng hôm nay… có ý nghĩa gì?
( Giáo hội phải làm gì với những vấn đề của thế giới ngày hôm nay. Bằng cách gì và phương pháp nào chúng ta đối phó với bất công và tội ác? Người kitô hữu có liên lụy như thế nào trong các đảng phái chính trị, trong các hiệp hội v. v…?
( Có thể có những cách khác để thể hiện Giáo hội không, ví dụ trong các Cộng đoàn Kitô nhỏ? Là người chỉ đi lễ ngày Chúa nhật có đủ không? Tại sao trong các cộng đoàn Ki tô nhỏ lại có nhiều chia sẻ có tính chất riêng tư như vậy? Tại sao các cộng đoàn ấy lại có thể biến đổi thế giới chung quanh họ? v. v….
( Việc lãnh đạo trong Giáo hội được hành xử như thế nào? Vấn đề các đoàn sủng khác nhau của tín hữu ra sao? Các người lãnh đạo được tuyển lựa làm sao? Các người lãnh đạo cộng đoàn có thể luân phiên nhau lãnh đạo hay cứ ở vị trí đó mãi không? v. v….
Đưa các chương trình gây ý thức vào trong giáo xứ đòi hỏi nhiều cách tiếp cận khác nhau, khác với cách nói với dân chúng. Chương trình gây ý thức mời dân chúng đón nhận một cái nhìn mới và thay đổi một giá trị. Các giá trị không thể bị áp đặt mà phải được chấp nhận cách tự do như một vấn đề lương tâm.
Trong các chương trình ý thức, chính dân chúng phải tích cực tham dự vào quá trình và được phép tự mình khám phá một chân trời mới hay một cái nhìn mới. Các chứng cứ và sự kiện cần được cung cấp, nhưng chúng có thể được dân chúng chấp nhận hay gạt bỏ. Cách trình bày chúng phải chờ cho có một cơ hội thuận lợi mới mong đạt kết quả mong muốn.
Giai đoạn 4: Một Giáo Hội có nhiều nhóm trách nhiệm
1. Hình vẽ tượng trưng:
Trong một giáo xứ mà người tín hữu ý thức trách nhiệm chung của mình, thì các “nhóm trách nhiệm ” hoặc các uỷ ban sẽ được phát triển, để đáp ứng các nhu cầu của cộng đoàn. Vị linh mục trở thành người tổ chức các nhóm đó. Kiểu mẫu này vẫn y nguyên về cơ bản nếu một giáo xứ chia ra thành nhiều xóm giáo.
2. Ghi chú tổng quát:
“Giáo hội với các nhóm trách nhiệm ” là một bước dài tiến tới “một Giáo hội mà mọi người góp phần ” (participa- tory church). Những nhiệm vụ căn bản của Giáo hội được thực hiện một cách hữu hiệu, mọi việc đều được tổ chức hoàn hảo…
Tuy nhiên một giáo xứ bình thường. thường bị lúng túng vì có nhiều mối quan tâm và thường bị giằng co bởi nhiều nhóm người muốn được giáo xứ quan tâm tới. Thí dụ, các nhóm trách nhiệm được mời gọi để quan tâm tới giới trẻ, giới già, giới trung niên, những người mới cưới cũng như những người ly hôn, người bệnh, người thất nghiệp, người lao động, các bà nội trợ, dân di cư, người nghèo hoặc bị giằng co giữa hoạt động xã hội, giáo lý, phụng vụ, hội đoàn v. v… Các nhóm trách nhiệm khác nhau có thể cạnh tranh nhau về thời gian và mối quan tâm. Cần có đôi chút huấn luyện đối với những người này, cả về mặt kỹ năng, cả về mặt đời sống tâm linh. Mối nguy cơ là các thành viên của các nhóm trách nhiệm này được đào tạo để làm như công chức, mà không xây dựng cộng đoàn giữa họ hoặc giúp họ trưởng thành về mặt tâm linh và trí tuệ. Những người chức trách trong Giáo hội có thể thỏa mãn ở chỗ đã có được một Giáo hội hữu hiệu trong đó các nhiệm vụ cần thiết đều được chu toàn cách hoàn hảo. Việc đào tạo có thể chỉ giới hạn vào sự huấn luyện kỹ năng mà thôi.
Có 4 lãnh vực cần được đào tạo. Đó là:
a/ Đời sống tâm linh (đào sâu niềm tin, cầu nguyện v. v…)
b/ Xây dựng thái độ, giá trị, ý thức (phục vụ, không quyền lực, xây dựng cộng đoàn, làm việc nhóm, trách nhiệm xã hội)
c/ Huấn luyện kỹ năng (cách đọc, điều hành một buổi họp, giải quyết vấn đề, linh hoạt v. v…)
d/ Thông tin, kiến thức (kiến thức về thần học, kiến thức tổng quát về xã hội, v. v…)
Giai đoạn 5: Một Giáo Hội hiệp thông giữa các cộng đoàn
1. Hình vẽ tượng trưng:
Chúng ta coi Giáo hội hiệp thông giữa các cộng đoàn là Giáo hội lý tưởng. Các cộng đoàn này có thể được gọi là các cộng đoàn đức tin Ki tô, cộng đoàn cơ bản, cộng đoàn Giáo hội hoặc cộng đoàn Ki tô nhỏ (Christian Faith or Basic or Ecclesial or Small Christian Communities).
Có 4 nét đặc trưng thuộc về các cộng đoàn này:
1/ Các người láng giềng nhóm họp với nhau ngoài những giờ chính thức của nhà thờ.
2/ Họ lấy việc Chia Sẻ Tin Mừng làm nền tảng thiêng liêng của Cộng đoàn.
3/ Họ hỗ trợ nhau và cùng làm việc với nhau.
4/ Họ hiệp nhất với các nhóm khác của giáo xứ và hiệp nhất với Giáo hội phổ quát.
2. Ghi chú tổng quát:
Giáo hội như mối hiệp thông giữa các cộng đoàn là một lý tưởng, cũng cao siêu như Tình yêu và Đức ái ki tô giáo. Chẳng bao giờ chúng ta đạt được lý tưởng đó hoàn toàn, nhưng vẫn luôn là lý tưởng đem lại định hướng và hy vọng cho ta. Lý do thần học sâu xa nhất nằm ở trong đời sống nội tại của Thiên Chúa Ba Ngôi được phản chiếu nơi những người được mời gọi để trở nên thành viên của gia đình Thiên Chúa.
Mối hiệp thông của các cộng đoàn có thể phản ánh Giao ước Tình yêu của Thiên Chúa với dân Người trong một cách thức sâu xa hơn sự tập hợp của các cá nhân đi lễ.
Nếu bạn theo đuổi một quan điểm như thế, thì bất kỳ một hoạt động mục vụ nhỏ bé nào cũng có định hướng và trở thành một giai đoạn tiến về phía trước. Những giai đoạn tiến tới lý tưởng ấy có thể là như sau:
( Cổ võ mọi nhóm nuôi dưỡng một tương quan cá vị (personal) và đức tin sâu sắc hơn,
( Bắt đầu các Nhóm Chia Sẻ Lời Chúa qui tụ những ai thích sinh hoạt này trong giáo xứ, chưa qui tụ những người cùng ở chung một địa bàn khu xóm.
( Giao cho các nhóm ấy một số trách nhiệm mà thường thì được tổ chức từ trung tâm (ví dụ chuẩn bị đón nhận các bí tích, chuẩn bị phụng vụ v. v…)
( Khuyến khích các nhóm cầu nguyện.
( Tổ chức những buổi cầu nguyện hoặc Chia sẻ Tin Mừng trong Mùa Vọng và Mùa Chay
( Dâng Thánh lễ tại nhà cho những người ở cùng xóm tới dự.
( Thực hiện việc chia sẻ Lời Chúa trong các nhóm hiện hữu trong giáo xứ (ví dụ HĐMV, đoàn thể, nhóm trách nhiệm v. v…)
( Chấp nhận một cung cách lãnh đạo nghiêng về linh hoạt và gợi hứng trái ngược với kiểu lãnh đạo thống trị và chu cấp.
( Định giá mọi sinh hoạt mục vụ bằng cách đặt câu hỏi như sau:
_ “Chúng ta mời gọi dân chúng hỗ trợ chúng ta thực hiện một trách nhiệm nào hay chúng ta giúp họ thực thi trách nhiệm riêng của chính họ ?”
_ “Liệu chúng ta đang chu cấp hay chúng ta đang lạo điều kiện cho các tín hữu để chính họ thực hiện bất kỳ điều gì mà họ có thể hoặc phải thực hiện ?”
Linh hồn của một Giáo hội hiệp thông giữa các cộng đoàn chính là tinh thần anh chị em trong Đức Kitô, tôn trọng phẩm giá chung của mọi người (dù chức vụ có khác nhau) và chấp nhận trách nhiệm chung để thực thi sứ mạng của Đức Kitô trong thế giới.
Cách thức khác nhau biểu lộ Giáo hội tựu trung là sống như một cộng đoàn yêu thương với trách nhiệm là làm sao để:
Trở thành dấu chỉ về một xã hội khác, một xã hội không được xây dựng trên sự cạnh tranh tàn bạo hoặc trên sự cưỡng bức chia sẻ, nhưng trên sự chia sẻ trong tình huynh đệ.
Trở thành dấu chỉ về một cộng đoàn khác không theo qui tắc của những nhà độc tài say mê quyền lực nhưng là một cộng đoàn trong đó sự lãnh đạo không mang tính thống trị mà đầy tính phục vụ.
Trở thành dấu chỉ về một niềm hy vọng chắc chắn mà Thiên Chúa sẽ bổ túc và làm cho hoàn thiện những gì chúng ta đã bắt đầu trong lòng Tin.
Bằng cách đó, ước mơ của chúng ta về một Giáo hội trưởng thành sẽ trở thành hiện thực. Một Giáo hội hiệp thông giữa các cộng đoàn hàm chứa chiều kích toàn cầu và cánh chung.
TÀI LIỆU II:
THỂ HIỆN GIÁO HỘI MỘT CÁCH MỚI THEO CÔNG ĐỒNG & TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á (A New Way of Being Church)
Có một cách khác làm nổi bật điều mà tôi đã lưu ý khi nói rằng Thượng Hội đồng Giám mục Á châu có một tác động lâu dài, là các Giáo hội Á châu - với lòng can đảm và óc sáng tạo - phải tìm cho ra cách thể hiện Giáo hội một cách mới và từ đó xây dựng một Giáo Hội học khác có thể thay thế. Đây là một chủ đề được Liên Hội đồng Giám mục Á châu nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại rất nhiều lần, đặc biệt trong Đại hội toàn thể lần thứ 3 tại Băngcốc (Thái Lan) năm 1982 và lần thứ 5 tại Băngđung (Indonesia) năm 1990. Như cuộc cách mạng Côpécnic, Giáo hội học ấy sẽ thực hiện một cuộc thay đổi quyết liệt: lấy Vương quốc của Thiên Chúa làm trung tâm đời sống Kitô hữu thay vì coi Giáo hội là trung tâm như từ trước đến nay. Các Kitô hữu không lấy Giáo hội làm trung tâm mà lấy Nước Thiên Chúa làm trung tâm. Sứ mạng của họ không phải là mở rộng Giáo hội và các cơ chế của Giáo hội (plantatio ecclesiae) để giúp Giáo hội mở rộng phạm vi ảnh hưởng mà để Giáo hội trở nên dấu chỉ trong sáng và dụng cụ hữu hiệu của sự hiện diện cứu độ của Vương quốc Thiên Chúa, Vương quốc của công lý, hoà bình, tình thương mà Giáo hội là hạt giống. Như Tông huấn Giáo hội tại châu Á đã nói: “Được Chúa Thánh Thần hỗ trợ và làm cho có khả năng hoàn tất công cuộc cứu độ của Đức Kitô trên trần gian, Giáo hội chính là hạt giống của Nước Thiên Chúa, luôn náo nức mong cho Nước ấy ngự đến. Căn tính và sứ mạng của Giáo hội không thể không có liên quan với Nước Thiên Chúa…. Chúa Thánh Thần nhắc Giáo hội nhớ rằng tự Giáo hội không có cùng đích nơi mình: trong tất cả những gì Giáo hội là và trong tất cả những gì Giáo hội thực hiện, Giáo hội hiện hữu là để phục vụ Đức Kitô và cứu độ thế giới” (Giáo hội tại châu Á, số 17). Cách thức mới để thể hiện Giáo hội và Giáo hội học mang tính cách mới ấy sẽ có những đặc điểm sau đây :< br> 1. Trước hết, ở cấp địa phương cũng như ở cấp toàn cầu, Giáo hội phải được coi là “sự hiệp thông của các cộng đoàn”, trong đó giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ nhìn nhận và coi nhau như anh em chị em một nhà. Ở trung tâm mầu nhiệm Giáo hội là sự hiệp thông nối kết Thiên Chúa với con người và nối kết con người với nhau mà Thánh Thể là dấu chỉ và là phương thế tuyệt vời.
Đàng khác, Giáo hội học này nhìn nhận sự bình đẳng cơ bản giữa các thành phần khác nhau của Giáo hội địa phương với tư cách là môn đệ Đức Giê-su và sự bình đẳng cơ bản giữa các Giáo hội địa phương khác nhau với tư cách là các cộng đoàn môn đệ của Đức Giêsu mà sự hiệp thông tạo nên Giáo hội toàn cầu. Sự hiệp thông (koinonia) tạo nên Giáo hội, cả ở cấp Giáo hội địa phương, cả ở cấp Giáo hội toàn cầu và từ đó xuất phát sự bình đẳng cơ bản của mọi Kitô hữu, bắt nguồn từ đời sống thâm sâu của Thiên Chúa Ba Ngôi trong đó có sự hiệp thông trọn vẹn của ba Ngôi bằng nhau. Nếu sự bình đẳng cơ bản của tất cả mọi Kitô hữu này không được nhìn nhận thì Giáo hội không thể trở thành “sự hiệp thông của các cộng đoàn” tại châu Á. Sống sự bình đẳng cơ bản ấy là việc hết sức khó tại châu Á, không chỉ vì sự nhấn mạnh đến tính phẩm trật của Giáo hội có thể làm lu mờ và hạn chế sự bình đẳng ấy mà còn vì điều đó trái nghịch với ý thức về giai cấp của nhiều xã hội Á Châu.
Hơn nữa, nhìn Giáo hội là “sự hiệp thông của các cộng đoàn” và hệ quả tất nhiên của cách nhìn ấy là tính bình đẳng cơ bản, là điều kiện không thể thiếu (sine qua non) để chu toàn sứ mạng của Giáo hội. Nếu Giáo hội không là sự hiệp thông, Giáo hội không thể chu toàn sứ mạng truyền giáo của mình, vì Giáo hội không là gì khác ngoài là sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người và giữa con người với nhau. Như Tông huấn Giáo hội tại châu Á đã khẳng định :”hiệp thông và truyền giáo không thể tách rời nhau” (số 24 ).< br> 2. “Tính môn đệ của những con người bình đẳng” dẫn tới đặc điểm thứ hai của việc thể hiện Giáo hội một cách mới tại Á Châu, đó là bản chất mọi thừa tác cùng tham gia và hợp tác trong Giáo hội: ” Đó là Giáo hội mà mọi người đều tham gia trong đó hồng ân mà Thánh Thần ban cho hết mọi tín hữu- giáo dân, tu sĩ và linh mục- được nhìn nhận và được đưa vào hành động, để Giáo hội có thể được xây dựng và chu toàn sứ mạng của mình ”. Bản chất mọi người cùng tham gia cần phải được sống không chỉ ở trong nội bộ Giáo hội địa phương mà cả ở giữa tất cả các Giáo hội địa phương với nhau, kể cả với Giáo hội Roma nữa, dĩ nhiên là với sự nhìn nhận thẩm quyền của Đức Giáo hoàng. Trong bối cảnh ấy, cần khuyến khích việc đọc lại khẳng định sau đây của Tông huấn: “Thật vậy, chính khi đặt mình trong viễn tượng hiệp thông Giáo hội, người ta mới thấy rõ hơn thẩm quyền của Đấng Kế Vị Thánh Phêrô mang tính phổ quát, không phải một quyền hành mang tính pháp lý trên các Giáo hội địa phương mà là sự trổi vượt mang tính mục vụ nhằm xây dựng sự hiệp nhất trong đức tin và đời sống của toàn thể Dân Chúa.” (Giáo hội tại châu Á, số 25). “Thẩm quyền mục vụ” phải làm hết sức có thể để phát huy tính đồng trách nhiệm và sự tham gia của tất cả mọi Giáo hội địa phương trong ba sứ vụ: giảng dậy, thánh hóa và phục vụ trong Giáo hội và phải làm thế nào để những từ ngữ ấy không chỉ dừng lại ở những lời thuyết giảng đạo đức mà phải sinh hoa kết trái trong các cơ chế và hành động. Nếu Thượng Hội đồng Giám mục Á châu chứng tỏ được rằng các Giáo hội Á châu có điều gì đó dể dậy Giáo hội Roma và Giáo hội toàn cầu, thì “Huấn Quyền” trong Giáo hội không còn được quan niệm như con đường một chiều từ Roma đến các Giáo hội địa phương. Thay vào đó, phải là việc học hỏi và dạy dỗ lẫn nhau, phải là việc khch lệ và sửa sai lẫn nhau giữa Giáo hội Roma và các Giáo hội khác, tức giữa tất cả mọi Giáo hội địa phương. Chỉ bằng cách đó thì sự sửa sai mới có thể được hiểu bằng một khái niệm rộng rãi, nhất là trong các quốc gia với các Giáo hội được mệnh danh là Giáo hội quốc gia hay Giáo hội yêu nước, rằng thì là Giáo hội Kitô giáo tại châu Á là một tổ chức nước ngoài (thật ra là một tổ chức quốc tế), có thể so sánh được với các tổ chức đa quốc gia, rằng Giáo hội ấy phải nhận lệnh từ một quyền bính nước ngoài. Trong bối cảnh này, có lẽ sẽ hữu ích khi đưa ra nhận định rằng để không gây hiểu lầm, chúng ta nên tránh xử dụng một vài kiểu diễn tả mối quan hệ giữa Giám mục địa phương và Giám mục Roma, thịnh hành trong một số giới thuộc Giáo hội. Tôi muốn nhắc đến từ “trung thành” và “vâng phục ” là hai từ đặc trưng cho thái độ của các Giám mục đối với Đức Giáo hoàng. Nhưng đối với người Á châu thì các từ ấy không thể không gợi lên những cam kết phục tùng của các chư hầu đối với các lãnh chúa trong chế độ phong kiến. Không kể sự kiện là trong Giáo hội sự “trung thành” không thuộc về một người khác ngoài một mình Đức Kitô mà thôi và vị Giám mục không mang ơn đối với Đức Giáo hoàng về chức vụ Giám mục của mình cũng không phải là phụ tá của Đức Giáo Hoàng, nên theo thần học mà nói thì việc thích hợp hơn là phải diễn tả và sống mối quan hệ giữa Giáo hội địa phương và Đức Giáo hoàng bằng các ý niệm của từ giám mục đoàn và tình liên đới. Chỉ bằng cách ấy thì trách nhiệm giảng dậy của Giáo hội và thừa tác vụ cổ võ sự hiệp nhất của Đức Giáo hoàng mới có thể được thực thi một cách có hiệu quả, khi học hỏi được nhiều kinh nghiệm phong phú khác nhau về cách thể hiện Giáo hội từ khắp bốn phương trời của địa cầu này và khi đón nhận sự sửa lỗi đầy kính trọng nhưng chân thành trong trường hợp có sai phạm lỗi lầm do tâm trí hẹp hòi, do kiêu căng về luân lý và do u tối về tâm linh.
3. Đặc điểm thứ ba của việc thể hiện Giáo hội một cách mới tại Á châu là tinh thần đối thoại : “Được xây dựng giữa lòng các dân tộc, đó là Giáo hội mà chứng từ đầy lòng tin và tình yêu thương đối với Chúa Phục Sinh và truyền tới những người có niềm tin và xác tín tôn giáo khác nhờ sự đối thoại về sự giải phóng toàn diện của tất cả mọi người ”. Ngay từ Đại hội toàn thể lần đầu tiên họp tại Taipei, Đài Loan, năm 1974, Liên Hội đồng Giám mục Á châu đã nhắc đi nhắc lại rằng trọng trách đầu tiên của các Giáo hội Á châu là Loan Báo Tin Mừng. Nhưng Liên Hội đồng Giám mục Á châu cũng thường chủ trương rằng Giáo hội chỉ có thể thực hiện được trọng trách ấy tại Á châu bằng con đường đối thoại với các Nền Văn hoá Á châu, với các Tôn giáo Á châu và với chính người Á châu, nhất là những người nghèo. Tông huấn nhắc lại sự cần thiết của cuộc đối thoại này. Trong cuộc đối thoại với các Nền Văn hóa Á châu (hội nhập văn hóa), Tông huấn làm nổi bật các lãnh vực Thần học, Phụng vụ và Thánh Kinh (Giáo hội tại châu Á, số 22). Trong cuộc đối thoại với các Truyền thống Tôn giáo khác, Tông huấn nhấn mạnh cuộc đối thoại mang tính đại kết và giữa các tôn giáo. Tông huấn lập lại đề nghị 41 của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu : “Những quan hệ giữa các Tôn giáo sẽ được mở mang cách tốt đẹp, nhất là khi mọi người sống trong bầu khí cởi mở với nhau, có ý muốn lắng nghe, tôn trọng và thông cảm người khác trong những khác biệt của họ. Để làm được tất cả những việc này, cần phải biết yêu thương tha nhân. Từ đó mới có sự hợp tác, hòa hợp và làm giầu cho nhau” (Giáo hội tại châu Á, số 31). Trong cuộc đối thoại với người nghèo, Tông huấn khẳng định cần phải có tình yêu ưu tiên dành cho người nghèo (cách riêng những người dân nhập cư, các dân tộc và bộ lạc gốc bản xứ, phụ nữ và trẻ em), bênh vực quyền con người, chăm sóc về y tế, giáo dục, kiến tạo hoà bình, hủy bỏ nợ nước ngoài và bảo vệ môi sinh (Giáo hội tại châu Á, số 32-41). Hẳn nhiên nếu Giáo hội Kitô giáo phải trở thành Giáo hội của Á châu thực sự, thì các Kitô hữu Á châu phải dấn thân, một cách kiên cường và toàn tâm toàn ý, vào cuộc đối thoại bằng “cuộc sống và trái tim” với ba đối tác trên. Và bằng cách đó họ thực thi quyền và trách nhiệm của mình là Loan báo Đức Giêsu cho những người đồng hương Á châu khác.
Trong bối cảnh Loan báo Tin Mừng và đối thoại với các Nền Văn hóa, với các Tôn giáo và với người nghèo Á châu, có lẽ sẽ nẩy sinh vấn đề đang được tranh cãi là phải Loan báo Đức Kitô là Đấng Cứu Độ và là Đấng Cứu Độ duy nhất như thế nào tại Á châu. Tông huấn khẳng định rằng “Không thể có sự Phúc Am hóa thật sự nếu không có việc công khai loan báo Đức Giêsu là Chúa ” ( Giáo hội tại châu Á, số 19) và rằng sự Loan báo ấy “không phải là do một động cơ phe phái hay do tinh thần chiêu mộ tín đồ hoặc bởi sự trịch thượng nào ” mà “chỉ vì muốn tuân theo mệnh lệnh của Đức Kitô ” (Giáo hội tại châu Á, số 20). Vì thế cho nên sự Loan báo ấy phải được thực hiện với lòng kính trọng đối với cả hai phía : ”một đàng tôn trọng con người trong hành trình tìm kiếm những giải đáp cho những vấn nạn sâu xa nhất của cuộc sống, đàng khác tôn trọng hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi con người ” (Giáo hội tại châu Á, số 20).
Về việc phải loan báo như thế nào về Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất thì TH thẳng thắn nhìn nhận rằng sự loan báo ấy “đã đụng phải những khó khăn về triết học, văn hóa và thần học, nhất là nhìn từ những niềm tin có trong các Tôn giáo lớn của Á châu, vốn quyện rất chặt với các nền Văn hóa và các thế giới quan riêng biệt” (Giáo hội tại châu Á, số 20). Nỗi khó khăn này là do sự kiện đã được nhắc đến ở trên là, Đức Kitô được coi là người xa lạ đối với Á châu, như một gương mặt Tây phương hơn là một gương mặt Á châu. Ở đây Tông huấn đáng được ca tụng vì đã yêu cầu ba điều quan trọng sau đây:
* một công cuộc giáo dục tiệm tiến về việc Loan báo Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất,
* xử dụng cách kể chuyện để bổ sung cho các hệ (thần học) trong việc Loan báo ấy, và
* nhìn nhận có sự khác biệt chính đáng trong các cách tiếp cận để loan báo về Đức Giêsu.
Đây không phải là chỗ để tranh luận thần học về chủ nghĩa khử trừ, dung nạp và đa dạng, nhưng theo sự phán đoán của tôi, vấn đề Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ duy
nhất là vấn đề lý thú có lẽ trong thần học, nhưng là một kiểu nói vô bổ trong giảng dậy và giáo lý. Nguyên do là vì mục tiêu trực tiếp của việc loan báo Tin Mừng là làm cho người ta đón nhận Đức Giêsu là “Đấng Cứu Độ của họ” (personal Savior) - nếu muốn dùng cách nói mà các Kitô hữu thuộc Phong trào Thánh Linh rất thích dùng - chứ không phải là “Đấng Cứu Độ duy nhất”. Điều được nhắm tới là sự dấn thân có tính cá nhân và trọn vẹn của người tân tòng đối với Đức Giêsu chứ không phải là sự khước từ việc có thể có những cách thức khác mà Thiên Chúa có thể dùng để đến với người khác. Câu hỏi mang tính sống còn vượt trên tất cả không phải là các dân tộc khác có thể được cứu độ hay không và được cứu độ bằng cách nào nhưng là câu hỏi ‘bằng cách nào tôi có thể đi vào mối quan hệ cá vị (personal) với Thiên Chúa một cách sung mãn?’ Khi một người nào đó đã khám phá ra rằng Đức Giêsu là con đường giúp người ấy đạt tới T Từ ngày thành lập năm 1972 đến nay, Liên Hội đồng Giám mục Á châu đã có một quá trình gần 30 năm suy tư, tìm tòi, nghiên cứu và thực hiện Công đồng Vatican II tại Á châu. Tổ chức này hằng năm có những kỳ họp toàn thể với các chủ đề rất phong phú và thực tế. Ngoài ra tổ chức này còn có các cơ quan trực thuộc về từng lãnh vực và hoạt động rất bài bản và có chất lượng. Các tài liệu, văn bản của Liên Hội đồng Giám Mục Á châu cũng như của các ủy ban và tiểu ban đều rất phong phú, nhưng lại còn khá xa lạ với nhiều Giám mục, linh mục và tu sĩ Việt Nam, chứ đừng nói gì đến hàng ngũ giáo dân. Sự kiện ấy do mấy nguyên nhân chính sau đây: Trước hết là trong những năm Việt Nam sống tự cô lập hoặc bị cô lập thì Giáo hội Việt Nam không có tiếp xúc liên lạc gì với các Giáo hội trong vùng. Một lý do khác là Giáo hội Việt Nam thuộc vùng nói tiếng Pháp (francophone) tuy rằng nằm trong vùng Đông Nam Á châu nói tiếng Anh. Nhiều Giám mục, linh mục, tu sĩ được đào tạo tại Pháp, tại Ý, Đức chứ có rất ít người sang Ấn độ, Phi-lip-pin hay Đài Loan học. Do đó Giáo hội Việt Nam gắn bó mật thiết với Giáo hội Pháp, Ý, Đức và với Tòa Thánh Vatican mà không quan tâm đến các Giáo hội trong vùng.
Vì thế cho nên trong chiều hướng hội nhập khu vực thì công việc đầu tiên của Giáo hội Việt Nam là tiếp cận, thu tập và chuyển dịch những tài liệu quan trọng của Liên Hội đồng Giám mục Á châu và của các tiểu ban của tổ chức này và giới thiệu những tài liệu ấy với mọi thành phần Dân Chúa, nhất là với các thành phần nòng cốt của Giáo hội là các linh mục, tu sĩ, cán bộ giáo dân trong giáo xứ, hội đoàn thông qua các buổi nói chuyện hay hội nghị chuyên đề, các khóa huấn luyện, bồi dưỡng ngắn và dài ngày v.v..
Công việc thứ hai của Giáo hội Việt Nam là nghiên cứu cặn kẽ tức đào sâu ‘Tông huấn Giáo hội tại Á châu’ để rút ra những thực hành cụ thể cho từng cấp (quốc gia, miền hay liên giáo phận, giáo phận, giáo hạt, giáo xứ, giới, hội đoàn). Công việc này hết sức quan trọng vì Tông huấn này là định hướng chiến lược của các Giáo hội Á châu, trong đó có Việt Nam. Có thể nói sau các văn kiện của Công đồng Vatican II thì Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’ phải là tài liệu tham khảo, qui chiếu của giảng dậy, nghiên cứu, áp dụng của Giáo hội Việt Nam. Thật ra Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’ mới chỉ là những định hướng, những tiêu chuẩn, nguyên tắc lý thuyết cần được cụ thể hóa bằng hoạt động và cơ chế mà mỗi Giáo hội tại/của Á châu phải thực hiện, để bước vào thiên niên kỷ thứ ba.
III. GIÁO HỘI VIỆT NAM CẦN TÌM MỌI CÁCH TRIỂN KHAI CỤ THỂ BỐN ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁCH THỂ HIỆN GIÁO HỘI MỘT CÁCH MỚI TẠI VIỆT NAM
Cùng với việc giải quyết hai công việc to lớn và quan trọng vừa nêu, Giáo hội Việt Nam nên tìm mọi cách để triển khai cụ thể bốn đặc điểm của cách thể hiện Giáo hội một cách mới. Cách thể hiện Giáo hội một cách mới nói đến ở đây không phải là ý kiến riêng tư của linh mục Phêrô Phan Đình Cho mà chính là quan điểm chung của các nhà lãnh đạo và thần học của các Giáo hội Á châu (đọc các tài liệu của Liên Hội đồng Giám mục Á châu chúng ta sẽ thấy rõ điều này). Có thể nói đây chính là cách áp dụng giáo huấn của Công đồng Vatican II vào các hoàn cảnh cụ thể của các Giáo hội Á châu. Công cuộc canh tân của Công đồng Vatican II đã được tiếp nối một cách đặc biệt trong giai đoạn 1990-2000 bởi các Thượng Hội đồng Giám mục châu lục mà Đức Giáo hoàng đương kim Gioan Phaolo II đã lần lượt triệu tập và bởi các Tông huấn đi theo sau các Thượng Hội đồng Giám mục ấy. Đối với chúng ta thì đó là Thượng Hội đồng Giám mục Á châu và Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’!
Ở đây chúng tôi không nhắc lại những nền tảng thánh kinh, thần học hay giáo hội học của bốn đặc điểm mà linh mục Phêrô Phan Đình Cho đã nêu trong bài “Giáo hội tại Á châu: Thách thức đối với Kitô giáo Á châu” nói trên. Chúng tôi muốn đưa ra một số gợi ý có liên quan tới một số việc cụ thể mà Giáo hội Việt Nam cần làm và có thể làm lúc này và trong những năm sắp tới.
1. Trước hết liên quan tới bản chất “Giáo hội là sự hiệp thông của các cộng đoàn ” và liên quan tới “tính bình đẳng căn bản của mọi Kitô hữu trong cộng đoàn Dân Chúa” chúng tôi thấy Giáo hội Việt Nam có những việc “cần làm và có thể làm ” sau đây:
1.1 Đào sâu Mầu Nhiệm Hiệp Thông của Thiên Chúa tức Mầu Nhiệm Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần vì đó là nền tảng của mọi cộng đoàn, tổ chức, cơ chế Giáo hội. Đồng thời đào sâu tính bình đẳng căn bản của mọi Kitô hữu trước mặt Thiên Chúa về phẩm giá và về ơn gọi. Việc đào sâu này có tầm quan trọng quyết định tương lai của Giáo hội Việt Nam, vì chưng theo nhận định của nhiều người, thì Giáo hội Việt Nam quá thiên về phẩm trật, nặng về quyền bính mà ít phát triển tinh thần hiệp thông và bình đẳng hàm chứa trong Kitô giáo. Nguyên nhân của tình trạng trên là vì chúng ta chưa hiểu thấu đáo tinh thần Phúc Âm và chịu ảnh hưởng rất mạnh của Nho giáo trong cách suy nghĩ và cách sống các mối tương quan giám mục-linh mục-tu sĩ -giáo dân.
Công việc tiếp theo là tìm mọi cách áp dụng tinh thần hiệp thông và tính bình đẳng ấy vào trong mọi tổ chức của Giáo hội ở cấp quốc gia cũng như ở các cấp địa phương thấp hơn, tức từ Hội đồng Giám mục Việt Nam đến Hội đồng Linh mục và Hội đồng Mục vụ Giáo phận và Giáo xứ. Nên nhớ tính hiệp thông cộng đoàn và bình đẳng căn bản của mọi Kitô hữu sẽ dẫn đến một cách ‘mới’ thể hiện Giáo hội mà trong đó mọi thừa tác có chức thánh hay không có chức thánh, đều có phần và đều phải góp phần tức tham gia hết mình vào công cuộc xây dựng Thân Mình Mầu Nhiệm Chúa Kitô là Giáo hội, theo đoàn sủng đã nhận lãnh từ Thiên Chúa để sinh ích cho toàn cộng đoàn (1 Cr 12, 4-30). Trong các tài liệu của Liên Hội đồng Giám mục Á châu, chúng ta luôn gặp từ ‘Participatory Church’. Đó là một khái niệm có thể được coi là ‘chủ lực’ trong Giáo hội học Á châu, trong cùng một chiều hướng với khái niệm ‘Giáo hội là Dân Chúa’ mà Công Đồng Vatican II đã triển khai và nhấn mạnh trong chương II của Hiến chế tín lý về Giáo hội ‘Ánh sáng muốn dân’. Tính hiệp thông sâu xa và tính bình đẳng căn bản của mọi Kitô hữu còn dẫn đến một phong cách lãnh đạo ‘không mang tính thống trị’ (non-dominating leadership) mà mang ‘tính cộng đoàn’ hơn. Nói cách đơn giản thì đó là phong cách lãnh đạo mang ‘tính dân chủ’ chứ không mang tính cá nhân, chuyên quyền, độc tài.
Nếu áp dụng tính hiệp thông cộng đoàn và tính bình đẳng căn bản trên vào cách tổ chức của giáo phận và giáo xứ, chúng ta thấy có rất nhiều việc cần làm. Một ví dụ: Hiện nay tại một số giáo phận có hội đồng linh mục nhưng trên thực tế thì cơ cấu này có trên giấy tờ hơn là trên thực tế, nên không đóng góp gì cho giới linh mục và cho giáo phận. Vả lại một tổ chức nặng tính hình thức, ban bệ thì không diễn tả được tính hiệp thông cộng đoàn và tính bình đẳng căn bản nói trên. Một ví dụ khác: Hiện nay chỉ có một vài giáo phận đã thành lập Hội đồng Mục vụ Giáo phận nhưng cũng chưa có hoạt động tương xứng như chức năng. Còn tại rất nhiều giáo xứ tuy đã có Ban Hành giáo hoặc Hội đồng Giáo xứ nhưng rất ít nơi có được một Hội đồng Mục vụ Giáo xứ đúng nghĩa. Trong lãnh vực cơ cấu của ba Hội đồng này chúng ta thấy có hai việc ‘cần làm và có thể làm’ : một là cần có một qui chế thống nhất, tiến bộ cho mỗi hội đồng; hai là cần có chương trình hành động cụ thể và liên tục; ba là riêng với các giáo dân thì cần có chương trình đào tạo bồi dưỡng hợp lý, tiệm tiến, liên tục, tiến bộ. Chúng tôi nhấn mạnh đến “tính tiến bộ” hay “cởi mở”của qui chế, vì chưng cũng một khoản luật sẽ được giải thích một cách rất khác nhau tùy theo khuynh hướng ‘bảo thủ’ hay ‘tiến bộ’.
Ví dụ: Giáo luật điều 536 viết như sau:
Số 1: “Nếu Giám mục giáo phận xét là thuận lợi, sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội đồng linh mục, thì trong mỗi giáo xứ nên thành lập Hội đồng Mục vụ, do cha Sở chủ trì, và trong đó các tín hữu cùng với những người chiếu theo chức vụ, tham gia vào việc chăm sóc mục vụ trong giáo xứ, cùng đóng góp sự cộng tác của mình vào việc cổ võ sinh hoạt mục vụ”.
Số 2: Hội đồng mục vụ chỉ có quyền tư vấn và được điều hành theo các qui tắc do Giám mục giáo phận ấn định”
Trong điều 536 của Giáo luật nêu trên chúng ta nên ghi nhận hai điều sau đây:
1) Giáo luật nêu lên ‘tính tự do’ tức ‘tính không bắt buộc’ phải thành lập Hội Đồng Mục vụ Giáo xứ: Nếu Giám mục giáo phận có khuynh hướng bảo thủ thì ngài sẽ coi nhẹ việc thành lập Hội đồng Mục vụ Giáo xứ, vì rõ ràng Giáo luật không hề bắt buộc mà chỉ là khuyên ‘nên’ thành lập cơ cấu này. Còn nếu Giám mục có khuynh hướng cởi mở và tiến bộ thì ngài sẽ trân trọng lời khuyên này, vì đây là lần đầu tiên Giáo luật đề xuất một Hội đồng như vậy và nguyên việc Giáo luật gọi Hội đồng ấy là Hội đồng Mục vụ thì đã mang một ý nghĩa rất quan trọng. Do đó Giám mục giáo phận sẽ xem xét một cách nghiêm túc vấn đề và sẽ nỗ lực để thành lập Hội đồng Mục vụ Giáo xứ.
2) Giáo luật đề cập đến ‘quyền tư vấn’ chứ không phải là ‘quyền quyết định’ của Hội đồng Mục vụ Giáo xứ: Nếu Giám mục và linh mục có khuynh hướng bảo thủ thì các ngài sẽ coi nhẹ Hội đồng Mục vụ Giáo xứ vì Hội đồng Mục vụ Giáo xứ chỉ có tiếng nói tư vấn chứ không hề có tiếng nói quyết định. Nhưng nếu có khuynh hướng tiến bộ và cởi mở thì các ngài sẽ coi trọng những thảo luận và quyết định của Hội đồng này, vì đây là thời cơ thuận lợi nhất để các ngài có thể cai quản tốt giáo phận hay giáo xứ được giao cho mình, theo một phong cách lãnh đạo thấm nhuần Thánh Kinh Kitô giáo, phong cách lãnh đạo được mệnh danh là ‘không mang tính thống trị’ mà chan chứa tính cộng đoàn và phục vụ.
1.2 Nghiên cứu, học hỏi về các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ (cũng được gọi là ‘Cộng đoàn Kitô cơ bản’ (Basic Christian Communities) và các ‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’ (Basic Human Communities) là các Cộng đoàn đã và đang được xây dựng một cách có kết quả tại hầu hết các Giáo hội trong khu vực. Các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ là các Cộng đoàn chỉ gồm những người cùng một niềm Tin Kitô giáo mà thôi. Còn các ‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’ thì qui tụ tất cả mọi người không phân biệt có niềm Tin tôn giáo hay không hoặc có niềm tin tôn giáo nào. Các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ hiện được coi là tương lai của Giáo Hội Mỹ châu la tinh cũng như Á châu. Trong Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’ chúng ta có được sự lượng giá có thẩm quyền của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu và của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II về các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ như sau:
“Trong bối cảnh ấy (bối cảnh canh tân) và dựa trên kinh nghiệm mục vụ của mình, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh tới giá trị của các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản như một phương thế hữu hiệu đẩy mạnh sự hiệp thông và cộng tác trong các Giáo xứ và Giáo phận và như một lực lượng thực sự cho công cuộc Phúc Âm hóa. Những tập thể nhỏ bé này sẽ giúp các tín hữu sống thành những Cộng đoàn đức Tin, cầu nguyện và yêu thương như các Kitô hữu đầu tiên (x. Cv 2,44-47; 4,32-35). Các Cộng đoàn này còn giúp các thành viên sống Tin Mừng trong tinh thần yêu thương huynh đệ và phục vụ,, từ đó trở thành khởi điểm vững chắc cho một xã hội mới, biểu hiện một nền văn minh tình thương. Cùng với Thượng Hội Đồng, tôi khuyến khích Giáo hội tại Á châu, chỗ nào có thể được, hãy coi các Cộng doàn cơ bản ấy như một nét tích cực trong công tác Phúc Âm hóa của Giáo hội” (số 25).
Vì thế Giáo hội Việt Nam nên nghiên cứu tài liệu và kinh nghiệm về các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ này. Nếu cần thì nên gửi người sang Phi-lip-pin, Thái Lan, Hàn Quốc hay Đài Loan để nghiên cứu học hỏi và tham quan thực tế. Trong Khóa huấn luyện ‘Thừa Tác Viên Lời Chúa’ (Ministers of the Word Training) kéo dài 4 tháng mà tôi có dịp tham dự tại Viện Mục vụ Đông Á (East Asian Pastoral Institute) năm 1997, thì trong chương trình có một đề tài về các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ và do một nữ tu Dòng Nữ Tử Bác Ái giảng dậy và hướng dẫn học viên (linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân) đi tham quan thực tế. Nữ tu này là một trong những chuyên viên về ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ được các chủng viện và các giáo phận của Phi-lip-pin và của một số Giáo hội Á châu khác mời giảng dậy, thậm chí được cả một số Hội đồng Giám mục khác mời trình bày. Trước đó vào năm 1995 tôi cũng có dịp tham dự một Khóa bồi dưỡng khác có tên là ‘Xây dựng Cộng đoàn Kitô’ (Building Christian Communities) của Viện Phát Triển Mục Vụ (Institute for Pastoral Development) cũng có nội dung tương tự như Khóa nói trên.
Vậy thì Giáo hội Việt Nam và đặc biệt một số giáo phận có nhiều điều kiện hơn nên quan tâm đến vấn đề ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ và ‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’ Điều đáng mong ước là từ từ hai loại Cộng đoàn ấy sẽ được xây dựng trong lòng các giáo xứ, các hội đoàn và trong khu vực dân cư của giáo xứ. Các Cộng đoàn này sẽ là chiếc đòn bẩy có tác động lớn trên đời sống Giáo hội và đời sống cộng đồng xã hội, vì các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ là môi trường sống sự hiệp thông sâu xa và tính bình đằng căn bản của mọi Kitô hữu và là Cộng đoàn chứng nhân loan báo Tin Mừng một cách hữu hiệu trong khu vực. Còn các ‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’ sẽ là nhân tố thay đổi hạ tầng xã hội trong mọi lãnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi sinh. Các ‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’ sẽ là môi trường hợp tác giữa mọi thành phần dân chúng, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc nhằm thay đổi và nâng cao đời sống người dân, nhất là những người nghèo.
1.3 Trong quan hệ với Vatican và với Giáo hội toàn cầu cũng như với các Giáo hội chị em xung quanh, Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ quan tâm đến việc thể hiện sự trưởng thành của một Giáo hội đã có 300-400 năm lịch sự hào hùng với hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn vị tử đạo (mà 117 vị đã được Giáo hội phong thánh năm 1998) và có một con số tín hữu đáng kể, khoảng 7-8 triệu người trên tổng số 80 triệu dân. Tại Á châu ngoài Phi-lip-pin ra, không có một Giáo hội nào khác có được một tỷ lệ 7-8% người công giáo trên tổng số người dân như ở Việt Nam. Giáo hội Việt Nam còn đáng tự hào về lịch sử đấu tranh dành độc lập của dân tộc, trong đó rất nhiều con cái của Giáo hội đã thể hiện tinh thần hy sinh vì quê hương, vì đồng bào. Vì thế Giáo hội Việt Nam cần ý thức những thế mạnh của mình, thể hiện mình là Giáo hội của Việt Nam và xây dựng các mối quan hệ “đối nội” cũng như “đối ngoại” một cách trưởng thành. Đối nội là đối với Giáo hội Roma, Giáo hội toàn cầu và giữa các thành phần khác nhau trong Giáo hội địa phương. Còn đối ngoại là đối với Chánh quyền, với các tôn giáo bạn và với đồng bào.
2. Liên quan tới tinh thần đối thoại với ba đối tác khác nhau là nền văn hóa Việt Nam, là các tôn giáo bạn ở Việt
TỪ GIÁO HỘI LÀ “MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG”
LÀ “CỘNG ĐOÀN DÂN CHÚA”,
ĐẾN “GIÁO HỘI LÀ CỘNG ĐOÀN MÀ TRONG ĐÓ
MỌI NGƯỜI CÓ PHẦN VÀ PHẢI GÓP PHẦN
(PARTICIPATORY CHURCH)”
A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Giúp các học viên nắm bắt được những nét chính yếu và nổi bật nhất trong Giáo hội học ngày nay. Từ sau Công Đồng Vatican II, mỗi khi nói đến Giáo hội thì người ta không thể không trình bày Giáo hội là mầu nhiệm hiệp thông, là cộng đoàn Dân Chúa và là cộng đoàn mà trong đó mọi người có phần và phải góp phần (Trong ngôn ngữ tiếng anh là Participatory Church: có người dịch là Giáo hội tham gia).
B. TIẾP CẬN VẤN ĐỀ
I. PHẦN THAM GIA CỦA HỌC VIÊN:
1. Khi nói đến Giáo hội Công giáo, anh chị nghĩ đến cái gì trước nhất: cơ sở vật chất đồ sộ, tổ chức vững mạnh chặt chẽ, thành tích vẻ vang, tinh thần bất khuất hay điều gì khác?
2. Tại sao trước Công đồng Vatican II người ta thường trình bày Giáo hội bằng hình kim tự tháp: Đức Giáo hoàng ở trên đỉnh cao chót vót; dưới ngài là các tầng khác nhau dành cho các giám mục, linh mục, tu sĩ và dưới cùng, ở đáy kim tự tháp mới là giáo dân. Hình ảnh ấy làm nổi bật điều gì? Có phù hợp với thực tại Giáo hội không? Tại sao?
3. Ngày nay Giáo hội thường được trình bày là cộng đoàn Dân Chúa, là mầu nhiệm hiệp thông, là cộng đoàn mà trong đó mọi người có phần và phải góp phần (Giáo hội tham gia). Cách trình này mới này đúng hay sai? Tại sao? Anh chị thử dùng một hình vẽ để trình bày Giáo hội theo quan điểm của Vatican II.
II. PHẦN DẪN Ý CỦA HƯỚNG DẪN VIÊN:
Quan điểm Thần học Công giáo phổ biến trước Công đồng Vatican II xem Giáo hội là hình ảnh Chúa Kitô. Đây là một quan niệm mà nhà thần học Y. Congar gọi là “Kitô nhất nguyên: Christomonisme”, nghĩa là đặt quá nặng vào khía cạnh cơ chế hữu hình mà bỏ quên mặt mầu nhiệm và bí tích của Giáo hội. Chính hai chiều kích sau này mới thực là điểm đầy ơn ích, còn mặt cơ chế chỉ là diện, tức mặt nổi bên ngoài.
Sở dĩ nền Giáo hội học tiền Công đồng đi tới quan niệm thiếu sót đó là vì nhiều lý do:
- Sau khi được vua Constantin cho tự do, Giáo hội từ thế kỷ thứ 4 trở đi phát triển rất mạnh, tới độ cuối cùng đồng hóa luôn thế quyền vào giáo quyền. Phẩm trật cũng theo đó mà phát triển và uy quyền của một số hồng y, giám mục trở nên như những lãnh chúa.
- Càng phản ứng lại các thuyết đề cao mặt mầu nhiệm vô hình của Giáo hội cũng như chống lại chủ nghĩa bảo hoàng (muốn qui phục thần quyền vào thế quyền) Giáo hội thời Trung cổ lại càng cương lên về mặt cơ chế.
Cho đến thế kỷ XX Giáo hội học dường như chỉ là những phản ứng chống đỡ các trào lưu bên ngoài, nhưng dựa trên một nền tảng phát triển đã mang phần lệch lạc. Tuy nhiên, bước vào thế kỷ XX, nhất là kể từ sau hai cuộc chiến thế giới, với khủng hoảng niềm tin vào cơ chế, với khuynh hướng quay về với tôn giáo sau những thất vọng của con người về lịch sử đồng thời với sự thay đổi tâm thức của con người (khuynh hướng tục hóa gia tăng), Giáo hội đã quay trở về với chính mình, nhận chân và suy gẫm những khiếm khuyết sai lầm và nhất quyết trở về lại tinh thần Phúc âm ban đầu qua cuộc triệu tập Công đồng Vatican II. Công đồng Vatican II, vì vậy, có thể nói là một Công đồng về Giáo hội. Giáo hội được quan niệm lại và toàn bộ nội dung được đúc kết trong hai Hiến chế: “Anh sáng muôn dân” (Lumen Gentium) và “Vui mừng và hy vọng” (Gaudium et Spes). Lumen Gentium nói lên tính chất huyền nhiệm và bí tích, Gaudium et Spes diễn tả khía cạnh hữu hình nhập thế của Giáo hội.
(Tài liệu Hướng dẫn Khóa Đào tạo cơ bản, Định Hướng Tùng Thư 1996, trang 9-11).
C. HỌC HỎI THÁNH KINH & CÔNG ĐỒNG
I. GIÁO HỘI LÀ MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG
1.1 Nền tảng Thánh Kinh:
* Con không chỉ cầu nguyện cho những người này nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, dế tất cả nên một , như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ ở trong chúng ta. Như vậy thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,20-21);
* “Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Kitô Giêsu, Đấng đã tự hiến làm gía chuộc mọi người ” (1 Tm 2,5-6);
* “Cũng như trong một thân thể, chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng; thì chúng ta cũng vậy: tuy nhiều nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Kitô, ai nấy liên đới với nhau như những bộ phận của một thân thể. Chúng ta có những đặc sủng khác nhau, tùy theo ân sủng Chúa ban cho mỗi người” (Rm 12, 4-6);
* “Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được đồng tâm nhất trí với nhau, như Đức Kitô đòi hỏi. Nhờ đó, anh em sẽ có thể hiệp ý đồng thanh mà tôn vinh Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 15, 5-6);
* “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau…..Họ đồng tâm nhất trí…” (Cv 2,44.45 );< br> * “Các tín hữu thời bấy giờ đông đảo mà chỉ có một lòng một ý …”( Cv 4,32 ).< br> 1.2 Giáo huấn của Công đồng:
“Vì Giáo hội ở trong Chúa Kitô như bí tích hoặc dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại, nên dựa trên giáo huấn của các Công đồng trước, Giáo hội muốn làm sáng tỏ bản tính và sứ mệnh phổ quát của mình cho tín hữu và toàn thế giới…..
“Bởi ý định khôn ngoan nhân lành, hoàn toàn tự do và mầu nhiệm Chúa Cha hằng hữu đã tạo dựng vũ trụ; Ngài dã quyết định nâng loài người lên tham dự đời sống thần linh, và Ngài đã không từ bỏ con người sa ngã trong Ađam, nhưng luôn ban sự trợ giúp để họ được cứu rỗi, nhờ Chúa Kitô Đấng Cứu thế, là ‘hình ảnh Thiên Chúa vô hình, Con đầu lòng của tạo vật ‘ (Cl 1,15). Thực vậy, từ muôn thuở tất cả mọi người được tuyển chọn, Chúa Cha ‘đã biết trước và đã tiền định cho họ trở nên giống hình ảnh Con Chúa hầu người Con đó được trở nên trưởng tử trong nhiều anh em’ (Rm 8,29). Thế nên Chúa Cha muốn qui tụ những ai tin kính Chúa Kitô vào trong Giáo hội”……
“Như thế Giáo hội phổ quát xuất hiện như một dân tộc hiệp nhất do sư hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 1.2.4).
1.3 Khai triển của Tông huấn “Giáo hội tại châu Á”:
“Vì Thiên Chúa đã muốn «toàn thể nhân loại trở thành một Dân của Thiên Chúa, làm nên một Thân Thể của Đức Kitô và được xây dựng thành một đền thờ của Chúa Thánh Thần nên trong thế giới này, Giáo Hội chính là «kế hoạch hữu hình của tình thương Thiên Chúa đối với nhân loại, là bí tích của ơn cứu độ» Bởi đó, không thể hiểu Giáo Hội như là một tổ chức xã hội hay cơ quan phúc lợi xã hội. Dù còn gồm chứa nhiều người tội lỗi, Giáo Hội vẫn phải được coi là môi trường ưu việt cho Thiên Chúa và con người gặp gỡ nhau, cũng là nơi Thiên Chúa chọn mặc khải đời sống mầu nhiệm sâu xa của Ngài và thực hiện chương trình cứu độ thế giới.
“Mầu nhiệm kế hoạch tình yêu ấy của Thiên Chúa đã hiện diện và hoạt động trong chính cộng đoàn những người đã từng nhờ phép Rửa mà cùng được mai táng trong cái chết với Đức Kitô, để rồi cũng như Đức Kitô đã chỗi dậy từ cõi chết nhờ vinh quang của Chúa Cha, họ cũng được bước đi trong cuộc sống mới (x. Rm 6,4). Trọng tâm của mầu nhiệm Giáo hội chính là mối hiệp thông nối kết Đức Kitô Lang Quân với mọi người đã lãnh nhận phép Rửa. Nhờ sự hiệp thông sống động và có khả năng đem lại sự sống ấy, «các Kitô hữu không còn thuộc về mình nữa, nhưng thuộc hẳn về Chúa» Một khi kết hợp với Chúa Con trong mối dây yêu thương của Thánh Thần, các Kitô hữu cũng kết hợp với Chúa Cha, và từ sự hiệp thông này mà các Kitô hữu được hiệp thông với nhau qua Đức Kitô trong Thánh Thần” Nếu thế, mục tiêu trước tiên của Giáo Hội là phải sống bí tích biểu hiện sự kết hiệp thâm sâu của con người với Thiên Chúa và, vì sự hiệp thông giữa con người với nhau xuất phát từ sự hiệp thông của họ với Thiên Chúa nên Giáo hội cũng là bí tích của sự hiệp nhất của nhân loại. Nơi Giáo hội sự hiệp nhất ấy đã khởi sự. Nhưng Giáo hội cũng đồng thời «là dấu chỉ và là dụng cụ» của sự hiệp nhất sẽ được hoàn thành trong tương lai.
“Một đòi hỏi thiết yếu của đời sống trong Đức Kitô là bất cứ ai hiệp thông với Chúa thì phải sinh hoa kết quả: «Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái » (Ga 15,5). Như thế, cũng đúng khi bảo rằng ai không sinh hoa kết quả, thì người ấy đã không ở trong sự hiệp thông: «Cành nào không sinh hoa trái thì (Cha Thầy) sẽ tỉa đi» (Ga 15,2). Hiệp thông với Đức Giêsu, và từ đó phát sinh sự hiệp thông giữa các Kitô hữu với nhau, chính là điều kiện rất cần thiết để sinh hoa kết quả; và sự hiệp thông với người khác, một món quà của Đức Kitô và Thánh Thần, chính là hoa quả tuyệt vời mà cành cây có thể sinh ra. Hiểu như thế thì hiệp thông và truyền giáo là hai việc không thể tách rời nhau. Chúng thấm nhập và bao hàm lẫn nhau đến nỗi «hiệp thông vừa là gốc vừa là hoa quả của truyền giáo: hiệp thông phát sinh truyền giáo và truyền giáo được hoàn thành trong hiệp thông» (số 24 ).< br>
II. GIÁO HỘI LÀ CỘNG ĐOÀN DÂN CHÚA
2.1 Nền tảng Thánh Kinh:
“Này đây sẽ tới ngày Ta ký giao ước mới với nhà Israel và nhà Giuđa…Ta sẽ ban luật Ta trong lòng chúng và khắc ghi luật ấy vào trái tim chúng và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, và chúng sẽ trở thành dân Ta….Tất cả những người từ nhỏ chí lớn đều nhận biết Ta. Đó là Lời Chúa phán” (Gr 31, 32-34, được “Anh sáng muôn dân” số 9 trích lại).
2.2 Giáo huấn của Công Đồng:
“Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi loài người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn qui tụ họ thành một dân tộc để họ nhận biết chính Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài trong thánh thiện. Vì thế Ngài đã chọn dân Israel là dân Ngài, đã thiết lập với họ một giao ước, giáo huấn họ dần dần bằng cách tỏ chính mình và ý định mình qua lịch sử ấy, và Ngài đã thánh hóa họ để dành riêng cho mình. Tuy nhiên tất cả những điều ấy chỉ là chuẩn bị và hình bóng của giao ước mới và hoàn hảo, sẽ được ký kết trong Đức Kitô, và là chuẩn bị cho mạc khải trọn vẹn hơn do chính Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể mang đến…..
“Chúa Kitô đã thiết lập minh ước mới trong máu Người (x. 1 Cr 11,25), Người triệu tập dân chúng từ dân Israel và từ các dân ngoại, họp thành một khối duy nhất trong Thánh Thần chứ không theo xác thịt, để làm họ nên dân tộc mới của Thiên Chúa ”
(Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9)
2.3 Đặc điểm của Dân Chúa:
2.3.1 Dân Chúa có Đức Giêsu Kitô là thủ lãnh, là đầu:
“Dân thiên sai này có vị thủ lãnh là Chúa Kitô, “Đấng đã bị nộp vì tội lỗi ta và phục sinh cho ta nên công chính” (Rm 4,25) và bây giờ Người được một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu và đang hiển trị trên trời”
(Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9).
2.3.2 Dân Chúa có địa vị:
“Là được vinh dự và tự do làm con Thiên Chúa và Thánh Thần ngự trong tâm hồn họ như trong đền thờ”
(Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9).
“Những ai tin kính Chúa Kitô….được trở thành một dòng giống dược tuyển chọn, thành hàng tư tế vương gỉa, dân tộc thánh, dân tộc được Thiên Chúa thu phục
(x. 1 Pr 2,9-10; Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9).
2.3.3 Luật của Dân Chúa:
“Luật của họ là giới răn mới: phải yêu thương nhau như chính Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta
(x. Ga 13, 34; Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9 ).< br> 2.3.4 Cứu cánh của Dân Chúa:
“Cứu cánh của họ tức là phát triển thêm Nước Thiên Chúa, đã được Ngài khai nguyên trên trần gian, cho tới khi được Ngài hoàn tất trong ngày tận thế”
(Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 9 ).< br> 2.3.5 Dân Chúa tham dự chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Giêsu Kitô:
“Chức linh mục cộng đồng của các tín hữu và chức linh mục thừa tác hay phẩm trật cùng tham dự vào chức linh mục duy nhất của Chúa Kitô theo cách riêng của mình. ……Phần tín hữu, nhờ chức linh mục vương giả, cộng tác dâng thánh lễ và thi hành chức vụ đó trong việc lãnh nhận các bí tích, khi cầu nguyện và tạ ơn, bằng đời sống chứng tá thánh thiện, bằng sự từ bỏ và bác ái tích cực”
“Dân thánh Thiên Chúa cũng tham dự vào chức vụ tiên tri của Chúa Kitô bằng cách phổ biến chứng tá sống động về Người, nhất là qua đời sống đức tin và đức ái; và dâng lên Thiên Chúa của lễ ca tụng, hoa trái của những miệng lưỡi ngợi khen thánh Danh Người (x. Dt 13,15).
III. GIÁO HỘI LÀ CỘNG ĐOÀN MÀ TRONG ĐÓ MỌI NGƯỜI CÓ PHẦN VÀ PHẢI GÓP PHẦN
3.1 Nền tảng Thánh Kinh:
* Dụ ngôn những nén bạc:
“Quả thế, cũng như người kia sắp đi xa, liền gọi đầy tớ riêng của mình đến mà giao phó của cải mình cho họ. Ong cho người này năm nén, người kia hai nén, người khác nữa một nén, tùy khả năng riêng mỗi người. Rồi ông ra đi. Lập tức, người đã lãnh năm nén lấy số tiền ấy đi làm ăn buôn bán, và gây lời được năm nén khác. Cũng vậy, người đã lãnh hai nén gây lời được hai nén khác. Còn người đã lãnh một nén thì đi đào lỗ chôn giấu số bạc cuả chủ …..” (Mt 25,14-30).
* Một Thân Thể, một Thần Khí, một Phép Rửa…. nhiều ân sủng:
“Chỉ có một Thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được ơn để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người và trong mọi người.
Nhưng mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tùy theo mức độ Đức Kitô ban cho …(Ep 4, 4-7).
* Đặc sủng tuy nhiều, nhưng chung một gốc:
“Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người mỗi cách, là vì ích chung …….” (1 Cr 12,4-30).
3.2 Giáo huấn của Công Đồng:
“ Giáo hữu được qui tụ trong Dân Thiên Chúa và cấu thành Thân Thể duy nhất của Chúa Kitô dưới quyền của một Đầu duy nhất; dù họ là ai, họ vẫn được kêu gọi dùng hết sức lực đã nhận lãnh do lòng từ ái của Đấng Tạo Hóa và do ân huệ Đấng Cứu Thế để như những chi thể sống động, phát triển và thánh hóa Giáo hội không ngừng”
(Hiến chế tín lý về Giáo hội, số 33).
3.3 Triển khai tại châu Á:
Khái niệm Giáo hội mà trong đó mọi người có phần và góp phần (cũng được gọi là Giáo hội tham gia hay dự phần) được Liên Hội đồng Giám mục Á châu và các Giáo hội tại châu Á rất coi trọng và triển khai trong việc thiết lập cơ cấu mục vụ (Hội đồng linh mục, Hội đồng mục vụ giáo phận, Hội đồng mục vụ giáo xứ) và xây dựng cộng đoàn (cộng đoàn Giáo hội cơ bản, cộng đoàn nhân sinh cơ bản). Khi triển khai “tính tham gia” hay “dự phần” của mọi thành phần Dân Chúa vào việc thực thi sứ mạng của Giáo hội, Giáo hội vừa sống tính mầu nhiệm hiệp thông và tính cộng đoàn Dân Chúa của Giáo hội vừa áp dụng tính dân chủ - là một trong những đặc trưng của xã hội văn minh - vào sinh hoạt của Giáo hội.
D. THẢO LUẬN & ỨNG DỤNG
“Giáo hội là cộng đoàn hiệp thông, cộng đoàn Dân Chúa, cộng đoàn mà trong dó mọi người có phần và phải góp phần.”
1. Nhìn vào cách tổ chức và cách sống của gia đình mình:
1.1 Anh chị thấy có những nét nào làm nổi bật thực tại ấy?
1.2 Anh chị thấy có những nét nào đối nghịch với thực tại ấy?
1.3 Anh chị quyết tâm điều chỉnh gì để gia đình mình thể hiện rõ nét hơn tính hiệp thông, tính cộng đoàn dân Chúa và tính ‘tham gia’ của mọi thành viên gia đình?
2. Nhìn vào cách tổ chức và cách sống của nhóm (chia sẻ Lời Chúa, công tác xã hội…) hay cộng đoàn mình (hội đoàn, tu hội đời, dòng tu):
2.1 Anh chị thấy có những nét nào làm nổi bật thực tại ấy?
2.2 Anh chị thấy có những nét nào đối nghịch với thực tại ấy?
2.3 Anh chị muốn đề nghị gì để nhóm hay cộng đoàn mình thể hiện rõ nét hơn tính hiệp thông, tính cộng đoàn dân Chúa và tính ‘tham gia’ của mọi thành viên nhóm hay cộng đoàn?
3. Nhìn vào cách tổ chức và cách sống của giáo xứ mình:
3.1 Anh chị thấy có những nét nào làm nổi bật thực tại ấy?
3.2 Anh chị thấy có những nét nào đối nghịch với thực tại ấy?
3.3 Anh chị muốn đề nghị gì để giáo xứ thể hiện rõ nét hơn tính hiệp thông, tính cộng đoàn dân Chúa và tính ‘tham gia’ của mọi thành phần giáo xứ?
4. Nhìn vào cách tổ chức và cách sống của giáo phận mình:
4.1 Anh chị thấy có những nét nào làm nổi bật thực tại ấy?
4.2 Anh chị thấy có những nét nào đối nghịch với thực tại ấy?
4.3 Anh chị muốn đề nghị gì để giáo phận thể hiện rõ nét hơn tính hiệp thông, tính cộng đoàn dân Chúa và tính ‘tham gia’ của mọi thành phần giáo phận?
Đ. TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU I:
NHỮNG CÁCH THỂ HIỆN GIÁO HỘI KHÁC TẠI CHÂU Á CỦA THẬP NIÊN 90
Năm 1990 là cột mốc quan trọng đối với tất cả các Giáo hội Công giáo tại á châu: từ ngày 17 đến 27 tháng 7 Liên Hiệp các Hội đồng Giám Mục á châu (FABC: Federation of Asian Bishops Conferences) đã tổ chức Đại Hội toàn thể lần thứ 5 tại Bandung, Indonesia. Mục tiêu của đại Hội này là “suy nghĩ và tìm ra con đường Giáo hội phải đi tại lục địa rộng lớn là châu á này ”. Đại Hội đã dựa vào một tài liệu rất có giá trị được Oswald Hirmer soạn thảo chu đáo và đầy đủ, để làm tài liệu cơ bản cho các buổi thảo luận trong Đại Hội. Tài liệu này có tựa đề là “Alternative waỵs of being Church in the Asia of the 1990's, tạm dịch là “NHỮNG CÁCH THỂ HIỆN GIÁO HỘI KHÁC TẠI CHÂU Á CỦA THẬP NIÊN 90”. Tài liệu chia làm hai chương:
- Năm giai đoạn tiêu biểu của một Giáo hội trưởng thành.
- Chia sẻ Lời Chúa là một cách khác để thể hiện Giáo Hội.
*
* *
NĂM GIAI ĐOẠN TIÊU BIỂU CỦA MỘT GIÁO HỘI TRƯỞNG THÀNH
“Một Giáo hội trưởng thành ” vừa là ước mơ, vừa là mục tiêu cụ thể của rất nhiều người trong Giáo hội, từ giáo phẩm cho tới giáo dân. Trong suốt một thời gian dài, sinh hoạt của Giáo hội như dậm chân tại chỗ. Ai nấy đều có cảm tưởng là Giáo hội không cần phải thay đổi chi cả, vì đã hoàn hảo cả rồi! Nhưng Công đồng Vaticanô II đã thổi một luồng gió mới vào trong Giáo hội. Mọi người như bừng tỉnh và khám phá ra rằng: lý tưởng của một Giáo hội cộng đoàn hiệp thông vẫn còn là một thực tại phải tìm kiếm và xây dựng. Chính vì vậy mà khắp đó đây xuất hiện bao tìm tòi, thử nghiệm, khám phá hết sức lý thú và phong phú.
Khi đối chiếu với thực tế Giáo hội, chúng ta sẽ nhanh chóng nhận ra rằng: Không nhất thiết là năm giai đoạn phát triển này phải giống hệt nhau nơi mỗi giáo xứ, giáo phận. Đàng khác một giáo xứ, giáo phận có thể vào nhiều giai đoạn khác nhau tùy theo từng lãnh vực khác nhau của đời sống Giáo hội. Nhưng dựa vào năm giai đoạn tiêu biểu này, chúng ta dễ dàng khám phá ra giáo xứ, giáo phận của mình đang ở đâu, và biết được giai đoạn tiếp theo là như thế nào. Điều này rất quan trọng, vì năm giai đoạn đây cũng là năm cách thức khác nhau thể hiện Giáo hội… từ thấp tới cao, từ thiếu sót đến hoàn hảo. nếu lấy Vaticanô II làm chuẩn.
Giai đoạn 1: Một Giáo Hội đóng vai người chu cấp tất cả
1. Hình vẽ tượng trưng:
Đây là giai đoạn đã qua, tuy chưa hẳn đã hoàn toàn qua, của một Giáo Hội mà vị linh mục là trung tâm, là người ban phát ân sủng và ban lệnh cho mọi người. Giữa các tín hữu với nhau, họ chỉ là những cá nhân riêng lẻ, rời rạc… Nếu có hội đoàn, thì hội đoàn ấy cũng chỉ quây quần ở bên lề cộng đoàn và chỉ biết lo cho những người trong nội bộ mà thôi…
2. Ghi chú lịch sử:
Thật hữu ích nếu chúng ta nhớ lại mô hình trên của Giáo hội đã được phát triển như thế nào trong quá khứ. Nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn những khó khăn mà chúng ta phải đương đầu khi chúng ta muốn thực hiện bất kỳ nỗ lực nào nhằm thay đổi Giáo hội. Từ “giáo dân ” xuất phát từ từ Hy lạp Laos (nghĩa là dân) và từ này được Đức Giáo Hoàng Clêmentê I (93-97) sử dụng để phân biệt dân của Chúa với dân ngoại Ta Ethne.
Vào thế kỷ thứ III, các tu sĩ xuất hiện và đời sống tu trì sớm được coi là cách “hoàn hảo ” để thể hiện người kitô hữu. Giới tu sĩ xuất hiện như một loại “siêu ki tô hữu ”. Ngài Gratian, luật sư của Giáo bội đã tuyên bố thẳng thừng rằng “có hai loại ki tô hữu ”.
Đến thế kỷ thứ XI-XIII, với sự phát triển của giáo triều Rôma, giáo sĩ với giáo luật bước vào sân khấu. Một người giáo dân chẳng là cả, vì không có giáo luật mà cũng chẳng có uy tín. Vị mục tử trở thành ông chủ của đám tín hữu. Sự phân hóa giữa giáo sĩ và giáo dân thậm chí trở thành thù nghịch. Tông chỉ của Đức Bonifacio VIII có tựa đề “Giáo sĩ giáo dân ” (ngày 2 tháng 2 năm 1296) đã bắt đầu bằng những lời lẽ thế này: “Giáo dân là thù địch của giáo sĩ. Điều đó đã được minh chứng một cách mạnh mẽ trong quá khứ và lại được giảng dạy trong thời đại chúng ta hiện nay ”.
Giáo luật năm 1917 bảo đảm cho giáo dân quyền “được nhận từ giáo sĩ những ơn huệ thiêng liêng và sự hỗ trợ mạnh mẽ để được rỗi ” (Gl 682). Không có quyền nào khác được dành cho giáo dân trừ việc cho phép họ được dạy giáo lý (GL 1453-1455) và quyền quản lý quĩ của Giáo hội địa phương (GL 1562). Gánh nặng lịch sử của một hàng giáo dân “bị mất giá ” là di sản mục vụ của chúng ta và cần được ghi nhớ. Hàng thế kỷ của chế độ chu cấp cho tín hữu mọi ơn thiêng liêng cần thiết, mà không dành cho họ một quyền nào khác ngoài quyền được “nhận ”, đã để dấu ấn cho cả hàng giáo sĩ lẫn hàng giáo dân ngày nay.
Tuy nhiên các Nghị phụ Công đồng Vaticanô II đã cho chúng ta một cái nhìn mới về giáo dân và nhấn mạnh đến phẩm giá chung được mọi thành phần Giáo hội cùng nhau chia sẻ (LG 32).
Ngay cả trước Công đồng Vaticanô II, chúng ta nhận thấy sự đổi hướng trong “thần học của các vị giáo hoàng ”. Ngày 14 tháng 10 năm 1951, Đức Piô XII nhắn nhủ Đại Hội Thế giới lần I của Tông đồ giáo dân rằng: “Công giáo tiến hành… là công cụ trong tay hàng giáo phẩm và phải là cánh tay nối dài của hàng giáo phẩm, như đã xảy ra từ trước đến giờ ” (AAS 43,1951, trang 789). Tại Đại Hội thế giới lần 2 của chính tổ chức Tông đồ giáo dân này (ngày 5 tháng 10 năm 1957), Đức Piô XII đã sử dụng một ngôn ngữ khác: “Cách làm tông đồ này (Công giáo tiến hành) luôn luôn là cách làm tông đồ của hàng giáo dân và không được trở thành tông đồ của hàng giáo phẩm, ngay cả khi việc tông đồ ấy được thực hiện với sự uỷ nhiệm của Giáo hội ” (AAS 49,1957, trang 928).
Giai đoạn 2: Một Giáo Hội có hội đồng mục vụ giáo xứ
1. Hình vẽ tượng trưng:
Ở giai đoạn này, linh mục không còn đứng ở vị trí trung tâm nhà thờ, mà ngài ngồi cùng bàn với một nhóm người, được gọi là Hội đồng Mục vụ giáo xứ. Hội đoàn cũng chuyển từ vị trí bên cạnh nhà thờ vào vị trí giữa cộng đoàn. Các tín hữu đã tụ năm tụ ba, gắn bó với nhau hơn.
Sau Công đồng Vaticano II, Hội đồng Mục vụ giáo xứ được đưa vào rất nhiều xứ đạo trên toàn thế giới. HĐMVGX đã trở thành dấu chỉ của việc áp dụng một cái nhìn mới về Giáo hội mà Công đồng tuyên dương.
2. Một vài điểm pháp lý:
a/ Các Hội đồng ở cấp giáo phận:
Bộ Giáo luật đã tu chính nhắc đến 3 cơ cấu có tính tham vấn tại cấp giáo phận:
( Thượng Hội đồng giáo phận.
(“để trợ giúp vị Giám mục giáo phận ” GL 460).
( Hội đồng Linh mục.
(“…nhằm lợi ích mục vụ ” GL 495,1) và
( Hội đồng Mục vụ
(“…nhằm đưa ra những kết luận cụ thể ” GL 511).
Phạm vi của 3 cơ cấu trên bao trùm lẫn nhau. Giáo luật rất uyển chuyển với 3 tổ chức này.
- Thượng Hội đồng giáo phận (THĐGP) thì hoàn toàn có tính tự do, không bắt buộc. Nó có thể được triệu tập bất cứ lúc nào mà Giám mục cảm thấy tình hình cho phép (GL 461, l). Có thể có những thành viên giáo dân trong THĐGP (GL 463, l.5). Giám mục chủ trì THĐGP (Gl 500, l). Điều đó không có nghĩa là bắt buộc ngài phải chủ tọa cuộc họp. Ngài có thể chủ tọa mà ngài cũng có thể không chủ tọa cuộc họp mà vẫn chủ trì THĐGP khi ngài hiện diện tại bàn danh dự và tham gia tích cực vào thảo luận.
- Hội đồng Linh mục (HĐLM) có tính cách bắt buộc. HĐLM tiếp tục hiện hữu và chỉ tan rã khi vị Giám mục từ trần. HĐLM gồm các linh mục (GL 495, l). HĐLM không có ý trở thành một thứ thượng viện hoặc ưu tú viện. HĐLM có ý trở thành một cơ cấu tư vấn đối với vị Giám mục và một cách nào đó biểu lộ sự hiệp nhất của hàng giáo sĩ giáo phận xung quanh Giám mục.
- Hội đồng mục vụ (HĐMV) có tính cách tự do. Tuy nhiên có lý đo để giám mục có thể dùng HĐMV giáo phận như là một công cụ then chốt cho việc cai quản tốt giáo phận. HĐMV có mặt khi mà mọi người trong Giáo hội, không phân biệt vai trò của họ, có tiếng nói quan trọng đối với công việc của Giáo hội, đối với phương hướng mục vụ và việc làm sao để Tin Mừng được rao giảng thích đáng. Vì thế HĐMV hết sức quan trọng và cần thiết và có đất sống. Vai trò của HĐMV rất quyết định bởi vì sự đối thoại bên trong Giáo hội ở một mức rộng rãi hơn sẽ thúc đẩy một sự hỗ trợ rộng lớn hơn trong các quyết định.
HĐMV khiến điều đó thành khả thi nhờ lòng chân thành thực hành quyền được phát biểu ý kiến và quyền được lắng nghe khi có quyết định (GL 212).
HLMV phải được triệu tập ít nhất một năm một lần (Gl 5 14).
b/ Hội đồng Mục vụ ở cấp giáo xứ:
Nếu Giám mục thấy thuận lợi, một HĐMVGX sẽ được thiết lập trong mỗi giáo xứ. HĐMVGX sẽ do linh mục xứ chủ trì và có quyền bỏ phiếu có tính cách tư vấn (Gl 536).
Sự kiện HĐMVGX có tính tự do, không bắt buộc, không hề có nghĩa rằng nó không quan trọng. Thật ra thì phải khuyến khích mỗi giáo xứ nên có một HĐMV. Đúng đây là lần đầu tiên Giáo luật đề xuất một HĐ như thế, cho nên cần phải coi lời đề xuất ấy một cách nghiêm túc. Việc Giáo hội gọi HĐ ấy là HĐMV cũng có ý nghĩa; ý nghĩa đó là mọi thành viên chia sẻ trách nhiệm mục vụ của giáo xứ, bên cạnh vị linh mục, bên cạnh vị mục tử.
“Chủ trì ” (giống như Giám mục chủ trì HĐLM) không có nghĩa là linh mục xứ phải ngồi chủ tọa các buổi họp của HĐMVGX. Linh mục xứ có thể chủ tọa mà cũng có thể không, nhưng vẫn là chủ trì, nếu ngài tán thành cuộc họp của HĐMVGX hoặc ngài có mặt giữa các thành viên.
Sự việc HĐMVGX chỉ có tiếng nói tư vấn không có nghĩa là những thảo luận và quyết định của HĐ không quan trọng. HĐMVGX mở ra khả năng cai quản tốt chia một kiểu lãnh đạo thấm nhuần Kinh Thánh Ki tô giáo. một kiểu lãnh đạo không thống trị (non-dominating leadership).
Khi nói đến đầu phiếu và quyết định trong đời sống Giáo hội, chúng ta chấp nhận sự kiện rằng Giáo hội, không phải là một thể chế dân chủ. Tuy thế, Giáo hội cũng không phải là độc tài. Mặc dầu “mọi quyền hành không do dân mà ra ”, nhưng những luật lệ dân chủ cơ bản của cách hành xử của loài người cần được tuân giữ để chu toàn sứ mạng chung đã được ban cho toàn thể dân Chúa. Cách hành xử trong cộng đoàn, Giáo hội đặt nền tảng trên “sự bình đẳng đích thực giữa tất cả mọi người về phẩm giá và hoạt động chung đối với mọi tín hữu ” (LG 32), và được giới luật Chúa hướng dẫn: “…anh em chỉ có một Thầy và tất cả là anh chị em với nhau ” (Mt 23,8).
Giai đoạn 3: Một Giáo Hội thức tỉnh
1. Hình vẽ tượng trưng:
Tín hữu ở giai đoạn này đã tập hợp thành nhiều nhóm khác nhau và ai nấy đều muốn hiểu sâu hơn về Giáo hội. Họ cùng nhau tìm hiểu: Giáo hội là gì? Giáo hội là ai? trong các buổi nhóm họp. Vị linh mục cũng tham dự vào sinh hoạt các nhóm chứ không chỉ đứng ở bục giảng mà giảng như giai đoạn 1.
Điều này xảy ra khi trong giáo xứ có nhiều giáo dân không chịu bằng lòng chỉ là những cá nhân đi lễ ngày Chúa nhật. Họ mơ ước một cái gì lớn hơn, sâu xa hơn và họ đi tìm…
2. Ghi chú tổng quát:
Một tinh thần thức tỉnh có thể được hình thành trong một giáo xứ, do tình trạng thiếu linh mục, do các thư mục vụ của Giám mục, do các bài giảng, do Kinh Thánh, do các khóa học hỏi, do cảm nghiệm về việc Giáo hội được thể hiện một cách khác, ở một nơi nào đó, do ý thức về những giá trị được đòi hỏi ở bên ngoài Giáo hội, thí dụ: việc tham khảo ý kiến, sự bình đẳng, tinh thần đồng trách nhiệm v. v…
Nếu cả giáo xứ ở trong cùng dòng chảy như thế thì hàng giáo sĩ và những người lãnh đạo cộng đoàn phải chấp nhận một cái nhìn mới. Có thể sau đây là một số lãnh vực cần có một cái nhìn mới chăng?
( Là hay thuộc về Giáo hội thì có ý nghĩa gì?
( Được thanh tẩy (rửa tội) thì có ý nghĩa gì?
( Phục vụ tha nhân, hợp tác với người khác trong Giáo hội, làm chứng, rao giảng Tin Mừng, sống Tin Mừng hôm nay… có ý nghĩa gì?
( Giáo hội phải làm gì với những vấn đề của thế giới ngày hôm nay. Bằng cách gì và phương pháp nào chúng ta đối phó với bất công và tội ác? Người kitô hữu có liên lụy như thế nào trong các đảng phái chính trị, trong các hiệp hội v. v…?
( Có thể có những cách khác để thể hiện Giáo hội không, ví dụ trong các Cộng đoàn Kitô nhỏ? Là người chỉ đi lễ ngày Chúa nhật có đủ không? Tại sao trong các cộng đoàn Ki tô nhỏ lại có nhiều chia sẻ có tính chất riêng tư như vậy? Tại sao các cộng đoàn ấy lại có thể biến đổi thế giới chung quanh họ? v. v….
( Việc lãnh đạo trong Giáo hội được hành xử như thế nào? Vấn đề các đoàn sủng khác nhau của tín hữu ra sao? Các người lãnh đạo được tuyển lựa làm sao? Các người lãnh đạo cộng đoàn có thể luân phiên nhau lãnh đạo hay cứ ở vị trí đó mãi không? v. v….
Đưa các chương trình gây ý thức vào trong giáo xứ đòi hỏi nhiều cách tiếp cận khác nhau, khác với cách nói với dân chúng. Chương trình gây ý thức mời dân chúng đón nhận một cái nhìn mới và thay đổi một giá trị. Các giá trị không thể bị áp đặt mà phải được chấp nhận cách tự do như một vấn đề lương tâm.
Trong các chương trình ý thức, chính dân chúng phải tích cực tham dự vào quá trình và được phép tự mình khám phá một chân trời mới hay một cái nhìn mới. Các chứng cứ và sự kiện cần được cung cấp, nhưng chúng có thể được dân chúng chấp nhận hay gạt bỏ. Cách trình bày chúng phải chờ cho có một cơ hội thuận lợi mới mong đạt kết quả mong muốn.
Giai đoạn 4: Một Giáo Hội có nhiều nhóm trách nhiệm
1. Hình vẽ tượng trưng:
Trong một giáo xứ mà người tín hữu ý thức trách nhiệm chung của mình, thì các “nhóm trách nhiệm ” hoặc các uỷ ban sẽ được phát triển, để đáp ứng các nhu cầu của cộng đoàn. Vị linh mục trở thành người tổ chức các nhóm đó. Kiểu mẫu này vẫn y nguyên về cơ bản nếu một giáo xứ chia ra thành nhiều xóm giáo.
2. Ghi chú tổng quát:
“Giáo hội với các nhóm trách nhiệm ” là một bước dài tiến tới “một Giáo hội mà mọi người góp phần ” (participa- tory church). Những nhiệm vụ căn bản của Giáo hội được thực hiện một cách hữu hiệu, mọi việc đều được tổ chức hoàn hảo…
Tuy nhiên một giáo xứ bình thường. thường bị lúng túng vì có nhiều mối quan tâm và thường bị giằng co bởi nhiều nhóm người muốn được giáo xứ quan tâm tới. Thí dụ, các nhóm trách nhiệm được mời gọi để quan tâm tới giới trẻ, giới già, giới trung niên, những người mới cưới cũng như những người ly hôn, người bệnh, người thất nghiệp, người lao động, các bà nội trợ, dân di cư, người nghèo hoặc bị giằng co giữa hoạt động xã hội, giáo lý, phụng vụ, hội đoàn v. v… Các nhóm trách nhiệm khác nhau có thể cạnh tranh nhau về thời gian và mối quan tâm. Cần có đôi chút huấn luyện đối với những người này, cả về mặt kỹ năng, cả về mặt đời sống tâm linh. Mối nguy cơ là các thành viên của các nhóm trách nhiệm này được đào tạo để làm như công chức, mà không xây dựng cộng đoàn giữa họ hoặc giúp họ trưởng thành về mặt tâm linh và trí tuệ. Những người chức trách trong Giáo hội có thể thỏa mãn ở chỗ đã có được một Giáo hội hữu hiệu trong đó các nhiệm vụ cần thiết đều được chu toàn cách hoàn hảo. Việc đào tạo có thể chỉ giới hạn vào sự huấn luyện kỹ năng mà thôi.
Có 4 lãnh vực cần được đào tạo. Đó là:
a/ Đời sống tâm linh (đào sâu niềm tin, cầu nguyện v. v…)
b/ Xây dựng thái độ, giá trị, ý thức (phục vụ, không quyền lực, xây dựng cộng đoàn, làm việc nhóm, trách nhiệm xã hội)
c/ Huấn luyện kỹ năng (cách đọc, điều hành một buổi họp, giải quyết vấn đề, linh hoạt v. v…)
d/ Thông tin, kiến thức (kiến thức về thần học, kiến thức tổng quát về xã hội, v. v…)
Giai đoạn 5: Một Giáo Hội hiệp thông giữa các cộng đoàn
1. Hình vẽ tượng trưng:
Chúng ta coi Giáo hội hiệp thông giữa các cộng đoàn là Giáo hội lý tưởng. Các cộng đoàn này có thể được gọi là các cộng đoàn đức tin Ki tô, cộng đoàn cơ bản, cộng đoàn Giáo hội hoặc cộng đoàn Ki tô nhỏ (Christian Faith or Basic or Ecclesial or Small Christian Communities).
Có 4 nét đặc trưng thuộc về các cộng đoàn này:
1/ Các người láng giềng nhóm họp với nhau ngoài những giờ chính thức của nhà thờ.
2/ Họ lấy việc Chia Sẻ Tin Mừng làm nền tảng thiêng liêng của Cộng đoàn.
3/ Họ hỗ trợ nhau và cùng làm việc với nhau.
4/ Họ hiệp nhất với các nhóm khác của giáo xứ và hiệp nhất với Giáo hội phổ quát.
2. Ghi chú tổng quát:
Giáo hội như mối hiệp thông giữa các cộng đoàn là một lý tưởng, cũng cao siêu như Tình yêu và Đức ái ki tô giáo. Chẳng bao giờ chúng ta đạt được lý tưởng đó hoàn toàn, nhưng vẫn luôn là lý tưởng đem lại định hướng và hy vọng cho ta. Lý do thần học sâu xa nhất nằm ở trong đời sống nội tại của Thiên Chúa Ba Ngôi được phản chiếu nơi những người được mời gọi để trở nên thành viên của gia đình Thiên Chúa.
Mối hiệp thông của các cộng đoàn có thể phản ánh Giao ước Tình yêu của Thiên Chúa với dân Người trong một cách thức sâu xa hơn sự tập hợp của các cá nhân đi lễ.
Nếu bạn theo đuổi một quan điểm như thế, thì bất kỳ một hoạt động mục vụ nhỏ bé nào cũng có định hướng và trở thành một giai đoạn tiến về phía trước. Những giai đoạn tiến tới lý tưởng ấy có thể là như sau:
( Cổ võ mọi nhóm nuôi dưỡng một tương quan cá vị (personal) và đức tin sâu sắc hơn,
( Bắt đầu các Nhóm Chia Sẻ Lời Chúa qui tụ những ai thích sinh hoạt này trong giáo xứ, chưa qui tụ những người cùng ở chung một địa bàn khu xóm.
( Giao cho các nhóm ấy một số trách nhiệm mà thường thì được tổ chức từ trung tâm (ví dụ chuẩn bị đón nhận các bí tích, chuẩn bị phụng vụ v. v…)
( Khuyến khích các nhóm cầu nguyện.
( Tổ chức những buổi cầu nguyện hoặc Chia sẻ Tin Mừng trong Mùa Vọng và Mùa Chay
( Dâng Thánh lễ tại nhà cho những người ở cùng xóm tới dự.
( Thực hiện việc chia sẻ Lời Chúa trong các nhóm hiện hữu trong giáo xứ (ví dụ HĐMV, đoàn thể, nhóm trách nhiệm v. v…)
( Chấp nhận một cung cách lãnh đạo nghiêng về linh hoạt và gợi hứng trái ngược với kiểu lãnh đạo thống trị và chu cấp.
( Định giá mọi sinh hoạt mục vụ bằng cách đặt câu hỏi như sau:
_ “Chúng ta mời gọi dân chúng hỗ trợ chúng ta thực hiện một trách nhiệm nào hay chúng ta giúp họ thực thi trách nhiệm riêng của chính họ ?”
_ “Liệu chúng ta đang chu cấp hay chúng ta đang lạo điều kiện cho các tín hữu để chính họ thực hiện bất kỳ điều gì mà họ có thể hoặc phải thực hiện ?”
Linh hồn của một Giáo hội hiệp thông giữa các cộng đoàn chính là tinh thần anh chị em trong Đức Kitô, tôn trọng phẩm giá chung của mọi người (dù chức vụ có khác nhau) và chấp nhận trách nhiệm chung để thực thi sứ mạng của Đức Kitô trong thế giới.
Cách thức khác nhau biểu lộ Giáo hội tựu trung là sống như một cộng đoàn yêu thương với trách nhiệm là làm sao để:
Trở thành dấu chỉ về một xã hội khác, một xã hội không được xây dựng trên sự cạnh tranh tàn bạo hoặc trên sự cưỡng bức chia sẻ, nhưng trên sự chia sẻ trong tình huynh đệ.
Trở thành dấu chỉ về một cộng đoàn khác không theo qui tắc của những nhà độc tài say mê quyền lực nhưng là một cộng đoàn trong đó sự lãnh đạo không mang tính thống trị mà đầy tính phục vụ.
Trở thành dấu chỉ về một niềm hy vọng chắc chắn mà Thiên Chúa sẽ bổ túc và làm cho hoàn thiện những gì chúng ta đã bắt đầu trong lòng Tin.
Bằng cách đó, ước mơ của chúng ta về một Giáo hội trưởng thành sẽ trở thành hiện thực. Một Giáo hội hiệp thông giữa các cộng đoàn hàm chứa chiều kích toàn cầu và cánh chung.
TÀI LIỆU II:
THỂ HIỆN GIÁO HỘI MỘT CÁCH MỚI THEO CÔNG ĐỒNG & TÔNG HUẤN GIÁO HỘI TẠI CHÂU Á (A New Way of Being Church)
Có một cách khác làm nổi bật điều mà tôi đã lưu ý khi nói rằng Thượng Hội đồng Giám mục Á châu có một tác động lâu dài, là các Giáo hội Á châu - với lòng can đảm và óc sáng tạo - phải tìm cho ra cách thể hiện Giáo hội một cách mới và từ đó xây dựng một Giáo Hội học khác có thể thay thế. Đây là một chủ đề được Liên Hội đồng Giám mục Á châu nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại rất nhiều lần, đặc biệt trong Đại hội toàn thể lần thứ 3 tại Băngcốc (Thái Lan) năm 1982 và lần thứ 5 tại Băngđung (Indonesia) năm 1990. Như cuộc cách mạng Côpécnic, Giáo hội học ấy sẽ thực hiện một cuộc thay đổi quyết liệt: lấy Vương quốc của Thiên Chúa làm trung tâm đời sống Kitô hữu thay vì coi Giáo hội là trung tâm như từ trước đến nay. Các Kitô hữu không lấy Giáo hội làm trung tâm mà lấy Nước Thiên Chúa làm trung tâm. Sứ mạng của họ không phải là mở rộng Giáo hội và các cơ chế của Giáo hội (plantatio ecclesiae) để giúp Giáo hội mở rộng phạm vi ảnh hưởng mà để Giáo hội trở nên dấu chỉ trong sáng và dụng cụ hữu hiệu của sự hiện diện cứu độ của Vương quốc Thiên Chúa, Vương quốc của công lý, hoà bình, tình thương mà Giáo hội là hạt giống. Như Tông huấn Giáo hội tại châu Á đã nói: “Được Chúa Thánh Thần hỗ trợ và làm cho có khả năng hoàn tất công cuộc cứu độ của Đức Kitô trên trần gian, Giáo hội chính là hạt giống của Nước Thiên Chúa, luôn náo nức mong cho Nước ấy ngự đến. Căn tính và sứ mạng của Giáo hội không thể không có liên quan với Nước Thiên Chúa…. Chúa Thánh Thần nhắc Giáo hội nhớ rằng tự Giáo hội không có cùng đích nơi mình: trong tất cả những gì Giáo hội là và trong tất cả những gì Giáo hội thực hiện, Giáo hội hiện hữu là để phục vụ Đức Kitô và cứu độ thế giới” (Giáo hội tại châu Á, số 17). Cách thức mới để thể hiện Giáo hội và Giáo hội học mang tính cách mới ấy sẽ có những đặc điểm sau đây :< br> 1. Trước hết, ở cấp địa phương cũng như ở cấp toàn cầu, Giáo hội phải được coi là “sự hiệp thông của các cộng đoàn”, trong đó giáo dân, tu sĩ và giáo sĩ nhìn nhận và coi nhau như anh em chị em một nhà. Ở trung tâm mầu nhiệm Giáo hội là sự hiệp thông nối kết Thiên Chúa với con người và nối kết con người với nhau mà Thánh Thể là dấu chỉ và là phương thế tuyệt vời.
Đàng khác, Giáo hội học này nhìn nhận sự bình đẳng cơ bản giữa các thành phần khác nhau của Giáo hội địa phương với tư cách là môn đệ Đức Giê-su và sự bình đẳng cơ bản giữa các Giáo hội địa phương khác nhau với tư cách là các cộng đoàn môn đệ của Đức Giêsu mà sự hiệp thông tạo nên Giáo hội toàn cầu. Sự hiệp thông (koinonia) tạo nên Giáo hội, cả ở cấp Giáo hội địa phương, cả ở cấp Giáo hội toàn cầu và từ đó xuất phát sự bình đẳng cơ bản của mọi Kitô hữu, bắt nguồn từ đời sống thâm sâu của Thiên Chúa Ba Ngôi trong đó có sự hiệp thông trọn vẹn của ba Ngôi bằng nhau. Nếu sự bình đẳng cơ bản của tất cả mọi Kitô hữu này không được nhìn nhận thì Giáo hội không thể trở thành “sự hiệp thông của các cộng đoàn” tại châu Á. Sống sự bình đẳng cơ bản ấy là việc hết sức khó tại châu Á, không chỉ vì sự nhấn mạnh đến tính phẩm trật của Giáo hội có thể làm lu mờ và hạn chế sự bình đẳng ấy mà còn vì điều đó trái nghịch với ý thức về giai cấp của nhiều xã hội Á Châu.
Hơn nữa, nhìn Giáo hội là “sự hiệp thông của các cộng đoàn” và hệ quả tất nhiên của cách nhìn ấy là tính bình đẳng cơ bản, là điều kiện không thể thiếu (sine qua non) để chu toàn sứ mạng của Giáo hội. Nếu Giáo hội không là sự hiệp thông, Giáo hội không thể chu toàn sứ mạng truyền giáo của mình, vì Giáo hội không là gì khác ngoài là sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và con người và giữa con người với nhau. Như Tông huấn Giáo hội tại châu Á đã khẳng định :”hiệp thông và truyền giáo không thể tách rời nhau” (số 24 ).< br> 2. “Tính môn đệ của những con người bình đẳng” dẫn tới đặc điểm thứ hai của việc thể hiện Giáo hội một cách mới tại Á Châu, đó là bản chất mọi thừa tác cùng tham gia và hợp tác trong Giáo hội: ” Đó là Giáo hội mà mọi người đều tham gia trong đó hồng ân mà Thánh Thần ban cho hết mọi tín hữu- giáo dân, tu sĩ và linh mục- được nhìn nhận và được đưa vào hành động, để Giáo hội có thể được xây dựng và chu toàn sứ mạng của mình ”. Bản chất mọi người cùng tham gia cần phải được sống không chỉ ở trong nội bộ Giáo hội địa phương mà cả ở giữa tất cả các Giáo hội địa phương với nhau, kể cả với Giáo hội Roma nữa, dĩ nhiên là với sự nhìn nhận thẩm quyền của Đức Giáo hoàng. Trong bối cảnh ấy, cần khuyến khích việc đọc lại khẳng định sau đây của Tông huấn: “Thật vậy, chính khi đặt mình trong viễn tượng hiệp thông Giáo hội, người ta mới thấy rõ hơn thẩm quyền của Đấng Kế Vị Thánh Phêrô mang tính phổ quát, không phải một quyền hành mang tính pháp lý trên các Giáo hội địa phương mà là sự trổi vượt mang tính mục vụ nhằm xây dựng sự hiệp nhất trong đức tin và đời sống của toàn thể Dân Chúa.” (Giáo hội tại châu Á, số 25). “Thẩm quyền mục vụ” phải làm hết sức có thể để phát huy tính đồng trách nhiệm và sự tham gia của tất cả mọi Giáo hội địa phương trong ba sứ vụ: giảng dậy, thánh hóa và phục vụ trong Giáo hội và phải làm thế nào để những từ ngữ ấy không chỉ dừng lại ở những lời thuyết giảng đạo đức mà phải sinh hoa kết trái trong các cơ chế và hành động. Nếu Thượng Hội đồng Giám mục Á châu chứng tỏ được rằng các Giáo hội Á châu có điều gì đó dể dậy Giáo hội Roma và Giáo hội toàn cầu, thì “Huấn Quyền” trong Giáo hội không còn được quan niệm như con đường một chiều từ Roma đến các Giáo hội địa phương. Thay vào đó, phải là việc học hỏi và dạy dỗ lẫn nhau, phải là việc khch lệ và sửa sai lẫn nhau giữa Giáo hội Roma và các Giáo hội khác, tức giữa tất cả mọi Giáo hội địa phương. Chỉ bằng cách đó thì sự sửa sai mới có thể được hiểu bằng một khái niệm rộng rãi, nhất là trong các quốc gia với các Giáo hội được mệnh danh là Giáo hội quốc gia hay Giáo hội yêu nước, rằng thì là Giáo hội Kitô giáo tại châu Á là một tổ chức nước ngoài (thật ra là một tổ chức quốc tế), có thể so sánh được với các tổ chức đa quốc gia, rằng Giáo hội ấy phải nhận lệnh từ một quyền bính nước ngoài. Trong bối cảnh này, có lẽ sẽ hữu ích khi đưa ra nhận định rằng để không gây hiểu lầm, chúng ta nên tránh xử dụng một vài kiểu diễn tả mối quan hệ giữa Giám mục địa phương và Giám mục Roma, thịnh hành trong một số giới thuộc Giáo hội. Tôi muốn nhắc đến từ “trung thành” và “vâng phục ” là hai từ đặc trưng cho thái độ của các Giám mục đối với Đức Giáo hoàng. Nhưng đối với người Á châu thì các từ ấy không thể không gợi lên những cam kết phục tùng của các chư hầu đối với các lãnh chúa trong chế độ phong kiến. Không kể sự kiện là trong Giáo hội sự “trung thành” không thuộc về một người khác ngoài một mình Đức Kitô mà thôi và vị Giám mục không mang ơn đối với Đức Giáo hoàng về chức vụ Giám mục của mình cũng không phải là phụ tá của Đức Giáo Hoàng, nên theo thần học mà nói thì việc thích hợp hơn là phải diễn tả và sống mối quan hệ giữa Giáo hội địa phương và Đức Giáo hoàng bằng các ý niệm của từ giám mục đoàn và tình liên đới. Chỉ bằng cách ấy thì trách nhiệm giảng dậy của Giáo hội và thừa tác vụ cổ võ sự hiệp nhất của Đức Giáo hoàng mới có thể được thực thi một cách có hiệu quả, khi học hỏi được nhiều kinh nghiệm phong phú khác nhau về cách thể hiện Giáo hội từ khắp bốn phương trời của địa cầu này và khi đón nhận sự sửa lỗi đầy kính trọng nhưng chân thành trong trường hợp có sai phạm lỗi lầm do tâm trí hẹp hòi, do kiêu căng về luân lý và do u tối về tâm linh.
3. Đặc điểm thứ ba của việc thể hiện Giáo hội một cách mới tại Á châu là tinh thần đối thoại : “Được xây dựng giữa lòng các dân tộc, đó là Giáo hội mà chứng từ đầy lòng tin và tình yêu thương đối với Chúa Phục Sinh và truyền tới những người có niềm tin và xác tín tôn giáo khác nhờ sự đối thoại về sự giải phóng toàn diện của tất cả mọi người ”. Ngay từ Đại hội toàn thể lần đầu tiên họp tại Taipei, Đài Loan, năm 1974, Liên Hội đồng Giám mục Á châu đã nhắc đi nhắc lại rằng trọng trách đầu tiên của các Giáo hội Á châu là Loan Báo Tin Mừng. Nhưng Liên Hội đồng Giám mục Á châu cũng thường chủ trương rằng Giáo hội chỉ có thể thực hiện được trọng trách ấy tại Á châu bằng con đường đối thoại với các Nền Văn hoá Á châu, với các Tôn giáo Á châu và với chính người Á châu, nhất là những người nghèo. Tông huấn nhắc lại sự cần thiết của cuộc đối thoại này. Trong cuộc đối thoại với các Nền Văn hóa Á châu (hội nhập văn hóa), Tông huấn làm nổi bật các lãnh vực Thần học, Phụng vụ và Thánh Kinh (Giáo hội tại châu Á, số 22). Trong cuộc đối thoại với các Truyền thống Tôn giáo khác, Tông huấn nhấn mạnh cuộc đối thoại mang tính đại kết và giữa các tôn giáo. Tông huấn lập lại đề nghị 41 của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu : “Những quan hệ giữa các Tôn giáo sẽ được mở mang cách tốt đẹp, nhất là khi mọi người sống trong bầu khí cởi mở với nhau, có ý muốn lắng nghe, tôn trọng và thông cảm người khác trong những khác biệt của họ. Để làm được tất cả những việc này, cần phải biết yêu thương tha nhân. Từ đó mới có sự hợp tác, hòa hợp và làm giầu cho nhau” (Giáo hội tại châu Á, số 31). Trong cuộc đối thoại với người nghèo, Tông huấn khẳng định cần phải có tình yêu ưu tiên dành cho người nghèo (cách riêng những người dân nhập cư, các dân tộc và bộ lạc gốc bản xứ, phụ nữ và trẻ em), bênh vực quyền con người, chăm sóc về y tế, giáo dục, kiến tạo hoà bình, hủy bỏ nợ nước ngoài và bảo vệ môi sinh (Giáo hội tại châu Á, số 32-41). Hẳn nhiên nếu Giáo hội Kitô giáo phải trở thành Giáo hội của Á châu thực sự, thì các Kitô hữu Á châu phải dấn thân, một cách kiên cường và toàn tâm toàn ý, vào cuộc đối thoại bằng “cuộc sống và trái tim” với ba đối tác trên. Và bằng cách đó họ thực thi quyền và trách nhiệm của mình là Loan báo Đức Giêsu cho những người đồng hương Á châu khác.
Trong bối cảnh Loan báo Tin Mừng và đối thoại với các Nền Văn hóa, với các Tôn giáo và với người nghèo Á châu, có lẽ sẽ nẩy sinh vấn đề đang được tranh cãi là phải Loan báo Đức Kitô là Đấng Cứu Độ và là Đấng Cứu Độ duy nhất như thế nào tại Á châu. Tông huấn khẳng định rằng “Không thể có sự Phúc Am hóa thật sự nếu không có việc công khai loan báo Đức Giêsu là Chúa ” ( Giáo hội tại châu Á, số 19) và rằng sự Loan báo ấy “không phải là do một động cơ phe phái hay do tinh thần chiêu mộ tín đồ hoặc bởi sự trịch thượng nào ” mà “chỉ vì muốn tuân theo mệnh lệnh của Đức Kitô ” (Giáo hội tại châu Á, số 20). Vì thế cho nên sự Loan báo ấy phải được thực hiện với lòng kính trọng đối với cả hai phía : ”một đàng tôn trọng con người trong hành trình tìm kiếm những giải đáp cho những vấn nạn sâu xa nhất của cuộc sống, đàng khác tôn trọng hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi con người ” (Giáo hội tại châu Á, số 20).
Về việc phải loan báo như thế nào về Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất thì TH thẳng thắn nhìn nhận rằng sự loan báo ấy “đã đụng phải những khó khăn về triết học, văn hóa và thần học, nhất là nhìn từ những niềm tin có trong các Tôn giáo lớn của Á châu, vốn quyện rất chặt với các nền Văn hóa và các thế giới quan riêng biệt” (Giáo hội tại châu Á, số 20). Nỗi khó khăn này là do sự kiện đã được nhắc đến ở trên là, Đức Kitô được coi là người xa lạ đối với Á châu, như một gương mặt Tây phương hơn là một gương mặt Á châu. Ở đây Tông huấn đáng được ca tụng vì đã yêu cầu ba điều quan trọng sau đây:
* một công cuộc giáo dục tiệm tiến về việc Loan báo Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất,
* xử dụng cách kể chuyện để bổ sung cho các hệ (thần học) trong việc Loan báo ấy, và
* nhìn nhận có sự khác biệt chính đáng trong các cách tiếp cận để loan báo về Đức Giêsu.
Đây không phải là chỗ để tranh luận thần học về chủ nghĩa khử trừ, dung nạp và đa dạng, nhưng theo sự phán đoán của tôi, vấn đề Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ duy
nhất là vấn đề lý thú có lẽ trong thần học, nhưng là một kiểu nói vô bổ trong giảng dậy và giáo lý. Nguyên do là vì mục tiêu trực tiếp của việc loan báo Tin Mừng là làm cho người ta đón nhận Đức Giêsu là “Đấng Cứu Độ của họ” (personal Savior) - nếu muốn dùng cách nói mà các Kitô hữu thuộc Phong trào Thánh Linh rất thích dùng - chứ không phải là “Đấng Cứu Độ duy nhất”. Điều được nhắm tới là sự dấn thân có tính cá nhân và trọn vẹn của người tân tòng đối với Đức Giêsu chứ không phải là sự khước từ việc có thể có những cách thức khác mà Thiên Chúa có thể dùng để đến với người khác. Câu hỏi mang tính sống còn vượt trên tất cả không phải là các dân tộc khác có thể được cứu độ hay không và được cứu độ bằng cách nào nhưng là câu hỏi ‘bằng cách nào tôi có thể đi vào mối quan hệ cá vị (personal) với Thiên Chúa một cách sung mãn?’ Khi một người nào đó đã khám phá ra rằng Đức Giêsu là con đường giúp người ấy đạt tới T Từ ngày thành lập năm 1972 đến nay, Liên Hội đồng Giám mục Á châu đã có một quá trình gần 30 năm suy tư, tìm tòi, nghiên cứu và thực hiện Công đồng Vatican II tại Á châu. Tổ chức này hằng năm có những kỳ họp toàn thể với các chủ đề rất phong phú và thực tế. Ngoài ra tổ chức này còn có các cơ quan trực thuộc về từng lãnh vực và hoạt động rất bài bản và có chất lượng. Các tài liệu, văn bản của Liên Hội đồng Giám Mục Á châu cũng như của các ủy ban và tiểu ban đều rất phong phú, nhưng lại còn khá xa lạ với nhiều Giám mục, linh mục và tu sĩ Việt Nam, chứ đừng nói gì đến hàng ngũ giáo dân. Sự kiện ấy do mấy nguyên nhân chính sau đây: Trước hết là trong những năm Việt Nam sống tự cô lập hoặc bị cô lập thì Giáo hội Việt Nam không có tiếp xúc liên lạc gì với các Giáo hội trong vùng. Một lý do khác là Giáo hội Việt Nam thuộc vùng nói tiếng Pháp (francophone) tuy rằng nằm trong vùng Đông Nam Á châu nói tiếng Anh. Nhiều Giám mục, linh mục, tu sĩ được đào tạo tại Pháp, tại Ý, Đức chứ có rất ít người sang Ấn độ, Phi-lip-pin hay Đài Loan học. Do đó Giáo hội Việt Nam gắn bó mật thiết với Giáo hội Pháp, Ý, Đức và với Tòa Thánh Vatican mà không quan tâm đến các Giáo hội trong vùng.
Vì thế cho nên trong chiều hướng hội nhập khu vực thì công việc đầu tiên của Giáo hội Việt Nam là tiếp cận, thu tập và chuyển dịch những tài liệu quan trọng của Liên Hội đồng Giám mục Á châu và của các tiểu ban của tổ chức này và giới thiệu những tài liệu ấy với mọi thành phần Dân Chúa, nhất là với các thành phần nòng cốt của Giáo hội là các linh mục, tu sĩ, cán bộ giáo dân trong giáo xứ, hội đoàn thông qua các buổi nói chuyện hay hội nghị chuyên đề, các khóa huấn luyện, bồi dưỡng ngắn và dài ngày v.v..
Công việc thứ hai của Giáo hội Việt Nam là nghiên cứu cặn kẽ tức đào sâu ‘Tông huấn Giáo hội tại Á châu’ để rút ra những thực hành cụ thể cho từng cấp (quốc gia, miền hay liên giáo phận, giáo phận, giáo hạt, giáo xứ, giới, hội đoàn). Công việc này hết sức quan trọng vì Tông huấn này là định hướng chiến lược của các Giáo hội Á châu, trong đó có Việt Nam. Có thể nói sau các văn kiện của Công đồng Vatican II thì Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’ phải là tài liệu tham khảo, qui chiếu của giảng dậy, nghiên cứu, áp dụng của Giáo hội Việt Nam. Thật ra Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’ mới chỉ là những định hướng, những tiêu chuẩn, nguyên tắc lý thuyết cần được cụ thể hóa bằng hoạt động và cơ chế mà mỗi Giáo hội tại/của Á châu phải thực hiện, để bước vào thiên niên kỷ thứ ba.
III. GIÁO HỘI VIỆT NAM CẦN TÌM MỌI CÁCH TRIỂN KHAI CỤ THỂ BỐN ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁCH THỂ HIỆN GIÁO HỘI MỘT CÁCH MỚI TẠI VIỆT NAM
Cùng với việc giải quyết hai công việc to lớn và quan trọng vừa nêu, Giáo hội Việt Nam nên tìm mọi cách để triển khai cụ thể bốn đặc điểm của cách thể hiện Giáo hội một cách mới. Cách thể hiện Giáo hội một cách mới nói đến ở đây không phải là ý kiến riêng tư của linh mục Phêrô Phan Đình Cho mà chính là quan điểm chung của các nhà lãnh đạo và thần học của các Giáo hội Á châu (đọc các tài liệu của Liên Hội đồng Giám mục Á châu chúng ta sẽ thấy rõ điều này). Có thể nói đây chính là cách áp dụng giáo huấn của Công đồng Vatican II vào các hoàn cảnh cụ thể của các Giáo hội Á châu. Công cuộc canh tân của Công đồng Vatican II đã được tiếp nối một cách đặc biệt trong giai đoạn 1990-2000 bởi các Thượng Hội đồng Giám mục châu lục mà Đức Giáo hoàng đương kim Gioan Phaolo II đã lần lượt triệu tập và bởi các Tông huấn đi theo sau các Thượng Hội đồng Giám mục ấy. Đối với chúng ta thì đó là Thượng Hội đồng Giám mục Á châu và Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’!
Ở đây chúng tôi không nhắc lại những nền tảng thánh kinh, thần học hay giáo hội học của bốn đặc điểm mà linh mục Phêrô Phan Đình Cho đã nêu trong bài “Giáo hội tại Á châu: Thách thức đối với Kitô giáo Á châu” nói trên. Chúng tôi muốn đưa ra một số gợi ý có liên quan tới một số việc cụ thể mà Giáo hội Việt Nam cần làm và có thể làm lúc này và trong những năm sắp tới.
1. Trước hết liên quan tới bản chất “Giáo hội là sự hiệp thông của các cộng đoàn ” và liên quan tới “tính bình đẳng căn bản của mọi Kitô hữu trong cộng đoàn Dân Chúa” chúng tôi thấy Giáo hội Việt Nam có những việc “cần làm và có thể làm ” sau đây:
1.1 Đào sâu Mầu Nhiệm Hiệp Thông của Thiên Chúa tức Mầu Nhiệm Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần vì đó là nền tảng của mọi cộng đoàn, tổ chức, cơ chế Giáo hội. Đồng thời đào sâu tính bình đẳng căn bản của mọi Kitô hữu trước mặt Thiên Chúa về phẩm giá và về ơn gọi. Việc đào sâu này có tầm quan trọng quyết định tương lai của Giáo hội Việt Nam, vì chưng theo nhận định của nhiều người, thì Giáo hội Việt Nam quá thiên về phẩm trật, nặng về quyền bính mà ít phát triển tinh thần hiệp thông và bình đẳng hàm chứa trong Kitô giáo. Nguyên nhân của tình trạng trên là vì chúng ta chưa hiểu thấu đáo tinh thần Phúc Âm và chịu ảnh hưởng rất mạnh của Nho giáo trong cách suy nghĩ và cách sống các mối tương quan giám mục-linh mục-tu sĩ -giáo dân.
Công việc tiếp theo là tìm mọi cách áp dụng tinh thần hiệp thông và tính bình đẳng ấy vào trong mọi tổ chức của Giáo hội ở cấp quốc gia cũng như ở các cấp địa phương thấp hơn, tức từ Hội đồng Giám mục Việt Nam đến Hội đồng Linh mục và Hội đồng Mục vụ Giáo phận và Giáo xứ. Nên nhớ tính hiệp thông cộng đoàn và bình đẳng căn bản của mọi Kitô hữu sẽ dẫn đến một cách ‘mới’ thể hiện Giáo hội mà trong đó mọi thừa tác có chức thánh hay không có chức thánh, đều có phần và đều phải góp phần tức tham gia hết mình vào công cuộc xây dựng Thân Mình Mầu Nhiệm Chúa Kitô là Giáo hội, theo đoàn sủng đã nhận lãnh từ Thiên Chúa để sinh ích cho toàn cộng đoàn (1 Cr 12, 4-30). Trong các tài liệu của Liên Hội đồng Giám mục Á châu, chúng ta luôn gặp từ ‘Participatory Church’. Đó là một khái niệm có thể được coi là ‘chủ lực’ trong Giáo hội học Á châu, trong cùng một chiều hướng với khái niệm ‘Giáo hội là Dân Chúa’ mà Công Đồng Vatican II đã triển khai và nhấn mạnh trong chương II của Hiến chế tín lý về Giáo hội ‘Ánh sáng muốn dân’. Tính hiệp thông sâu xa và tính bình đẳng căn bản của mọi Kitô hữu còn dẫn đến một phong cách lãnh đạo ‘không mang tính thống trị’ (non-dominating leadership) mà mang ‘tính cộng đoàn’ hơn. Nói cách đơn giản thì đó là phong cách lãnh đạo mang ‘tính dân chủ’ chứ không mang tính cá nhân, chuyên quyền, độc tài.
Nếu áp dụng tính hiệp thông cộng đoàn và tính bình đẳng căn bản trên vào cách tổ chức của giáo phận và giáo xứ, chúng ta thấy có rất nhiều việc cần làm. Một ví dụ: Hiện nay tại một số giáo phận có hội đồng linh mục nhưng trên thực tế thì cơ cấu này có trên giấy tờ hơn là trên thực tế, nên không đóng góp gì cho giới linh mục và cho giáo phận. Vả lại một tổ chức nặng tính hình thức, ban bệ thì không diễn tả được tính hiệp thông cộng đoàn và tính bình đẳng căn bản nói trên. Một ví dụ khác: Hiện nay chỉ có một vài giáo phận đã thành lập Hội đồng Mục vụ Giáo phận nhưng cũng chưa có hoạt động tương xứng như chức năng. Còn tại rất nhiều giáo xứ tuy đã có Ban Hành giáo hoặc Hội đồng Giáo xứ nhưng rất ít nơi có được một Hội đồng Mục vụ Giáo xứ đúng nghĩa. Trong lãnh vực cơ cấu của ba Hội đồng này chúng ta thấy có hai việc ‘cần làm và có thể làm’ : một là cần có một qui chế thống nhất, tiến bộ cho mỗi hội đồng; hai là cần có chương trình hành động cụ thể và liên tục; ba là riêng với các giáo dân thì cần có chương trình đào tạo bồi dưỡng hợp lý, tiệm tiến, liên tục, tiến bộ. Chúng tôi nhấn mạnh đến “tính tiến bộ” hay “cởi mở”của qui chế, vì chưng cũng một khoản luật sẽ được giải thích một cách rất khác nhau tùy theo khuynh hướng ‘bảo thủ’ hay ‘tiến bộ’.
Ví dụ: Giáo luật điều 536 viết như sau:
Số 1: “Nếu Giám mục giáo phận xét là thuận lợi, sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội đồng linh mục, thì trong mỗi giáo xứ nên thành lập Hội đồng Mục vụ, do cha Sở chủ trì, và trong đó các tín hữu cùng với những người chiếu theo chức vụ, tham gia vào việc chăm sóc mục vụ trong giáo xứ, cùng đóng góp sự cộng tác của mình vào việc cổ võ sinh hoạt mục vụ”.
Số 2: Hội đồng mục vụ chỉ có quyền tư vấn và được điều hành theo các qui tắc do Giám mục giáo phận ấn định”
Trong điều 536 của Giáo luật nêu trên chúng ta nên ghi nhận hai điều sau đây:
1) Giáo luật nêu lên ‘tính tự do’ tức ‘tính không bắt buộc’ phải thành lập Hội Đồng Mục vụ Giáo xứ: Nếu Giám mục giáo phận có khuynh hướng bảo thủ thì ngài sẽ coi nhẹ việc thành lập Hội đồng Mục vụ Giáo xứ, vì rõ ràng Giáo luật không hề bắt buộc mà chỉ là khuyên ‘nên’ thành lập cơ cấu này. Còn nếu Giám mục có khuynh hướng cởi mở và tiến bộ thì ngài sẽ trân trọng lời khuyên này, vì đây là lần đầu tiên Giáo luật đề xuất một Hội đồng như vậy và nguyên việc Giáo luật gọi Hội đồng ấy là Hội đồng Mục vụ thì đã mang một ý nghĩa rất quan trọng. Do đó Giám mục giáo phận sẽ xem xét một cách nghiêm túc vấn đề và sẽ nỗ lực để thành lập Hội đồng Mục vụ Giáo xứ.
2) Giáo luật đề cập đến ‘quyền tư vấn’ chứ không phải là ‘quyền quyết định’ của Hội đồng Mục vụ Giáo xứ: Nếu Giám mục và linh mục có khuynh hướng bảo thủ thì các ngài sẽ coi nhẹ Hội đồng Mục vụ Giáo xứ vì Hội đồng Mục vụ Giáo xứ chỉ có tiếng nói tư vấn chứ không hề có tiếng nói quyết định. Nhưng nếu có khuynh hướng tiến bộ và cởi mở thì các ngài sẽ coi trọng những thảo luận và quyết định của Hội đồng này, vì đây là thời cơ thuận lợi nhất để các ngài có thể cai quản tốt giáo phận hay giáo xứ được giao cho mình, theo một phong cách lãnh đạo thấm nhuần Thánh Kinh Kitô giáo, phong cách lãnh đạo được mệnh danh là ‘không mang tính thống trị’ mà chan chứa tính cộng đoàn và phục vụ.
1.2 Nghiên cứu, học hỏi về các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ (cũng được gọi là ‘Cộng đoàn Kitô cơ bản’ (Basic Christian Communities) và các ‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’ (Basic Human Communities) là các Cộng đoàn đã và đang được xây dựng một cách có kết quả tại hầu hết các Giáo hội trong khu vực. Các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ là các Cộng đoàn chỉ gồm những người cùng một niềm Tin Kitô giáo mà thôi. Còn các ‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’ thì qui tụ tất cả mọi người không phân biệt có niềm Tin tôn giáo hay không hoặc có niềm tin tôn giáo nào. Các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ hiện được coi là tương lai của Giáo Hội Mỹ châu la tinh cũng như Á châu. Trong Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’ chúng ta có được sự lượng giá có thẩm quyền của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu và của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II về các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ như sau:
“Trong bối cảnh ấy (bối cảnh canh tân) và dựa trên kinh nghiệm mục vụ của mình, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh tới giá trị của các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản như một phương thế hữu hiệu đẩy mạnh sự hiệp thông và cộng tác trong các Giáo xứ và Giáo phận và như một lực lượng thực sự cho công cuộc Phúc Âm hóa. Những tập thể nhỏ bé này sẽ giúp các tín hữu sống thành những Cộng đoàn đức Tin, cầu nguyện và yêu thương như các Kitô hữu đầu tiên (x. Cv 2,44-47; 4,32-35). Các Cộng đoàn này còn giúp các thành viên sống Tin Mừng trong tinh thần yêu thương huynh đệ và phục vụ,, từ đó trở thành khởi điểm vững chắc cho một xã hội mới, biểu hiện một nền văn minh tình thương. Cùng với Thượng Hội Đồng, tôi khuyến khích Giáo hội tại Á châu, chỗ nào có thể được, hãy coi các Cộng doàn cơ bản ấy như một nét tích cực trong công tác Phúc Âm hóa của Giáo hội” (số 25).
Vì thế Giáo hội Việt Nam nên nghiên cứu tài liệu và kinh nghiệm về các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ này. Nếu cần thì nên gửi người sang Phi-lip-pin, Thái Lan, Hàn Quốc hay Đài Loan để nghiên cứu học hỏi và tham quan thực tế. Trong Khóa huấn luyện ‘Thừa Tác Viên Lời Chúa’ (Ministers of the Word Training) kéo dài 4 tháng mà tôi có dịp tham dự tại Viện Mục vụ Đông Á (East Asian Pastoral Institute) năm 1997, thì trong chương trình có một đề tài về các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ và do một nữ tu Dòng Nữ Tử Bác Ái giảng dậy và hướng dẫn học viên (linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân) đi tham quan thực tế. Nữ tu này là một trong những chuyên viên về ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ được các chủng viện và các giáo phận của Phi-lip-pin và của một số Giáo hội Á châu khác mời giảng dậy, thậm chí được cả một số Hội đồng Giám mục khác mời trình bày. Trước đó vào năm 1995 tôi cũng có dịp tham dự một Khóa bồi dưỡng khác có tên là ‘Xây dựng Cộng đoàn Kitô’ (Building Christian Communities) của Viện Phát Triển Mục Vụ (Institute for Pastoral Development) cũng có nội dung tương tự như Khóa nói trên.
Vậy thì Giáo hội Việt Nam và đặc biệt một số giáo phận có nhiều điều kiện hơn nên quan tâm đến vấn đề ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ và ‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’ Điều đáng mong ước là từ từ hai loại Cộng đoàn ấy sẽ được xây dựng trong lòng các giáo xứ, các hội đoàn và trong khu vực dân cư của giáo xứ. Các Cộng đoàn này sẽ là chiếc đòn bẩy có tác động lớn trên đời sống Giáo hội và đời sống cộng đồng xã hội, vì các ‘Cộng đoàn Giáo hội cơ bản’ là môi trường sống sự hiệp thông sâu xa và tính bình đằng căn bản của mọi Kitô hữu và là Cộng đoàn chứng nhân loan báo Tin Mừng một cách hữu hiệu trong khu vực. Còn các ‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’ sẽ là nhân tố thay đổi hạ tầng xã hội trong mọi lãnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và môi sinh. Các ‘Cộng đoàn nhân sinh cơ bản’ sẽ là môi trường hợp tác giữa mọi thành phần dân chúng, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc nhằm thay đổi và nâng cao đời sống người dân, nhất là những người nghèo.
1.3 Trong quan hệ với Vatican và với Giáo hội toàn cầu cũng như với các Giáo hội chị em xung quanh, Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ quan tâm đến việc thể hiện sự trưởng thành của một Giáo hội đã có 300-400 năm lịch sự hào hùng với hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn vị tử đạo (mà 117 vị đã được Giáo hội phong thánh năm 1998) và có một con số tín hữu đáng kể, khoảng 7-8 triệu người trên tổng số 80 triệu dân. Tại Á châu ngoài Phi-lip-pin ra, không có một Giáo hội nào khác có được một tỷ lệ 7-8% người công giáo trên tổng số người dân như ở Việt Nam. Giáo hội Việt Nam còn đáng tự hào về lịch sử đấu tranh dành độc lập của dân tộc, trong đó rất nhiều con cái của Giáo hội đã thể hiện tinh thần hy sinh vì quê hương, vì đồng bào. Vì thế Giáo hội Việt Nam cần ý thức những thế mạnh của mình, thể hiện mình là Giáo hội của Việt Nam và xây dựng các mối quan hệ “đối nội” cũng như “đối ngoại” một cách trưởng thành. Đối nội là đối với Giáo hội Roma, Giáo hội toàn cầu và giữa các thành phần khác nhau trong Giáo hội địa phương. Còn đối ngoại là đối với Chánh quyền, với các tôn giáo bạn và với đồng bào.
2. Liên quan tới tinh thần đối thoại với ba đối tác khác nhau là nền văn hóa Việt Nam, là các tôn giáo bạn ở Việt