Trong “Bài Giảng Trên Núi”, Chúa Kitô đã đưa ra “CÁC PHÚC THẬT” cho những ai muốn vào Nước Trời như sau:
Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Ngài ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Ngài mở miệng dạy họ rằng:
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ vì sẽ được Thiên Chúa an ủi.
Phúc thay ai khát khao sự công chính vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.
Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hòa bình vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sự công chính, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta xì vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mầng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.” (Mt 5, 1-12).
Khi công bố các “Phúc Thật”, Chúa Giêsu đã nói lên kinh nghiệm của mình: Ngài sống nghèo khó, bị đau khổ, bị bách hại, nhưng Ngài hạnh phúc, hạnh phúc như chưa từng ai có và sẽ không có ai hạnh phúc bằng vì Ngài có trọn vẹn Nước Trời, nhìn thấy Thiên Chúa mà không một người phàm nào nhìn được. Và Ngài mời gọi chúng ta chia sẻ những kinh nghiệm đó.
Ký giả Philip Yancey, trong sách “The Jesus I never Knew” (Đức Giêsu mà tôi chưa bao giờ biết tới) đã có một cái nhìn khá độc đáo về những “Phúc Thật” vì, theo ông những điều đó không những liên hệ đến Nước Trời mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta “hiện tại và nơi đây”.
PHÚC THAY AI CÓ TÂM HỒN NGHÈO KHÓ…PHÚC THAY AI HIỀN LÀNH.
Theo bản tin của hãng thông tấn Fides, thuộc Bộ Truyền Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc, cha Nguyễn Văn Đông thuộc giáo phận Kontum đã trải qua Tuần Thánh năm 2001 với những người cùi tại Kontum để an ủi và rao giảng Tin Mừng cho họ. Giáo phận Kontum có 30 linh mục, đa số già nua đau yếu, và 180,000 tín hữu mà 70%
giáo dân là người Thượng sống trong các buôn làng xa xôi.
Cha Đông là cha sở họ đạo Sa Thầy, đang hoạt động mục vụ trong một vùng đất có đông người cùi nhất Việt Nam, những người mà nhà nước chẳng bao giờ đoái hoài đến. Tuy cả nước cũng có một số trại cùi nhưng nhà nước không thật sự quan tâm, ngay cả đến vấn đề lương thực và thuốc men.
Cha Đông cho phóng viên Fides biết ngài thăm viếng các người cùi trong phạm vi 42 dặm. "Những người ở các nơi nầy là những người nghèo lắm, có lẽ là nghèo nhất nước. Họ rất vui khi thấy tôi đến thăm. Họ nhìn tôi mà cười. Trông thấy họ cười tôi lại khóc. Họ nghèo quá lại còn bị cùi nữa. Khi tôi cho họ những tặng phẩm của giáo xứ tôi, họ giữ chặt lấy như sợ bị ai lấy mất".
Trong quyển sách Intellectuals (Giới Trí Thức), Paul Johnson đã đưa ra những chi tiết rất xác thực về những người mà chúng ta tán dương, khiến chúng ta cố gắng đua đòi và những hình ảnh của họ thường được đưa lên trang bìa những tạp chí rất phổ thông. Nhưng đó không phải là hình ảnh những người có đời sống quân bình, hạnh phúc và toàn vẹn như chúng ta tưởng tượng. Mặc dù những nhân vật của Johnson như Ernest Hemingway, Bertrand Russell, Jean-Paul Sartre, Edmund Wilson, Bertolt Brecht v.v….được coi là thành công theo những tiêu chuẩn hiện đại nhưng thật là khó để tâp hợp lại những người có thể khốn nạn hơn, điên khùng hơn và bị ngược đãi hơn họ được.
Trên cương vị một ký giả, Philip Yancey đã có nhiều cơ hội phỏng vấn những “minh tinh” trong giới thể thao, điện ảnh, âm nhạc, những văn sĩ nổi tiếng, những chính trị gia và những nhân vật truyền thanh truyền hình xuất chúng. Đó là những nhân vật có ảnh hưởng rất lớn trong giới truyền thông. Chúng ta thường ve vãn họ, mải mê nghiên cứu những chi tiết vụn vặt liên quan đến đời họ: những áo quần họ mặc, những thực phẩm họ ăn, những môn thể thao họ tập, những người họ yêu, những loại thuốc đánh răng họ dùng. Tuy nhiên theo kinh nghiệm của ký giả Philip Yancey, những nhân vật mà Johnson mô tả thật rất chính xác: những “thần tượng” nói trên là một đám người khốn khổ hơn ai hết mà ký giả chưa bao giờ gặp phải. Phần lớn hôn nhân của họ bị trắc trở hay gãy đổ. Hầu hết họ phải chữa trị tâm thần nhưng vô hiệu quả.
Ký giả Yancey cũng đã phỏng vấn nhiều người được coi là “nô bộc" . Đó là những bác sĩ và y tá phục vụ cho những giai cấp cùng đinh, những bệnh nhân phung hủi ở trong các thôn xóm An Độ. Một sinh viên tốt nghiệp đại học Princeton coi sóc một khách sạn cho kẻ vô gia cư ở Chicago. Những nhân viên y tế đã bỏ những công việc làm với số lương cao để phục vụ ở những nơi bùn lầy nước đọng tại tiểu bang Mississippi. Những nhân viên cứu trợ ở Somalia, Sudan, Ethiopia, Bangladesh và những nơi chất chồng những khổ đau của nhân loại. Những vị tiến sĩ sinh trưởng ở Arizona nay đang rải rác trong những chốn rừng sâu nước độc của miền Nam Mỹ Châu để dịch Thánh kinh ra những ngôn ngữ đang mai một.
Đó là những “nô bộc” đáng được chiêm ngưỡng, gây nguồn cảm hứng cho những ai đang bước đi trên con đường hoàn thiện. Thật thích thú khi đối chiếu hai hạng người đó - những minh tinh và những nô bộc - rõ ràng những nô bộc đã nổi bật như những người được ưu đãi, được vinh dự. Họ có những đặc điểm của chiều sâu nội tâm và sự sung mãn cùng hoan lạc mà người ta không thể gặp được ở những nơi khác. Những nô bộc đó phục vụ với số lương thấp kém, làm lụng nhiều giờ và không được tán dương, “phung phí” tài năng của họ giữa một đám tiện dân nghèo hèn vô học. Theo một cách nào đó, trong tiến trình làm mất sự sống của chính họ thì họ đã tìm gặp được sự sống.
Người nghèo khó trong tâm hồn và người hiền lành được chúc phúc thật. Nước Trời là của họ và Đất Hứa là gia nghiệp họ.
PHÚC THAY AI CÓ TÂM HỒN TRONG SẠCH
Trong quyển sách “What I Believe” (Điều Tôi Tin), Francois Mauriac, một văn hào Công Giáo người Pháp, đã cho biết cám dỗ về tình dục là một trận chiến rất quen thuộc. Mauriac đã bác khước hết mọi lý luận mà ông đã được dạy dỗ từ thuở thiếu thời trong Giáo Hội Công Giáo nhằm mục đích giữ gìn sự khiết tịnh về tình dục, theo đó “hôn nhân là để chữa trị lòng ham muốn về nhục dục” hoặc “sự tiết dục giúp chế ngự tình dục”. Những điều đó không xảy tới cho Mauriac cũng như cho nhiều người khác. Mauriac nhận thấy rằng sự ham muốn về nhục dục chẳng khác nào những ngọn sóng thần vô cùng mãnh liệt có thể cuốn mất hết những thiện ý trong tâm thức con người. Hoặc lý luận cho rằng “sự hoàn thiện đích thực chỉ tìm thấy trong sự đơn hôn” : điều nầy có thể đúng, nhưng chắc chắn không xem ra đúng đối với những người buông thả theo những xung động của tình dục, kể cả trong đời sống đơn hôn. Do đó Mauriac đã cân nhắc những lý luận có tích cách truyền thống về đức khiết tịnh và nhận thấy những lý luận đó rất thiếu sót.
Mauriac kết luận rằng sự tiết dục, sự tự chế và những lý luận thuần lý là những khí giới không thích hợp để thắng trận chiến tình dục. Cuối cùng, ông chỉ tìm thấy một lý do để sống khiết tịnh là điều mà Chúa Kitô đã công bố trong những “Mối Phúc Thật”: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa”. Theo Mauriac, sự mất khiết tịnh khiến chúng ta xa lìa Thiên Chúa. Đời sống tâm linh cũng tuân hành những luật lệ khá minh xác như thế giới vật lý…Sự khiết tịnh là điều kiện để hướng đến một tình yêu cao cả hơn - nhằm đạt tới một sở hữu lớn hơn mọi sở hữu hết thảy: đó là Thiên Chúa.
Tình yêu Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải thanh tẩy mọi cơ năng trước khi chúng ta đón nhận một tình yêu cao cả hơn mà không thể đạt tới bằng bất cứ đường lối nào khác. Đó là động lực thúc đẩy chúng ta sống đời khiết tịnh. Nếu chấp chứa tính ham mê nhục dục, chúng ta tự giới hạn khả năng sống thân mật với Thiên Chúa.
Người có tâm hồn khiết tịnh thật đáng chúc phúc vì họ sẽ thấy Thiên Chúa. Điều đó rất đơn giản nhưng cũng rất khó khăn.
(CÒN TIẾP)
Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Ngài ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Ngài mở miệng dạy họ rằng:
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ vì sẽ được Thiên Chúa an ủi.
Phúc thay ai khát khao sự công chính vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.
Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hòa bình vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sự công chính, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta xì vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mầng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế.” (Mt 5, 1-12).
Khi công bố các “Phúc Thật”, Chúa Giêsu đã nói lên kinh nghiệm của mình: Ngài sống nghèo khó, bị đau khổ, bị bách hại, nhưng Ngài hạnh phúc, hạnh phúc như chưa từng ai có và sẽ không có ai hạnh phúc bằng vì Ngài có trọn vẹn Nước Trời, nhìn thấy Thiên Chúa mà không một người phàm nào nhìn được. Và Ngài mời gọi chúng ta chia sẻ những kinh nghiệm đó.
Ký giả Philip Yancey, trong sách “The Jesus I never Knew” (Đức Giêsu mà tôi chưa bao giờ biết tới) đã có một cái nhìn khá độc đáo về những “Phúc Thật” vì, theo ông những điều đó không những liên hệ đến Nước Trời mà còn ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta “hiện tại và nơi đây”.
PHÚC THAY AI CÓ TÂM HỒN NGHÈO KHÓ…PHÚC THAY AI HIỀN LÀNH.
Theo bản tin của hãng thông tấn Fides, thuộc Bộ Truyền Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc, cha Nguyễn Văn Đông thuộc giáo phận Kontum đã trải qua Tuần Thánh năm 2001 với những người cùi tại Kontum để an ủi và rao giảng Tin Mừng cho họ. Giáo phận Kontum có 30 linh mục, đa số già nua đau yếu, và 180,000 tín hữu mà 70%
giáo dân là người Thượng sống trong các buôn làng xa xôi.
Cha Đông là cha sở họ đạo Sa Thầy, đang hoạt động mục vụ trong một vùng đất có đông người cùi nhất Việt Nam, những người mà nhà nước chẳng bao giờ đoái hoài đến. Tuy cả nước cũng có một số trại cùi nhưng nhà nước không thật sự quan tâm, ngay cả đến vấn đề lương thực và thuốc men.
Cha Đông cho phóng viên Fides biết ngài thăm viếng các người cùi trong phạm vi 42 dặm. "Những người ở các nơi nầy là những người nghèo lắm, có lẽ là nghèo nhất nước. Họ rất vui khi thấy tôi đến thăm. Họ nhìn tôi mà cười. Trông thấy họ cười tôi lại khóc. Họ nghèo quá lại còn bị cùi nữa. Khi tôi cho họ những tặng phẩm của giáo xứ tôi, họ giữ chặt lấy như sợ bị ai lấy mất".
Trong quyển sách Intellectuals (Giới Trí Thức), Paul Johnson đã đưa ra những chi tiết rất xác thực về những người mà chúng ta tán dương, khiến chúng ta cố gắng đua đòi và những hình ảnh của họ thường được đưa lên trang bìa những tạp chí rất phổ thông. Nhưng đó không phải là hình ảnh những người có đời sống quân bình, hạnh phúc và toàn vẹn như chúng ta tưởng tượng. Mặc dù những nhân vật của Johnson như Ernest Hemingway, Bertrand Russell, Jean-Paul Sartre, Edmund Wilson, Bertolt Brecht v.v….được coi là thành công theo những tiêu chuẩn hiện đại nhưng thật là khó để tâp hợp lại những người có thể khốn nạn hơn, điên khùng hơn và bị ngược đãi hơn họ được.
Trên cương vị một ký giả, Philip Yancey đã có nhiều cơ hội phỏng vấn những “minh tinh” trong giới thể thao, điện ảnh, âm nhạc, những văn sĩ nổi tiếng, những chính trị gia và những nhân vật truyền thanh truyền hình xuất chúng. Đó là những nhân vật có ảnh hưởng rất lớn trong giới truyền thông. Chúng ta thường ve vãn họ, mải mê nghiên cứu những chi tiết vụn vặt liên quan đến đời họ: những áo quần họ mặc, những thực phẩm họ ăn, những môn thể thao họ tập, những người họ yêu, những loại thuốc đánh răng họ dùng. Tuy nhiên theo kinh nghiệm của ký giả Philip Yancey, những nhân vật mà Johnson mô tả thật rất chính xác: những “thần tượng” nói trên là một đám người khốn khổ hơn ai hết mà ký giả chưa bao giờ gặp phải. Phần lớn hôn nhân của họ bị trắc trở hay gãy đổ. Hầu hết họ phải chữa trị tâm thần nhưng vô hiệu quả.
Ký giả Yancey cũng đã phỏng vấn nhiều người được coi là “nô bộc" . Đó là những bác sĩ và y tá phục vụ cho những giai cấp cùng đinh, những bệnh nhân phung hủi ở trong các thôn xóm An Độ. Một sinh viên tốt nghiệp đại học Princeton coi sóc một khách sạn cho kẻ vô gia cư ở Chicago. Những nhân viên y tế đã bỏ những công việc làm với số lương cao để phục vụ ở những nơi bùn lầy nước đọng tại tiểu bang Mississippi. Những nhân viên cứu trợ ở Somalia, Sudan, Ethiopia, Bangladesh và những nơi chất chồng những khổ đau của nhân loại. Những vị tiến sĩ sinh trưởng ở Arizona nay đang rải rác trong những chốn rừng sâu nước độc của miền Nam Mỹ Châu để dịch Thánh kinh ra những ngôn ngữ đang mai một.
Đó là những “nô bộc” đáng được chiêm ngưỡng, gây nguồn cảm hứng cho những ai đang bước đi trên con đường hoàn thiện. Thật thích thú khi đối chiếu hai hạng người đó - những minh tinh và những nô bộc - rõ ràng những nô bộc đã nổi bật như những người được ưu đãi, được vinh dự. Họ có những đặc điểm của chiều sâu nội tâm và sự sung mãn cùng hoan lạc mà người ta không thể gặp được ở những nơi khác. Những nô bộc đó phục vụ với số lương thấp kém, làm lụng nhiều giờ và không được tán dương, “phung phí” tài năng của họ giữa một đám tiện dân nghèo hèn vô học. Theo một cách nào đó, trong tiến trình làm mất sự sống của chính họ thì họ đã tìm gặp được sự sống.
Người nghèo khó trong tâm hồn và người hiền lành được chúc phúc thật. Nước Trời là của họ và Đất Hứa là gia nghiệp họ.
PHÚC THAY AI CÓ TÂM HỒN TRONG SẠCH
Trong quyển sách “What I Believe” (Điều Tôi Tin), Francois Mauriac, một văn hào Công Giáo người Pháp, đã cho biết cám dỗ về tình dục là một trận chiến rất quen thuộc. Mauriac đã bác khước hết mọi lý luận mà ông đã được dạy dỗ từ thuở thiếu thời trong Giáo Hội Công Giáo nhằm mục đích giữ gìn sự khiết tịnh về tình dục, theo đó “hôn nhân là để chữa trị lòng ham muốn về nhục dục” hoặc “sự tiết dục giúp chế ngự tình dục”. Những điều đó không xảy tới cho Mauriac cũng như cho nhiều người khác. Mauriac nhận thấy rằng sự ham muốn về nhục dục chẳng khác nào những ngọn sóng thần vô cùng mãnh liệt có thể cuốn mất hết những thiện ý trong tâm thức con người. Hoặc lý luận cho rằng “sự hoàn thiện đích thực chỉ tìm thấy trong sự đơn hôn” : điều nầy có thể đúng, nhưng chắc chắn không xem ra đúng đối với những người buông thả theo những xung động của tình dục, kể cả trong đời sống đơn hôn. Do đó Mauriac đã cân nhắc những lý luận có tích cách truyền thống về đức khiết tịnh và nhận thấy những lý luận đó rất thiếu sót.
Mauriac kết luận rằng sự tiết dục, sự tự chế và những lý luận thuần lý là những khí giới không thích hợp để thắng trận chiến tình dục. Cuối cùng, ông chỉ tìm thấy một lý do để sống khiết tịnh là điều mà Chúa Kitô đã công bố trong những “Mối Phúc Thật”: “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa”. Theo Mauriac, sự mất khiết tịnh khiến chúng ta xa lìa Thiên Chúa. Đời sống tâm linh cũng tuân hành những luật lệ khá minh xác như thế giới vật lý…Sự khiết tịnh là điều kiện để hướng đến một tình yêu cao cả hơn - nhằm đạt tới một sở hữu lớn hơn mọi sở hữu hết thảy: đó là Thiên Chúa.
Tình yêu Thiên Chúa đòi buộc chúng ta phải thanh tẩy mọi cơ năng trước khi chúng ta đón nhận một tình yêu cao cả hơn mà không thể đạt tới bằng bất cứ đường lối nào khác. Đó là động lực thúc đẩy chúng ta sống đời khiết tịnh. Nếu chấp chứa tính ham mê nhục dục, chúng ta tự giới hạn khả năng sống thân mật với Thiên Chúa.
Người có tâm hồn khiết tịnh thật đáng chúc phúc vì họ sẽ thấy Thiên Chúa. Điều đó rất đơn giản nhưng cũng rất khó khăn.
(CÒN TIẾP)