Chúa Nhật 22 Thường Niên B
Mc 7,1-23
Thưa quý vị,
Chẳng phải vì tình yêu Thiên Chúa hay vì lòng nhiệt thành với lề luật mà những người Biệt Phái vất vả đi từ Giêrusalem tới Galilea để tìm gặp Chúa Giêsu. Họ đã nghe đồn thổi nhiều về nhân vật tiểu tốt này. Giáo lý của ông ta thật nguy hiểm cho nền đạo chính thống nên họ không tiếc công tới để gài bẫy ông, làm cho ông cụt hứng, bẽ mặt trước đám đông ít học và không am tường lề luật. Từ đó, uy tín của ông tan thành mây khói. Ông không thể tiếp tục gieo rắc sai lầm trong dân chúng nữa. Nền giáo lý cổ truyền được bảo vệ. Tuy nhiên họ lại không dám đối mặt trực tiếp với Chúa Giêsu, thay vào đó họ tấn công các môn đệ của Ngài.
Vấn đề được đưa ra tranh luận hôm nay là về các “cổ lệ của cha ông”: Rửa tay trước khi ăn uống, rửa đồ sành đồ gốm khi có người ngoại giáo sờ vào: “Sao môn đệ của ông không theo truyền thống tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa”. Đây là những cổ lệ, giải nghĩa sách Ngũ Kinh. Người Do Thái lập ra những tục lệ ấy để bảo đảm lề luật của Môsê không bị vi phạm. Sau này nó biến thành nghi lễ mọi người phải tuân thủ hàng ngày, mất hẳn tính đạo đức bên trong, chỉ còn hình thức bên ngoài. Các chuyên viên Kinh Thánh gọi là tính luật pháp hay nghi lễ. Chúa Giêsu mộc mạc hơn, nói là thói giả hình. Nếu không cảnh giác cao độ, ngày nay chúng ta cũng dễ mắc vào bệnh hình thức này. Cử hành các lễ nghi, nhưng tâm tình trống rỗng, vụ hình thức, vụ lề luật, sơ cứng tư duy, hoạt động tích cực để trấn áp tiếng trách móc của lương tâm… Công bằng mà nói, những người biệt phái có lẽ còn ngay thẳng hơn chúng ta. Sở dĩ họ chống đối Chúa Giêsu vì không biết xuất xứ của Ngài. Mặt khác, họ nghĩ rằng làm như thế là giúp đỡ dân chúng tuân thủ đúng luật Maisen, tránh cho đám bình dân khỏi lầm đường lạc lối. Cả hai thư, lề luật và tập tục cổ truyền đối với họ đều thánh thiêng như nhau. Cả hai đều là quà Thiên Chúa tặng, có khả năng ban sự sống và khôn ngoan. Các môn đệ Chúa Giêsu vi phạm là Chúa Giêsu đã đồng tình cho phép phá bỏ lề luật. Sự thật, Chúa Giêsu vẫn tôn trọng quyền bính của lề luật. Đã có lần Ngài tuyên bố Ngài đến để làm trọn lề luật chứ không phá bỏ. Nhưng Ngài không đặt các “tập tục của loài người” ngang hàng với Lề luật Môsê. Đối với Ngài, luật căn bản là “tình yêu”. Luật Môsê được ban hành là nhằm nuôi dưỡng và thăng tiến tình yêu, chứ không phải áp chế người vô tội. Tư tưởng của sách Đệ Nhị Luật trong bài đọc một hôm nay xác định rõ điều đó: “Anh em đừng thêm gì vào điều tôi truyền cho anh em, cũng đừng bớt gì, nhưng phải giữ những mệnh lệnh của Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, mà tôi truyền cho anh em.”
Các nhà khảo cổ và nhân chủng học mới đây khám phá rằng: Lề luật mà các Biệt phái đưa ra thuộc loại “Truyền Thống lớn”, tức nghiêm ngặt, mà chỉ những hạng ưu tú trong các thành phố mới có thể giữ được. Rửa tay trước bữa ăn không phải vì vệ sinh mà hoàn toàn là nghi lễ, không dễ gì giới bình dân hoặc người ở thôn quê giữ được vì khan hiếm nước. Do đó, những người ở giai cấp thấp phát triển “Tập Tục nhỏ”, dẫn xuất từ truyền thống lớn, tuy rằng có một vài khuyết điểm. Các môn đệ Chúa Giêsu tuân theo truyền thống thứ hai này, nhưng những người biệt phái xem đó là phá bỏ lề luật, thách thức quyền bính của họ. Vì thế, họ gây sự với Chúa Giêsu. Nhưng tập tục nhỏ được đa phần dân chúng tuân theo, cho nên Chúa Giêsu bênh vực các môn đệ, gọi họ là “vô tội” ( Xin xem thêm John Pilch: Văn hoá Do Thái thời Chúa Giêsu trang 130-131).
Tự bản thân, luật Môsê là thánh thiện, là hiến chương căn bản của đạo Do Thái, chứ không phải mang tính chất hình thức lịch thiệp bề ngoài. Xin đừng quên điều đó. Hôm nay Chúa Giêsu phản đối người Pharisiêu về cách thức họ chú giải lề luật. Đối với Ngài, luật Môsê rõ ràng, không cần thêm thắt hay chuyển dịch ý nghĩa như các thầy kinh sư thường làm, vô tình họ bẻ cong mục tiêu nguyên thuỷ của lề luật. Thiên Chúa mạc khải tình yêu cứu rỗi của Ngài qua lề luật, chứ không phải nô lệ hoá tuyển dân. Cho nên mục tiêu của lề luật là thăng tiến tự do, yêu thương và phát triển các mối dây quan hệ tốt giữa cộng đồng dân Chúa và với Thượng Đế, Đức Chúa của họ. Người biệt phái không có não trạng đó. Đối với họ lề luật là nguồn mạch quyền bính họ nắm trong tay để thống trị kẻ khác. Nó là phương tiện hữu hiệu để trục lợi và tham lam. Họ cảm thấy “ưu tuyển” hơn tầng lớp dân đen. Như vậy, Chúa Giêsu đã nhìn ra ý đồ đen tối của các thầy thông luật, họ đã biến đổi nó thành khí cụ giết chết chứ không phải nuôi sống. Hậu quả là họ sẽ dùng kỹ thuật chú giải lề luật của họ mà đưa Chúa Giêsu lên thập giá. Nghe thì vô lý nhưng đó là sự thật. Lịch sử nhân loại cũng đầy vết đen như vậy, người ta nhân danh tôn giáo, Thiên Chúa để tàn sát những người vô tội. Bằng một lý giải có tính thuyết phục cao, Chúa Giêsu đã làm cho các thầy biệt phái và kinh sư im lặng. Họ bực tức trở về Giêrusalem nghiền ngẫm cơ hội khác. Chúa Giêsu tiếp tục giảng dạy đám đông: “Xin mọi người nghe tôi đây và hiểu cho rõ: không có cái gì vào trong con người mà lại làm cho con người ra ô uế được, nhưng chính những cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế”. Ngài chuyển đổi chi tiết của việc ăn uống, từ cách thức ăn uống sang các đồ vật ăn uống. Ngài chú trọng đến khía cạnh luân lý của vấn đề chứ không phải sự thanh sạch theo nghi thức. Người biệt phái bị Chúa Giêsu kết án bởi lẽ trái tim họ đã ra chai đá và những tư tưởng nhơ bẩn phát xuất từ trái tim đó chứ không phải những thứ bề ngoài. Họ đã vội vã chỉ trích các môn đệ của Ngài về những điều vụn vặt, không căn bản. Họ chất lên vai quần chúng những gánh nặng không cần thiết mà trong hành động họ không thực hành. Họ là hạng người đồi bại về luân lý và nếp sống của họ chứng tỏ như vậy.
Thường thường thánh sử Marcô không thích đi vào chi tiết. Văn của ông cụ thể, mạnh mẽ, trực tiếp, có khi sai văn phạm, miễn là đạt được ý tưởng. Nhưng ở điểm này, thánh nhân lại khá kỹ lưỡng trong việc mô tả những tập tục của người Do Thái. Có thể thánh nhân nhận thức được ông viết ở Rôma không chỉ dành riêng cho các kiều dân Do Thái, mà cho nhiều hạng người khác nữa. Họ cần thấu hiểu vấn đề và các lời chỉ trích của Chúa Giêsu về đức tin không chân thật của các kinh sư và biệt phái. Chúa Giêsu thẳng thừng gọi các đối thủ của mình là những kẻ giả hình (hypocrites). Từ này nguyên thuỷ áp dụng cho các diễn viên kịch nghệ. Họ làm hề, đóng vai kẻ khác. Người biệt phái giả vờ đạo đức để chiêu mộ bàn dân thiên hạ. Kỳ thực, họ thiếu hẳn tinh thần tôn giáo, tức đức tin chân chính. Đối với Chúa Giêsu vấn đề then chốt là nội dung của con tim. Trong toàn bộ Thánh Kinh, trái tim là nguồn mạch tình cảm, đam mê và tri thức. Người ta gặp gỡ Thiên Chúa trong trái tim mình, nghe lời Ngài và đàm đạo với Ngài cũng ở trong trái tim. Trái tim trong sạch là dấu chỉ của linh hồn thánh thiện. Trái tim nhơ bẩn là kết quả của một lối sống bê tha. Ngày nay cũng vậy thôi. Người ta đánh giá một nhân vật theo trái tim chứ không theo kiến thức. Kiến thức khoa học, thần học, triết học, tâm lý… chưa bảo đảm con người là tốt. Cần phải huấn luyện con tim công bình, bác ái, yêu thương. Đối với các tác giả Kinh Thánh phẩm chất của trái tim nói lên chúng ta có tương giao với Thượng Đế ra sao. Tuy nhiên Chúa Giêsu đòi hỏi nơi tín hữu nhiều hơn là một trái tim thanh sạch. Tôn giáo đích thực không chỉ là một cuộc hoán cải cá nhân suông, một dịch vụ giữa tôi với Chúa Giêsu, mà là các hành động bắt nguồn từ trái tim: “vì từ bên trong, từ lòng người phát xuất ra những ý định xấu: tà dâm, trộm cướp, giết người, ngoại tình, tham lam, xảo trá, độc ác, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng”. Hành động tốt chứng tỏ chúng ta ở trong tương giao hoàn hảo với Thiên Chúa. Nếu như trái tim chúng ta xấu, ắt hẳn các hành động sa đoạ nảy sinh. Cho nên ở một nơi khác trong phúc âm Chúa Giêsu dạy: “Hãy xem quả ắt sẽ biết cây, cây xấu không thể sinh trái tốt và cây tốt không thể sinh trái xấu.” (Mt 7,17) Còn ở đây Chúa Giêsu dạy, chính các hành động sẽ tố cáo chúng ta.
Trong bài đọc một và bài Phúc âm hôm nay, cả hai vị, ông Môsê và Chúa Giêsu đều kêu gọi đám đông: “Hãy nghe tôi đây”. Ông Môsê thay mặt Thiên Chúa truyền mười giới răn. Chúa Giêsu ban luật thanh sạch. Cả hai đều biểu lộ ý muốn của Thượng Đế là con người được hạnh phúc, tự do và thánh thiện, không giả hình, không kiêu căng: “Như vậy anh em sẽ được sống và sẽ vào chiếm hữu miền đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em ban cho anh em… Anh em phải giữ và đem ra thực hành vì nhờ đó anh em sẽ được các dân coi là khôn ngoan và thông minh,” vượt xa mọi khả năng hiểu biết của loài người. Mọi quốc gia sẽ nhận ra rằng quả thực dân Israel đã hiểu biết và sống thân mật với Thiên Chúa, Thượng Đế của họ. Bài đọc hai, thánh Giacôbê cũng khuyên nhủ lắng nghe Lời Thiên Chúa: “Anh em hãy khiêm tốn đón nhận Lời đã được gieo vào lòng anh em, Lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em. Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối mình.” Nghĩa là thánh nhân muốn nói, Lời Chúa trước tiên thâm nhập và đổi mới trái tim chúng ta, sau đó nó biến thành hành động yêu thương, bác ái, công bình…
Tóm lại, người Biệt phái ngỡ rằng chi li tuân thủ lề luật là đương nhiên được ơn cứu rỗi. Tiếp theo tư tưởng của Môsê, Chúa Giêsu mạc khải ý muốn của Thượng Đế là con người được cứu độ. Cho nên mọi người phải mở rộng lòng mình ra để đón nhận Lời Chúa, để cho lời đó biến đổi trái tim và thực hiện những thay đổi có ý nghĩa trong cuộc sống. Trước Thánh Thể, chúng ta cũng là đám đông nghe lời Chúa Giêsu. Chúng ta cũng có các bài giảng, lời hiệu triệu, chúng ta cũng được Ngài kêu gọi: “Hãy nghe Ta.” Đôi khi chúng ta sợ hãi trước những đòi hỏi của Chúa Giêsu. Nhưng lương thực thiêng liêng chúng ta sắp lãnh nhận sẽ giúp đỡ chúng ta ngày một trở nên can đảm “thực hành lời Chúa, chứ đừng nghe suông mà lừa dối mình” Amen.
Ý đẹp : Đối với các nhà giảng thuyết, im lặng là cần thiết và quý báu. Bởi lẽ linh hồn lúc ấy mới in được bóng hình chân lý, giống như mặt nước hồ ao, có phẳng lặng mới in được bóng trăng. Hơi gợn sóng là bóng trăng tan vỡ. Linh hồn xôn xao thì chân lý biến mất. (Tihamer Toth).
Mc 7,1-23
Thưa quý vị,
Chẳng phải vì tình yêu Thiên Chúa hay vì lòng nhiệt thành với lề luật mà những người Biệt Phái vất vả đi từ Giêrusalem tới Galilea để tìm gặp Chúa Giêsu. Họ đã nghe đồn thổi nhiều về nhân vật tiểu tốt này. Giáo lý của ông ta thật nguy hiểm cho nền đạo chính thống nên họ không tiếc công tới để gài bẫy ông, làm cho ông cụt hứng, bẽ mặt trước đám đông ít học và không am tường lề luật. Từ đó, uy tín của ông tan thành mây khói. Ông không thể tiếp tục gieo rắc sai lầm trong dân chúng nữa. Nền giáo lý cổ truyền được bảo vệ. Tuy nhiên họ lại không dám đối mặt trực tiếp với Chúa Giêsu, thay vào đó họ tấn công các môn đệ của Ngài.
Vấn đề được đưa ra tranh luận hôm nay là về các “cổ lệ của cha ông”: Rửa tay trước khi ăn uống, rửa đồ sành đồ gốm khi có người ngoại giáo sờ vào: “Sao môn đệ của ông không theo truyền thống tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa”. Đây là những cổ lệ, giải nghĩa sách Ngũ Kinh. Người Do Thái lập ra những tục lệ ấy để bảo đảm lề luật của Môsê không bị vi phạm. Sau này nó biến thành nghi lễ mọi người phải tuân thủ hàng ngày, mất hẳn tính đạo đức bên trong, chỉ còn hình thức bên ngoài. Các chuyên viên Kinh Thánh gọi là tính luật pháp hay nghi lễ. Chúa Giêsu mộc mạc hơn, nói là thói giả hình. Nếu không cảnh giác cao độ, ngày nay chúng ta cũng dễ mắc vào bệnh hình thức này. Cử hành các lễ nghi, nhưng tâm tình trống rỗng, vụ hình thức, vụ lề luật, sơ cứng tư duy, hoạt động tích cực để trấn áp tiếng trách móc của lương tâm… Công bằng mà nói, những người biệt phái có lẽ còn ngay thẳng hơn chúng ta. Sở dĩ họ chống đối Chúa Giêsu vì không biết xuất xứ của Ngài. Mặt khác, họ nghĩ rằng làm như thế là giúp đỡ dân chúng tuân thủ đúng luật Maisen, tránh cho đám bình dân khỏi lầm đường lạc lối. Cả hai thư, lề luật và tập tục cổ truyền đối với họ đều thánh thiêng như nhau. Cả hai đều là quà Thiên Chúa tặng, có khả năng ban sự sống và khôn ngoan. Các môn đệ Chúa Giêsu vi phạm là Chúa Giêsu đã đồng tình cho phép phá bỏ lề luật. Sự thật, Chúa Giêsu vẫn tôn trọng quyền bính của lề luật. Đã có lần Ngài tuyên bố Ngài đến để làm trọn lề luật chứ không phá bỏ. Nhưng Ngài không đặt các “tập tục của loài người” ngang hàng với Lề luật Môsê. Đối với Ngài, luật căn bản là “tình yêu”. Luật Môsê được ban hành là nhằm nuôi dưỡng và thăng tiến tình yêu, chứ không phải áp chế người vô tội. Tư tưởng của sách Đệ Nhị Luật trong bài đọc một hôm nay xác định rõ điều đó: “Anh em đừng thêm gì vào điều tôi truyền cho anh em, cũng đừng bớt gì, nhưng phải giữ những mệnh lệnh của Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, mà tôi truyền cho anh em.”
Các nhà khảo cổ và nhân chủng học mới đây khám phá rằng: Lề luật mà các Biệt phái đưa ra thuộc loại “Truyền Thống lớn”, tức nghiêm ngặt, mà chỉ những hạng ưu tú trong các thành phố mới có thể giữ được. Rửa tay trước bữa ăn không phải vì vệ sinh mà hoàn toàn là nghi lễ, không dễ gì giới bình dân hoặc người ở thôn quê giữ được vì khan hiếm nước. Do đó, những người ở giai cấp thấp phát triển “Tập Tục nhỏ”, dẫn xuất từ truyền thống lớn, tuy rằng có một vài khuyết điểm. Các môn đệ Chúa Giêsu tuân theo truyền thống thứ hai này, nhưng những người biệt phái xem đó là phá bỏ lề luật, thách thức quyền bính của họ. Vì thế, họ gây sự với Chúa Giêsu. Nhưng tập tục nhỏ được đa phần dân chúng tuân theo, cho nên Chúa Giêsu bênh vực các môn đệ, gọi họ là “vô tội” ( Xin xem thêm John Pilch: Văn hoá Do Thái thời Chúa Giêsu trang 130-131).
Tự bản thân, luật Môsê là thánh thiện, là hiến chương căn bản của đạo Do Thái, chứ không phải mang tính chất hình thức lịch thiệp bề ngoài. Xin đừng quên điều đó. Hôm nay Chúa Giêsu phản đối người Pharisiêu về cách thức họ chú giải lề luật. Đối với Ngài, luật Môsê rõ ràng, không cần thêm thắt hay chuyển dịch ý nghĩa như các thầy kinh sư thường làm, vô tình họ bẻ cong mục tiêu nguyên thuỷ của lề luật. Thiên Chúa mạc khải tình yêu cứu rỗi của Ngài qua lề luật, chứ không phải nô lệ hoá tuyển dân. Cho nên mục tiêu của lề luật là thăng tiến tự do, yêu thương và phát triển các mối dây quan hệ tốt giữa cộng đồng dân Chúa và với Thượng Đế, Đức Chúa của họ. Người biệt phái không có não trạng đó. Đối với họ lề luật là nguồn mạch quyền bính họ nắm trong tay để thống trị kẻ khác. Nó là phương tiện hữu hiệu để trục lợi và tham lam. Họ cảm thấy “ưu tuyển” hơn tầng lớp dân đen. Như vậy, Chúa Giêsu đã nhìn ra ý đồ đen tối của các thầy thông luật, họ đã biến đổi nó thành khí cụ giết chết chứ không phải nuôi sống. Hậu quả là họ sẽ dùng kỹ thuật chú giải lề luật của họ mà đưa Chúa Giêsu lên thập giá. Nghe thì vô lý nhưng đó là sự thật. Lịch sử nhân loại cũng đầy vết đen như vậy, người ta nhân danh tôn giáo, Thiên Chúa để tàn sát những người vô tội. Bằng một lý giải có tính thuyết phục cao, Chúa Giêsu đã làm cho các thầy biệt phái và kinh sư im lặng. Họ bực tức trở về Giêrusalem nghiền ngẫm cơ hội khác. Chúa Giêsu tiếp tục giảng dạy đám đông: “Xin mọi người nghe tôi đây và hiểu cho rõ: không có cái gì vào trong con người mà lại làm cho con người ra ô uế được, nhưng chính những cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế”. Ngài chuyển đổi chi tiết của việc ăn uống, từ cách thức ăn uống sang các đồ vật ăn uống. Ngài chú trọng đến khía cạnh luân lý của vấn đề chứ không phải sự thanh sạch theo nghi thức. Người biệt phái bị Chúa Giêsu kết án bởi lẽ trái tim họ đã ra chai đá và những tư tưởng nhơ bẩn phát xuất từ trái tim đó chứ không phải những thứ bề ngoài. Họ đã vội vã chỉ trích các môn đệ của Ngài về những điều vụn vặt, không căn bản. Họ chất lên vai quần chúng những gánh nặng không cần thiết mà trong hành động họ không thực hành. Họ là hạng người đồi bại về luân lý và nếp sống của họ chứng tỏ như vậy.
Thường thường thánh sử Marcô không thích đi vào chi tiết. Văn của ông cụ thể, mạnh mẽ, trực tiếp, có khi sai văn phạm, miễn là đạt được ý tưởng. Nhưng ở điểm này, thánh nhân lại khá kỹ lưỡng trong việc mô tả những tập tục của người Do Thái. Có thể thánh nhân nhận thức được ông viết ở Rôma không chỉ dành riêng cho các kiều dân Do Thái, mà cho nhiều hạng người khác nữa. Họ cần thấu hiểu vấn đề và các lời chỉ trích của Chúa Giêsu về đức tin không chân thật của các kinh sư và biệt phái. Chúa Giêsu thẳng thừng gọi các đối thủ của mình là những kẻ giả hình (hypocrites). Từ này nguyên thuỷ áp dụng cho các diễn viên kịch nghệ. Họ làm hề, đóng vai kẻ khác. Người biệt phái giả vờ đạo đức để chiêu mộ bàn dân thiên hạ. Kỳ thực, họ thiếu hẳn tinh thần tôn giáo, tức đức tin chân chính. Đối với Chúa Giêsu vấn đề then chốt là nội dung của con tim. Trong toàn bộ Thánh Kinh, trái tim là nguồn mạch tình cảm, đam mê và tri thức. Người ta gặp gỡ Thiên Chúa trong trái tim mình, nghe lời Ngài và đàm đạo với Ngài cũng ở trong trái tim. Trái tim trong sạch là dấu chỉ của linh hồn thánh thiện. Trái tim nhơ bẩn là kết quả của một lối sống bê tha. Ngày nay cũng vậy thôi. Người ta đánh giá một nhân vật theo trái tim chứ không theo kiến thức. Kiến thức khoa học, thần học, triết học, tâm lý… chưa bảo đảm con người là tốt. Cần phải huấn luyện con tim công bình, bác ái, yêu thương. Đối với các tác giả Kinh Thánh phẩm chất của trái tim nói lên chúng ta có tương giao với Thượng Đế ra sao. Tuy nhiên Chúa Giêsu đòi hỏi nơi tín hữu nhiều hơn là một trái tim thanh sạch. Tôn giáo đích thực không chỉ là một cuộc hoán cải cá nhân suông, một dịch vụ giữa tôi với Chúa Giêsu, mà là các hành động bắt nguồn từ trái tim: “vì từ bên trong, từ lòng người phát xuất ra những ý định xấu: tà dâm, trộm cướp, giết người, ngoại tình, tham lam, xảo trá, độc ác, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng”. Hành động tốt chứng tỏ chúng ta ở trong tương giao hoàn hảo với Thiên Chúa. Nếu như trái tim chúng ta xấu, ắt hẳn các hành động sa đoạ nảy sinh. Cho nên ở một nơi khác trong phúc âm Chúa Giêsu dạy: “Hãy xem quả ắt sẽ biết cây, cây xấu không thể sinh trái tốt và cây tốt không thể sinh trái xấu.” (Mt 7,17) Còn ở đây Chúa Giêsu dạy, chính các hành động sẽ tố cáo chúng ta.
Trong bài đọc một và bài Phúc âm hôm nay, cả hai vị, ông Môsê và Chúa Giêsu đều kêu gọi đám đông: “Hãy nghe tôi đây”. Ông Môsê thay mặt Thiên Chúa truyền mười giới răn. Chúa Giêsu ban luật thanh sạch. Cả hai đều biểu lộ ý muốn của Thượng Đế là con người được hạnh phúc, tự do và thánh thiện, không giả hình, không kiêu căng: “Như vậy anh em sẽ được sống và sẽ vào chiếm hữu miền đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em ban cho anh em… Anh em phải giữ và đem ra thực hành vì nhờ đó anh em sẽ được các dân coi là khôn ngoan và thông minh,” vượt xa mọi khả năng hiểu biết của loài người. Mọi quốc gia sẽ nhận ra rằng quả thực dân Israel đã hiểu biết và sống thân mật với Thiên Chúa, Thượng Đế của họ. Bài đọc hai, thánh Giacôbê cũng khuyên nhủ lắng nghe Lời Thiên Chúa: “Anh em hãy khiêm tốn đón nhận Lời đã được gieo vào lòng anh em, Lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em. Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối mình.” Nghĩa là thánh nhân muốn nói, Lời Chúa trước tiên thâm nhập và đổi mới trái tim chúng ta, sau đó nó biến thành hành động yêu thương, bác ái, công bình…
Tóm lại, người Biệt phái ngỡ rằng chi li tuân thủ lề luật là đương nhiên được ơn cứu rỗi. Tiếp theo tư tưởng của Môsê, Chúa Giêsu mạc khải ý muốn của Thượng Đế là con người được cứu độ. Cho nên mọi người phải mở rộng lòng mình ra để đón nhận Lời Chúa, để cho lời đó biến đổi trái tim và thực hiện những thay đổi có ý nghĩa trong cuộc sống. Trước Thánh Thể, chúng ta cũng là đám đông nghe lời Chúa Giêsu. Chúng ta cũng có các bài giảng, lời hiệu triệu, chúng ta cũng được Ngài kêu gọi: “Hãy nghe Ta.” Đôi khi chúng ta sợ hãi trước những đòi hỏi của Chúa Giêsu. Nhưng lương thực thiêng liêng chúng ta sắp lãnh nhận sẽ giúp đỡ chúng ta ngày một trở nên can đảm “thực hành lời Chúa, chứ đừng nghe suông mà lừa dối mình” Amen.
Ý đẹp : Đối với các nhà giảng thuyết, im lặng là cần thiết và quý báu. Bởi lẽ linh hồn lúc ấy mới in được bóng hình chân lý, giống như mặt nước hồ ao, có phẳng lặng mới in được bóng trăng. Hơi gợn sóng là bóng trăng tan vỡ. Linh hồn xôn xao thì chân lý biến mất. (Tihamer Toth).