CÔNG ĐỒNG VATICAN II LÀ LỄ HIỆN XUỐNG MỚI ĐỐI VỚI GIÁO HỘI THẾ KỶ XX VÀ CÁC THẾ KỶ SAU
A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Giúp các học viên có cái nhìn tổng quát về Công Đồng Vatican II và nắm bắt những nét canh tân lớn của Công Đồng ấy.
B. TIẾP CẬN VẤN ĐỀ
1. Chắc anh chị đã nhiều lần nghe nói đến Công đồng Vatican II. Nhưng anh chị đã có dịp nào tìm hiểu, học hỏi về Công đồng ấy chưa? Nếu anh chị “đã” có dịp tìm hiểu, học hỏi về Công đồng Vatican II, thì xin cho biết anh chị đã tìm hiểu, học hỏi được những gì? và thấy điều gì tâm đắc nhất? Còn nếu anh chị “chưa” có dịp tìm hiểu, học hỏi về Công đồng Vatican II, thì xin anh chị cho biết tại sao? Anh chị có muốn sửa chữa thiếu sót ấy không?
2. Anh chị có cảm nghĩ gì khi đọc đoạn thư này:
“Trong Ngày Năm Thánh của Giáo dân tại quảng trường Thánh Phêrô năm ngoái, trong khi mừng kính trọng thể Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, cha đã phân phát bản sao các văn kiện Công đồng Vatican II cho các đại biểu giáo dân đến từ mọi lục địa. Mặc dù đã kết thúc cách đây ba mươi lăm năm, Công đồng Vatican II vẫn còn là một biến cố hết sức đặc biệt đối với Giáo hội mà chúng ta phải mãi mãi tìm về với Công đồng ấy để hiểu được đầy đủ ý nghĩa của các giáo huấn của Công đồng. “Cách riêng, giáo dân các con phải đọc lại các văn kiện ấy. Công đồng đã mở ra cho các con những viễn tượng phi thường để các con dấn thân và hoà mình vào trong sứ mạng của Giáo hội” (Trích bài giảng trong Ngày Năm Thánh của Giáo dân, 26 tháng 11 năm 2000, đoạn 3).
(Đức Gioan Phaolô II, Thư gửi Hội nghị giáo dân Á châu lần thứ 2 tại Thái Lan)
3. Anh chị có cho rằng ngày nay người ta có thể nói về Giáo hội, về người giáo dân mà không nói gì đến Công đồng Vatican II không? Tại sao?
4. Anh chị có cho rằng Khóa Bồi dưỡng Giáo lý cho người trưởng thành này nên dành một thời gian thích hợp để nói về Công đồng Vatican II không? Anh chị muốn tìm hiểu, học hỏi về những vấn đề gì? những văn kiện nào của Công đồng?
C. HỌC HỎI VỀ CÔNG ĐỒNG VATICAN II
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CÔNG ĐỒNG VATICAN II
Bất cứ một biến cố đạo đời nào cũng có bối cảnh của nó. Công đồng Vatican II là một biến cố hết sức quan trọng không chỉ đối với Giáo hội mà với cả thế giới loài người nữa, nên Công đồng cũng có bối cảnh riêng của mình. Mặt khác khi nói đến bối cảnh lịch sử của Công đồng thì chúng ta không thể không nói đến Đức Thánh Cha Gioan XXIII - vị giáo hoàng đã được Thánh Linh linh ứng để triệu tập Công đồng - và những ước mơ của ngài trong công việc hệ trọng này.
1.1Đức Gioan XXIII:
Đầu tháng 10 năm 1958, Đức Hồng Y Giáo Chủ Roncalli, 77 tuổi (sinh năm 1881) được bầu làm Giáo hoàng, làm cả Giáo hội và thế giới kinh ngạc. Dư luận chung đều cho rằng Đức Gioan XXIII chỉ đóng vai trò “chuyển tiếp” mà thôi, vì tuổi cao và lập trường cổ điển truyền thống của ngài. Nhưng điều ít ai ngờ nổi là chính vị Giáo hoàng gốc gác nông dân, đời sống bình dị ấy lại rất biết lắng nghe Chúa Thánh Thần. Và chính ngài đã nẩy ra ý và quyết định chuẩn bị, triệu tập và điều hành Công đồng thứ 21 của Giáo hội Công giáo.
1.2 Bối cảnh lịch sử:
Thoạt nhìn người ta có thể lầm tưởng là mọi chuyện đều rất tốt đẹp đối với Giáo hội vào chính lúc mà Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tiết lộ ý muốn triệu tập một Công đồng chung. Nhưng nếu nhìn sâu, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều vấn đề được đặt ra cho Giáo hội. Chẳng hạn:
* Ngoài thế giới: hai cuộc chiến tranh thế giới 1914-1918 & 1939-1945 đã chia cắt thế giới làm nhiều khối thù địch nhau. Bộ mặt các quốc gia đã thay đổi lớn lao với tiến bộ khoa học, kỹ thuật, với các phong trào giải phóng dân tộc. Bao vấn đề được đặt ra cho con người và có ảnh hưởng đến đời sống người Công giáo một cách sâu đậm.
* Trong Giáo hội: Công đồng Vatican I đã bị ngưng lại cách đột ngột vì cuộc chiến tranh Pháp-Phổ, để lại một công việc dang dở. Đã có nhiều vị Giáo hoàng nghĩ tới việc tiếp tục Vatican I nhưng vì hoàn cảnh này hoàn cảnh khác, chưa vị nào thực hiện được ước muốn đó. Ngoài ra các tiến bộ khoa học kỹ thuật ảnh hưởng sâu đậm đến các Phong Trào Canh Tân và Công Giáo Tiến Hành. Người tín hữu (kể cả giáo sĩ lẫn giáo dân) như trưởng thành hơn, cả về mặt nhận thức lẫn mặt dấn thân….khiến một thao thức lớn nẩy sinh trong lòng Giáo hội. Thêm vào đó, sự chia rẽ giữa các Kitô hữu thuộc các Giáo hội khác nhau đã là một vết đen lịch sử mà nhiều người mong xóa bỏ. Đó là bối cảnh của Công đồng Vatican II.
1.3 Thánh Thần “linh ứng” việc triệu tập Công đồng:
Trong những ghi chú cá nhân của Đức Gioan XXIII để lại, ý tưởng về Công đồng đã xuất hiện ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ Giáo hoàng của ngài. Ba tháng trôi qua trong cầu nguyện, suy tư và kín đáo tham khảo ý kiến.
Ngày 21 tháng 01 năm 1959 Đức Gioan XXIII nói chuyện với Hồng Y Tardini là Quốc Vụ Khanh, về tình trạng đầy lo âu cuả thế giới: bao nhiêu lời kêu gọi hòa bình, công lý không ngớt lặp đi lặp lại nhưng vẫn hoàn toàn vô vọng…Hội thánh có thể làm gì để đem lại cho thế giới một tấm gương lớn về sự hòa hợp giữa con người thuộc mọi chủng tộc, văn hóa và giai cấp?…Và một từ ngữ chợt đến trên môi vị Giáo hoàng: “một Công đồng chung?”Ngài chờ đợi từ phía vị Quốc Vụ Khanh của ngài một phản ứng lúng túng hoặc một chuỗi những vấn nạn….Thế nhưng ngài đã kinh ngạc khi nghe người cộng sự thân tín tán đồng cách rất hào hứng: “Vâng, vâng, một Công đồng!” Ngài nhìn thấy đó là dấu hiệu của Ý Chúa mà ngài tìm kiếm từ 4 tháng qua. Chính ngày 21 tháng 01 ấy, Đức Gioan XXIII quyết định triệu tập một Công đồng chung. Bốn ngày sau, ngày 25.01.1959 tại đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành, Đức Gioan XXIII đã tiết lộ quyết định này cho 18 Hồng Y vừa dâng lễ với ngài, kết thúc tuần cầu nguyện cho Hiệp Nhất.
1.4 Ước mơ của Đức Gioan XXIII về Công đồng Vatican II:
Thông qua một số lời phát biểu của Đức Gioan XXIII, chúng ta có thể hiểu được ước mơ của vị Giáo hoàng này về Công đồng. Ước mơ đó là:
Canh tân đời sống Giáo hội,
Tiến tới sự Hiệp Nhất các Kitô hữu.
* “……….Mục đích chính của Công đồng là phát huy đức Tin Công giáo, canh tân lành mạnh những phong tục các dân tộc Kitô giáo và ban hành bộ giáo luật thích hợp với nhu cầu thời đại chúng ta hơn. Điều đó dĩ nhiên sẽ nêu lên một quang cảnh sáng lạn về chân lý, hợp nhất và bác ái mà cha hy vọng rằng những anh em ly khai với Toà thánh sẽ coi đó` như một lời mời êm dịu, đi tìm tòi để đạt tới sự hiệp nhất mà Chúa Kitô đã tha thiết cầu xin Cha trên trời ban cho”
(Observatore Romano ngày 3.7.1959)
* “……….Công đồng này sẽ đem lại một sự phục hưng trong địa hạt phụng vụ cũng như trong địa hạt cai trị và mục vụ….Cũng là để chuẩn bị một công cuộc khác rộng lớn hơn, chưa thể thực hiện ngay, nhưng sẽ có thể thắt chặt mối hiệp nhất, cả sự hiệp nhất hữu hình bên ngoài trong Hội thánh công giáo do Chúa đã sáng lập”
(Observatore Romano ngày 30.10.1959).
*”………..Mục tiêu thứ nhất và trực tiếp của Công đồng là giới thiệu cho thế giới một Giáo hội của Thiên Chúa muôn đời dồi dào sức sống và chân lý, kèm theo những quy luật thích ứng với hoàn cảnh hiện tại, luôn luôn chu toàn sứ mệnh cao cả do Chúa ủy thác, và dã được chuẩn bị sằn sàng trước những nhu cầu hiện tại cũng như ngày mai,
Thế rồi các anh em ly khai với chúng ta, hoặc giữa họ với nhau mong muốn thể hiện nguyện vọng hợp nhất. Cha có thể âu yếm nói với họ rằng: đây là nhà của anh em, là nhà của mọi người mang dấu hiệu của Chúa Kitô. Trái lại nếu người ta cứ muốn khởi sự bằng những cuộc tranh luận, bàn cãi thì sẽ không đạt tới kết quả nào”
(Osservatore Romano ngày 16.11.1960).
II. CÁC VĂN KIỆN CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II
Sau 4 kỳ nhóm họp từ 11.10.1962 đến 08.12.1962 (kỳ 1), từ 29.09.1963 đến 04.12.1963 (kỳ 2), từ 14.09.1964 đến 21.11.1964 (kỳ 3) và từ 14.09.1965 đến 08.12.1965 (kỳ 4), Công đồng Vatican II đã công bố 16 văn kiện chia thành 3 loại khác nhau, với tầm quan trọng khác nhau gồm 4 hiến chế, 9 sắc lệnh và 3 tuyên ngôn:
2.1- Hiến chế
* Là tài liệu tín lý hoặc mục vụ, có giá trị học thuyết vững chắc và lâu bền;
* Có 4 hiến chế như 4 cột trụ của một tòa nhà:
Hiến chế tín lý về Mặc Khải của Thiên Chúa (Dei Verbum: Lời Thiên Chúa), công bố ngày 18.11. 1965;
Hiến chế Phụng Vụ Thánh (Sacrosantum Concilium: Thánh Công Đồng), công bố ngày 04.12.1963;
Hiến chế tín lý về Hội Thánh (Lumen Gentium: Anh Sáng muôn dân), công bố ngày 21.11.1964;
Hiến chế mục vụ về Hội Thánh trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes: Vui mừng và Hy vọng), công bố ngày 07.12.1965.
2.2- Sắc Lệnh
* Là tập hợp những quyết định có tính chất thực hành, mục vụ hay kỷ luật dành cho thời đại chúng ta;
* Có 9 sắc lệnh:
Sắc lệnh về Hoạt động truyền giáo của Hội Thánh (Ad gentes: Đến với muôn dân), công bố ngày 07.12.1965;
Sắc lệnh về Trách nhiệm mục vụ của các Giám mục (Christus Dominus: Chúa Kitô) công bố ngày 28.10.1965;
Sắc lệnh về Chức vụ và đời sống các linh mục (Presbytorerum Ordinis: Chức linh mục ), công bố ngày 07.12.1965;
Sắc lệnh về Đào tạo linh mục: Optatam totius: Mọi người mong ước) công bố ngày 28.10.1965;
Sắc lệnh về Canh tân thích nghi đời sống Dòng tu (Perfectae Caritatis: Đức Ai trọn hảo), công bố ngày 28.10.1965;
Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân (Apostolicam Actuositatem: Phát động việc tông đồ), công bố ngày 18.11.1965;
Sắc lệnh về Hiệp Nhất (Unitatis Redintegratio: Việc tái lập sự Hiệp Nhất), công bố ngày 21.11.1964;
Sắc lệnh về các Giáo hội Công giáo Đông Phương (Orientalium Ecclesiarum: Giáo hội Công giáo Đông phương), công bố ngày 21.11.1964;
Sắc lệnh về Các Phương tiện truyền thông xã hội (Inter mirifica: Trong những phát minh kỳ diệu), công bố ngày 4.12.1963.
2.3 Tuyên Ngôn
* Là một bày tỏ quan điểm của Giáo hội trước một vấn đề mới và đưa ra những phương hướng suy tư và xử sự trong tình trạng hiện nay của thế giới.
* Có 3 tuyên ngôn:
Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo (Gravissimum Educationis : Vai trò vô cùng quan trọng), công bố ngày 28.10.1965;
Tuyên ngôn về Liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo (Nostra Aetate: Trong thời đại chúng ta), công bố ngày 28.10.1965;
Tuyên ngôn về Tự do tôn giáo (Dignitatis Humanae: Nhân phẩm), công bố ngày 07.12.1965.
III. MỐI LIÊN KẾT GIỮA CÁC VĂN KIỆN CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II
Trong 16 văn kiện của Công đồng Vatican II, ai cũng phải thừa nhận rằng: Hiến chế tín lý về Giáo hội là văn kiện nòng cốt nhất. Các văn kiện khác có thể được coi là những triển khai mặt này mặt khác của Hiến chế Giáo hội ấy. Linh mục Rey-Mermet giúp chúng ta nhìn ra mối quan hệ mật thiết giữa Hiến chế tín lý và các văn kiện khác như sau:
1.- Giáo hội phát sinh từ “Lời Thiên Chúa” - Dei Verbum -, từ Đức Kitô là nguồn mạch và trung tâm của Lời ấy. Ngài tự mạc khải và cho ta thấy được Chúa Cha trong Kinh Thánh liên kết với Truyền Thống sống động. Cả Thánh Kinh và Thánh Truyền cùng truyền lại cho ta Mặc Khải của Thiên Chúa.
2.- Trước Mặc Khải ấy, loài người cùng nhau đáp lại cách chính thức trong các ngày lễ và trong những cử hành của Phụng vụ thánh. Phụng vụ này được Thánh Công đồng - Sacrosantum Concilium- chủ trương thích nghi với các dân tộc sống trên toàn cầu của thế kỷ XX.
3.- Nhờ việc tập hợp Dân Chúa và nhờ các bí tích, chính Phụng vụ ấy làm thành Hội thánh. Nhờ được Chúa Giêsu thiết lập và ở với, Giáo hội này là Anh Sáng muôn dân- Lumen Gentium.
4.- Là Anh Sáng muôn dân, nên toàn thể Giáo hội là Giáo hội Truyền giáo. Đồng thời Hoạt động truyền giáo của Giáo hội phải đi đến những miền xa xôi nhất, " Đến với các dân ngoại” - Ad Gentes.
5.- Giáo hội mang tính truyền giáo trước hết chính là nhờ Trách nhiệm mục vụ của các Giám Mục là những người kế vị các Tông Đồ mà Chúa Giêsu- Christus Dominus- gởi đến để tiếp tục sứ mạng của Ngài.
6.- Tiếp đó, Giáo hội mang tính truyền giáo còn nhờ Chức vụ và đời sống các linh mục, là những người cùng chia sẻ “Chức linh mục” -Presbyterorum Ordinis với các Giám mục, ở hàng thứ nhì.
7.- Vì thế, việc Canh tân “rất đáng ao ước của cả Giáo Hội” - Optatam totius- một phần lớn gắn liền với việc Đào tạo linh mục.
8.- Sau cùng, Giáo hội mang tính truyền giáo là nhờ Hoạt động tông đồ giáo dân, vì nhờ đức tin, phép rửa và thêm sức, toàn thể Dân Chúa được đặt vào “hoạt động tông đồ”- Apostolicam Actuositatem.
9.- Từ đó, việc Giáo dục Kitô giáo là việc hết sức quan trọng -Gravissimum Educationis momentum- đối với cuộc sống con người.
10.- Toàn thể Dân Chúa đều được mời gọi nên thánh. Nhưng “nơi Đức Ai trọn hảo “ ấy- Perfectae Caritatis - vốn là ơn gọi chung của mọi người đã rửa tội, một trong những dấu chỉ sáng chói là Đời sống tu trì sống thành cộng đoàn và khấn giữ sự khiết tịnh, nghèo khó và vâng lời. Nên đời sống ấy có vai trò đặc biệt tích cực trong đời sống và sứ mạng Giáo hội.
11.- Nhưng sự toả sáng của Dân Chúa sẽ rực rỡ biết mấy nếu mọi người đã rửa tội trên thế giới hiệp nhất trong cùng một đức tin Kitô giáo! Vì thế, Đại kết để “lập lại sự thống nhất”- Unitatis redintegratio- là một trong những mục đích chính của Công đồng.
12.- Việc hợp nhất như thế với các anh em Chính Thống giáo đã có sẵn một nhịp cầu tư nhiên là các Giáo hội Đông phương Công giáo- Orientalium Ecclesiarum.
13.- Đàng khác, “ở thời đại chúng ta” -Nostra aetate- loài người ngày càng gắn bó mật thiết với nhau, Kitô giáo ý thức về những gì mình có chung với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, và đề cập tới những điểm ấy với lòng kính trọng, tình huynh đệ và nềm hy vọng.
14.- Sự có mặt và lưu tâm đầy ưu ái ấy là thái độ mà Giáo hội trong thế giới ngày nay muốn có trên mọi bình diện: “Vui mừng và Hy vọng”- Gaudium et Spes- Ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô”.
15.- Sự lưu tâm đến thế giới như vậy, không còn là bước đường để chinh phục, nhưng là bước đường của tình huynh đệ: Giáo hội đòi hỏi cho các tôn giáo khác như cho chính mình phải được Tự do tôn giáo, một sự tự do đặt nền tảng không phải trên thái độ lãnh đạm đối với chân lý, nhưng là trên “Nhân phẩm”-Dignitatis Humanae.
16.- Sự tôn trọng tự do người khác nhu thế không ngăn cản sự đối thoại. Ngược lại, và “giữa những khám phá kỳ diệu” ngày nay- Inter mirifica- Các phương tiện truyền thông xã hội cống hiến những khả năng to lớn để nói với thế giới và lắng nghe thế giới.
(Rey-Mermet, CROIRE tome 3- Vivre la foi avec le Concile Vatican II trang21-22).
Nhờ cách trình bày trên, chúng ta nhìn rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa các vấn đề của Giáo hội đã được Công đồng Vatican II thảo luận và biểu quyết. Có thể nói: mọi khía cạnh của đời sống Giáo hội đều được duyệt xét, đánh giá lại cho phù hợp với Tin Mừng và Truyền Thống của Giáo hội hơn (Công đồng Vatican II được coi là Công đồng trở về nguồn). Vì thế mà chúng ta nhận rõ hơn vị trí trung tâm của Hiến chế tín lý về Giáo hội trong suy tư và văn kiện của Vatican II.
IV. CHỦ ĐỀ - ĐẶC ĐIỂM - TINH THẦN VÀ ĐƯỜNG HƯỚNG CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II
4.1 Chủ đề:
Chỉ cần nhìn thoáng qua 16 văn kiện của Công đồng, chúng ta cũng nhận ra ngay điều này: Chủ đề của Công đồng Vatican II là Giáo hội. Giáo hội được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau cả đối nội lẫn đối ngoại, cả về mặt chiều sâu lẫn bề nổi, cả về mặt tín lý lẫn mục vụ.
4.2 Đặc điểm:
Công đồng Vatican II làm nổi bật hai đặc điểm: tính phổ quát và tính đại kết:
4.2.1 Tính phổ quát: được thể hiện qua hai yếu tố sau:
Về nội dung: Công đồng Vatican II đã đề cập đến toàn bộ đời sống và giáo lý của Giáo hội,
Về thành phần tham dự Công đồng (Nghị phụ): lần đầu tiên tuyệt đại đa số các Giám mục của Giáo hội có mặt tại Công đồng, đại diện cho tất cả các Giáo hội địa phương khắp năm châu:
* Kỳ 1: có mặt 2449 trong tổng số 2904 Giám mục (84,34%);
* Kỳ 2: có mặt 2448 trong tổng số 3022 Giám mục (82,34%);
* Kỳ 3: có mặt 2466 trong tổng số 3074 Giám mục (80,23%);
* Kỳ 4: có mặt 2625 trong tổng số 3093 Giám mục (84,88 %).
(c) Về địa dư, ta thấy: 1060 Nghị phụ châu Au;
480 Nghị phụ châu Á;
351 Nghị phụ châu Phi;
416 Nghị phụ Bắc Mỹ;
86 Nghị phụ Trung Mỹ;
531 Nghị phụ Nam Mỹ;
74 Nghị phụ châu Đại Dương.
4.2.2 Tính đại kết: một trong những mục tiêu chính của Công đồng là thực hiện ước mơ của Đức Gioan XXIII về Đại Kết, tức là sự Hiệp Nhất giữa các Giáo hội và tín hữu Kitô giáo. Tính Đại Kết của Công đồng được thể hiện qua:
Nội dung các văn kiện: Sắc lệnh về Đại Kết, Tuyên Ngôn về Tự do tôn giáo, Tuyên ngôn về liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, Hiến chế tín lý về Giáo hội, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay.
Các cuộc gặp gỡ thân mật huynh đệ cởi mở giữa các vị lãnh đạo các Giáo hội Kitô giáo khác nhau, xung quanh Công đồng.
Sự có mặt của các quan sát viên ngoài công giáo tại các kỳ họp của Công đồng: từ 54 vị đại diện cho 17 Giáo hội và cộng đồng Kitô giáo ở kỳ họp 1 đến 106 vị đại diện cho 29 Giáo hội và cộng đồng Kitô giáo ở kỳ họp 4.
4.3 Tinh thần và đường hướng:
Ngay trong diễn văn khai mạc Công đồng Vatican II ngày 11.10.1962, Đức Gioan XXIII đã đưa ra tôn chỉ hướng dẫn:
“Cởi mở với thế giới, thông cảm chứ không lên án tuyệt thông, xót thương hơn là khắt khe, nhận chân rằng thế giới cũng rất nhạy cảm, không chấp nhận sai lầm, loan truyền Phúc Am với niềm hy vọng hơn là với tâm trạng của những tiên tri loan báo sự dữ”
Vậy thì tinh thần và đường hướng của Công Đồng Vatican II chính là:
4.3.1 Canh Tân, Hòa Giải,
4.3.2 Liên Đới, Đối Thoại, Cộng Tác và Phục Vụ,
Thật vậy, ước mơ của Đức Gioan XXIII khi triệu tập Công đồng Vatican II là tạo nên một luồng sinh khí mới của Chúa Thánh Thần, một Lễ Hiện Xuống Mới cho Giáo hội. Có như thế thì Giáo hội mới làm chứng về Chúa Kitô Giêsu một cách trung thành được!
V. NHỮNG THAY ĐỔI LỚN LAO CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II
Thật khó mà lượng gía một cách chính xác và đầy đủ những thay đổi lớn lao mà Công đồng Vatican II đã đem đến cho Giáo hội Công giáo toàn cầu cũng như cho các Giáo hội địa phương. Nhưng chúng ta có thể ghi nhận một số điều chính yếu sau đây:
5.1 Công đồng Vatican II đã làm nổi bật vai trò của Thánh Kinh, Thánh Truyền trong đời sống Giáo hội. Đồng thời Lời Chúa được tôn kính và phổ biến rộng rãi hơn trong Dân Chúa. Phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, nên gần gũi, dễ hiểu và sống động hơn (Hiến chế Mạc Khải và Phụng vụ thánh);
5.2 Công đồng Vatican II đã điều chỉnh và đào sâu cách hiểu về bản chất, sứ mệnh và ơn gọi của Giáo Hội: Giáo hội được hiểu đầy đủ hơn, chính xác hơn, sát với Thánh Kinh, Thánh Truyền hơn, gần gũi và liên đới với con người và thế giới hơn (Hiến chế tín lý về Giáo hội, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay);
5.3 Công đồng Vatican II đã tạo nên một luồng sinh khí mới trong mọi lãnh vực đời sống Giáo hội (học hỏi Thánh Kinh, đào sâu thần học & tu đức, truyền giáo, đối thoại đại kết và liên tôn, cải tổ giáo luật, trình bày lại Giáo lý v.v..) cũng như trong mọi thành phần Dân Chúa (giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân).
5.4 Công đồng Vatican II đã trả lại “căn tính riêng” - cùng với phẩm gía, vai trò, chỗ đứng không thể thay thế - cho giáo dân, thành phần đông đảo nhất và bị coi thường trong cách hiểu méo mó của lịch sử (Hiến chế tín lý về Giáo hội, Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân);
5.5 Công Đồng Vatican II đã làm cho Giáo hội gần gũi với con người và thế giới bằng tinh thần yêu thương, kính trọng, liên đới và phục vụ (Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, Các Tuyên ngôn);
5.6 Công đồng Vatican II đã khai sinh ra một cơ chế mới trong sinh hoạt của Giáo hội, đó là Thượng Hội đồng các Giám mục thế giới. Thượng Hội đồng các Giám mục này thể hiện tính “Tông đồ đoàn” của các Giám mục là những người kế vị các Tông đồ, trong tình hiệp nhất với Đức Giáo hoàng là đấng kế vị Tông đồ Trưởng Phêrô. Trong hơn ba mươi năm qua, Giáo hội chúng ta đã có rất nhiều Thượng Hội đồng Giám mục.
D. THẢO LUẬN & ỨNG DỤNG
1. Tại sao Công đồng Vatican II được ví như một Lễ Hiện Xuống Mới đối với Giáo hội cuối thế kỷ XX và thế kỷ XXI? Hãy dẫn chứng một vài sự kiện mà anh chị biết.
2. Theo anh chị thì Giáo hội Việt Nam nên làm những gì hơn nữa để tinh thần Công đồng in sâu vào đời sống giáo dân?
Đ. TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU I: 21 CÔNG ĐỒNG CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
(Xin xem phần Phụ lục)
TÀI LIỆU II: ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II KHUYẾN KHÍCH GIÁO DÂN HỌC HỎI TÀI LIỆU CÔNG ĐỒNG VATICAN II
(*) VATICAN - Trưa hôm nay (26.11.2000) khi kết thúc thánh lễ cử hành tại công trường Thánh Phêrô dành riêng cho Hội Nghị Tông Đồ Giáo Dân thế giới, Đức Thánh Cha đã nhắn nhủ những lời sau đây:
“ Trong Ngày Năm Thánh dành cho Giáo Dân này, cha từng mong ước một lần nữa đặt vào bàn tay và trong trái tim của tất cả anh chị em giáo dân của thế giới những tài liệu của Công Đồng Vatican II. Công Đồng đặt trọng tâm nơi Đức Kitô và Giáo Hội của Người và đã mở cửa cho những thách đố mới trong một thế giới hiện đang thay đổi; như vậy Công Đồng đã là một biến cố do Chúa quan phòng để sửa soạn cho Dân Chúa tiến vào Ngàn Năm Thứ Ba. Cha thúc đẩy các con- những người tín hữu giáo dân- học hỏi về giáo huấn của Công đồng, hầu yêu mến và sống sứ điệp của Công đồng này. Được như vậy thì giáo dân sẽ trở thành ánh sáng và niềm hy vọng cho Giáo hội và xã hội. Ước chi Đức Kitô, Vua muôn thuở, hướng dẫn và ban sức mạnh cho các con luôn luôn”.
(Bản tin của Thống Tấn Xã Công giáo Việt Nam ngày 26/11/2000).
(**) “Trong Ngày Năm thánh của Giáo dân tại quảng trường Thánh Phêrô năm ngoái, trong khi mừng kính trọng thể Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, cha đã phân phát bản sao các văn kiện Công đồng Vatican II cho các đại biểu giáo dân đến từ mọi lục địa. Mặc dù đã kết thúc cách đây ba mươi lăm năm, Công đồng Vatican II vẫn còn là một biến cố hết sức đặc biệt đối với Giáo hội mà chúng ta phải mãi mãi tìm về với Công đồng ấy để hiểu được đầy đủ ý nghĩa của các giáo huấn của Công đồng. “Cách riêng, giáo dân các con phải đọc lại các văn kiện ấy. Công đồng đã mở ra cho các con những viễn tượng phi thường để các con dấn thân và hoà mình vào trong sứ mạng của Giáo Hội” (Trích bài giảng trong Ngày Năm thánh của Giáo dân, 26 tháng 11 năm 2000, đoạn 3).
Với lòng nhiệt thành mới các con phải tái khám phá ơn gọi nên thánh của hết mọi Kitô hữu là yếu tố nền tảng của sứ điệp mà Công đồng Vatican II đã ban tặng các con (Xem Hiến chế tín lý về Giáo hội ‘Lumen Gentium’, chương 5). Đòi hỏi nên thánh phải là mục tiêu hàng đầu trong chương trình sống đời Kitô hữu. Đòi hỏi ấy bắt nguồn từ các Bí tích khai tâm Kitô giáo. Các con ý thức về thách đố phải sống ơn gọi đặc thù của giáo dân trong Giáo hội và trong thế giới với tinh thần trách nhiệm cao hơn bao giờ hết (Xem ‘Novo Millennio Ineunte’, số 46). Do bản chất, ơn gọi ấy có liên quan với hoàn cảnh của tín hữu Kitô trong thế giới: trong gia đình, xã hội, môi trường làm việc, học hành, bạn bè và giải trí (Xem Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục ‘Christifideles Laici’, số 15). Đối với các tín hữu giáo dân đời sống “thường ngày” trở thành nơi gặp gỡ đặc biệt có sức thánh hóa, với tình yêu của Đức Kitô.”
(Thư gửi Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ II, 19-24.3.2001, tại Thái Lan).
TÀI LIỆU III: BỐN ĐỀ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II
Dịp Tĩnh Tâm tháng này, tôi xin trình bày mấy nét chính của nội dung Công đồng Vatican II. Tôi chọn đề tài trên vì 3 lý do:
* Lý do thứ nhất là vì tháng vừa qua, khi nghe rao ý chỉ cầu nguyện tháng 3 in trong lịch công giáo là: “Cầu cho mỗi người Kitô hữu cũng như các Giáo hội địa phương biết luôn luôn theo tinh thần Công đồng Vatican II” thì nhiều giáo dân và có cả người ngoại đã hỏi: “Tinh thần Công đồng Vatican II là gì?” Thực là bất ngờ nhận thấy không thiếu người, kể cả linh mục, tu sĩ đã không trả lời được.
* Lý do thứ hai là vì tháng vừa qua, một Tổng Giám Mục nổi tiếng cực kỳ bảo thủ, không chịu tuân thủ Công đồng Vatican II đã từ trần. Đó là Đức Cha Marcel Lefèvre. Nhìn ngài, rồi lại nhìn vào chính mình ta, chúng ta nên tự xét mình, ta có thực sự tuân thủ Công đồng Vatican II không?
* Lý do thứ ba là vì tháng vừa qua, tôi nghe có một linh mục ngoại quốc, sau khi đã tiếp xúc với một số Giám mục, Linh mục, tu sĩ và tham dự nhiều cuộc lễ tại Việt Nam, đã có cảm tưởng là: sinh hoạt tôn giáo tại Việt Nam rất sinh động, nhưng tiếc là chưa có bề sâu của Công đồng Vatican II.
Ba lý do trên đây thiết tưởng đủ mạnh để thúc giục tôi nói để thôi thúc anh chị em lắng nghe, và để mời gọi chúng ta cùng suy nghĩ.
Tôi sẽ vắn gọn.
Công đồng Vatican đưa ra bốn đề tài chính:
* Đề tài thứ nhất là Hội Thánh thao thức với sứ mệnh Truyền Giáo.
Truyền Giáo là bản chất của Hội Thánh. Thế nhưng, sau gần 20 thế kỷ, ngay khi lúc Công đồng đang họp, thì nhiều nơi trên thế giới không hề biết gì đến Tin Mừng cứu độ. Thí dụ: trong năm châu thì châu Á đông dân nhất, sắp chiếm gần nửa dân số nhân loại. Nhưng hiện nay số người công giáo chưa tới 4 phần trăm. Rồi trên năm châu hiện nay, có nhiều loại người mà người ta gọi là thuộc những thế giới chuyên môn, thí dụ thế giới khoa học, thế giới văn học, thế giới nghệ thuật, thế giới chính trị, thế giới kinh tế; các thế giới này hoạt động hầu như không hề biết đến Tin Mừng cứu độ.
Trong tình hình như trên, Hội Thánh không thể chỉ lo quy tụ những người đã rửa tội, mà cũng phải lo đi rao giảng Tin Mừng cho những ai chưa biết Tin Mừng như lời Đức Kitô đã truyền. Khi nhận thức được tiếng gọi đó, thì Bí tích Truyền Chức nên được nhấn mạnh đến ý nghĩa là dụng cụ và dấu chỉ của sự sai đi rao giảng Tin Mừng cho những người chưa biết Tin Mừng. Do đó, linh mục phải coi việc rao giảng Lời Chúa là thừa tác vụ ưu tiên hàng đầu.
Tình hình hiện nay kêu gọi mọi người trong Hội Thánh phải thao thức đến việc truyền giáo. Tất cả mọi thành phần Dân Chúa đều có trách nhiệm phục vụ cộng đoàn Hội Thánh đã thành hình, đồng thời cũng có trách nhiệm xây dựng những cộng đoàn Hội Thánh đang sinh ra.
Đừng cho rằng: Hoàn cảnh hiện nay không thuận lợi, nên không thể nghĩ đến việc truyền giáo. Xin thưa: Hoàn cảnh hiện nay tuy khó khăn, nhưng cũng có nhiều mặt thuận lợi cho những ai có tinh thần truyền giáo, khôn khéo và năng động. Hoàn cảnh thời các tông đồ còn khó gấp bội. Hoàn cảnh Việt Nam thời cha Alexandre de Rhodes cũng khó khăn gấp bội. Thế mà các ngài đã hoạt động truyền giáo không ngơi nghỉ. Và kết quả không phải là nhỏ. Dù sao, câu hỏi đặt ra cho ta hôm nay là: “ta có thực sự quan tâm đến việc truyền giáo không?”
* Đề tài thứ hai là Hội Thánh tập trung vào Đức Kitô là trung tâm điểm.
Sách Tông Đồ Công Vụ và các thánh thư cho thấy sự thực quan trọng đó. Thế nhưng, dần dà trung tâm điểm là Đức Kitô đã bị lu mờ. Có nơi đức tin được tập trung vào sự thuộc lòng các kinh, các chân lý đức tin và luân lý. Có nơi đức tin được tập trung vào sự vâng phục các kỷ luật chung của Hội Thánh và riêng của cộng đoàn. Có nơi đức tin được tập trung vào việc tôn sùng vị thánh này đấng thánh nọ.
Đang khi đó, đức tin đích thực phải là tin vào Đức Kitô chiụ nạn và phục sinh. Đức Kitô không phải chỉ là gương mẫu, là Thầy dạy mà còn là chính sự sống của người tin. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Ta là Đàng, là Sự Thực và là Sự Sống”. Tin Đức Kitô là tham dự vào sự sống của Ngài, là thông hiệp mật thiết với Ngài, như hình ảnh cành cây với thân cây: “Ta là cây nho, chúng con là nhành”. Tin Đức Kitô là có Đức Kitô trong mình, như Thánh Phaolô nói: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, nhưng là chính Đức Kitô sống trong tôi”.
Để tập trung vào Đức Kitô, chúng ta cần tăng cường cầu nguyện, suy gẫm đời sống Đức Kitô và học hỏi Mặc Khải của Đức Kitô.
Tôi nghĩ rằng: Tín hữu nào và cộng đoàn đức tin nào không đi vào chiều sâu của trung tâm điểm đó, sẽ khó tránh được suy thoái mặc dù được sống trong những hoàn cảnh xã hội, chính trị, kinh tế thuận lợi. Dù sao câu hỏi đặt ra cho chúng ta hôm nay, là ta có thực sự tập trung tu đức và mục vụ của ta vào Đức Kitô không?
* Đề tài thứ ba là Hội Thánh gồm toàn thể Dân Thiên Chúa.
Trước Công đồng Vatican II, người ta có thói quen nhìn Hội Thánh chỉ là Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám Mục và các linh mục. Thấy cái nhìn nhu vậy là không đúng, Công đồng Vatican II đã xác định Hội Thánh là toàn thể Dân Thiên Chúa. Dân Thiên Chúa là mọi người đã được rửa tội và tin vào Đức Kitô. Tất cả mọi người ấy đều có giá trị như nhau, đó là giá trị làm con Chúa. Tất cả mọi người ấy đều có tự do như nhau, đó là sự tự do mà Chúa Thánh Thần ban cho. Tất cả mọi người ấy đều có một ơn gọi như nhau, đó là ơn gọi nên thánh. Tất cả mọi người ấy đều có sứ mệnh như nhau, đó là sứ mệnh xây dựng Hội Thánh.
Tuy nhiên, trong Dân Chúa phải có những thừa tác vụ, đó là các Đức Giám Mục, các linh mục và các Thày Sáu. Các vị ấy là những người phục vụ, những người được sai đi, những người nhận lãnh trách nhiệm quan trọng. Các ngài là những dụng cụ, những dấu chỉ. Các vị ấy cũng như toàn Dân Chúa đều phải trung thành, gắn bó với Phúc Am, với bí tích Thánh Thể và với Chúa Thánh Thần.
Trong quan niệm mới này về Hội Thánh, Công đồng đề cao vai trò giáo dân và muốn cho vai trò giáo dân được phát huy mạnh mẽ. Cũng do quan niệm mới này về Hội Thánh, Công đồng Vatican II khuyến khích tinh thần đại kết giữa các Hội Thánh cùng tin vào Đức Kitô và cổ võ tinh thần đối thoại với các tôn giáo khác và những người không tin.
Một quan niệm như thế về Hội Thánh sẽ không phù hợp với quan niệm về Hội Thánh khép kín hình Kim Tự Tháp. Theo đó, Đức Giáo Hoàng truyền xuống cho các Đức Giám Mục, các Đức Giám Mục truyền xuống cho các linh mục, các linh mục truyền xuống cho các giáo dân. Đó là con đường mòn mà Công đồng Vatican II không còn thừa nhận.
Thế nhưng, trong cách đối xử và làm việc, không thiếu người vẫn bảo vệ con đường mòn đó. Dù sao, câu hỏi đặt ra cho chúng ta hôm nay là: Chúng ta có xây dựng những mối liên đới đúng đắn trong phạm vi Hội Thánh chúng ta, hợp với định nghĩa Hội Thánh là Dân Thiên Chúa không?
* Đề tài thứ bốn là Hội Thánh nhận thức về mối tương quan mật thiết giữa Hội Thánh và thế giới.
Hội Thánh và thế giới cùng xuất phát từ một nguồn mạch, đó là Thiên Chúa tạo dựng và cứu chuộc. Hội Thánh và thế giới cùng được hướng dẫn về cùng một mục đích, đó là sống hạnh phúc do có công lý, bình an, yêu thương đoàn tụ trong gia đình một cha chung trên trời. Hội Thánh và thế giới cùng có các thành viên như nhau đó là những con người, vừa là dân Chúa, vừa là công dân một nước. Như vậy, một cách huyền nhiệm, thế giới đã thuộc về Chúa, về Đức Kitô và về Hội Thánh của Ngài. Do đó, mọi người trong thế giới và mọi giá trị của họ, bất cứ có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng, bất cứ thuộc tôn giáo nào, đều có quyền được Hội Thánh kính trọng, và Hội Thánh cần có liên hệ tốt với họ. Cũng vậy, các vấn đề của thế giới, như nền hòa bình, sức khỏe, tình yêu, lao động, khoa học, chính trị, kinh tế, văn hóa, thể thao….đều là những thực tại trần thế làm nên một cánh đồng mênh mông của cuộc sống, mà Hội Thánh không có quyền làm ngơ.
Hội Thánh là một mảng của nhân loại được đặc ân có Tin Mừng cứu độ, thì Hội Thánh đem Tin Mừng ấy tưới cho cánh đồng muôn mầu đó. Hội Thánh phải cởi mở dấn thân vào các thực tại trần thế. Các vấn đề của cuộc sống phải được Hội Thánh quan tâm. Hội Thánh phải có mặt và góp phần giải quyết các vấn đề đang là những trăn trở của con người hôm nay. Không phải chỉ ra khỏi nhà thờ, người Kitô hữu mới nghĩ đến việc dấn thân như vậy, mà ngay trong các lời kinh, các bài thánh ca, cả đến phụng vụ cũng không được quên những nhịp đập của dân tộc mình, của đồng bào địa phương mình, với những niềm vui nỗi buồn của họ.
Về điểm này, tôi thấy Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã rất cởi mở và sâu sắc. Trong dịp tiếp hàng giáo sĩ Roma ngày 14.2.1991 Đức Thánh Cha nói: “Hội Thánh phải nhìn mình trong thế giới, và Hội Thánh phải nhìn thế giới qua sứ mệnh của mình”. Trong tinh thần ấy, anh chị em và tôi phải nhìn giáo xứ và giáo phận của ta trong các tương quan với đồng bào của ta và với Tổ Quốc Việt Nam của ta. Ta sống đức tin là sống với và sống trong địa phương này, đất nước này. Đức Thánh Cha kêu gọi ta hãy để ý cái từ với và cái từ trong.
Trên đây là những đề tài chính của Công đồng Vatican II. Tôi tóm lại, theo nội dung trong cuốn “Préparer aujourd’hui l’Eglise de demain” của Đức Cha Gabriel Matagrin, Giám Mục Grenoble.
Tôi vẫn dùng 4 đề tài trên đây như thước đo, để đánh giá một giáo sĩ, một giáo xứ, một giáo phận. Và tất nhiên, đó cũng là những hướng đi mà tôi cố gắng theo đuổi.
(Bài nói chuyện của Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần, Giám Mục Phó Giáo phận Long Xuyên, với các linh mục, tu sĩ dịp Tĩnh Tâm tại Long Xuyên ngày 01 tháng 4.1991).
TÀI LIỆU IV: BA THAO THỨC XUẤT PHÁT TỪ CÔNG ĐỒNG VATICAN II & HOÀN CẢNH VIỆT NAM
Lời đầu tiên tôi muốn nói ở đây là lời cám ơn tất cả anh em. Cám ơn vì anh em đã có mặt ở đây, cám ơn vì những tình cảm tốt lành anh em đã dành cho tôi và cho địa phận. Cám ơn vì những đóng góp thân tình và tích cực anh em dành cho Hội Thánh nói chung và giáo xứ mình nói riêng.
Tôi coi cuộc gặp gỡ hôm nay là cuộc gặp gỡ gia đình, một cuộc gặp gỡ hiếm có. Vì thế, tôi muốn lợi dụng cuộc gặp gỡ gia đình này để tâm sự với anh em.
Tôi xin chia sẻ một số thao thức của tôi, những thao thức ngày đêm như những hòn than cháy bỏng âm ỉ trong lòng tôi.
1/ Thao thức thứ nhất của tôi là công việc xây dựng nhân sự về mặt văn hóa cuộc sống.
Khi nhìn về tương lai, tôi thấy trong những năm sắp tới, cái sẽ nắm quyền chỉ huy con người Việt Nam không còn là ý thức hệ nữa, mà sẽ là văn hoá đời sống. Anh em chỉ cần nhìn qua bầu khí tâm lý lúc này của những người chung quanh và của chính chúng ta, thì sẽ hiểu được điều tôi nói. Cái gì đang điều khiển con em chúng ta? Cái gì đang hướng dẫn những người chung quanh chúng ta trong những lựa chọn, trong những sắp xếp, trong các chương trình, trong các kế hoạch? Thưa là những gì nhìn thấy ở tivi, ở video, những gì nhìn thấy ở những tiệm bày bán, những gì nhìn thấy ở các mẫu mã, những gì nhìn thấy ở trên con người, những gì nhìn thấy ở các đồ vật bày trong mỗi gia đình. Rồi ngoài những cái nhìn thấy như vậy, còn là những gì đọc được trên các sách, các báo, trong các dư luận thu tập được qua những cuộc dối thoại trao đổi. Thêm vào đó còn là những gì nghe được qua đài này đài nọ.
Tất cả những cái đó đang mở ra một chân trời mới về lãnh vực khoa học, về lãnh vực kỹ thuật, về lãnh vực mỹ thuật, về lãnh vực tư tưởng. Nó cung cấp cho con người bây gìơ những giá trị mới. Chẳng hạn như cái gía trị bây giờ người ta cho là rất quan trọng - mà trước đây ta không để ý - đó là sự chính xác. Đồng hồ tốt là đồng hồ phải chính xác, đúng giờ. Hoạt động tốt là hoạt động phải chính xác, đúng việc, đúng nội dung, đúng thời, đúng nơi. Người tốt là người phải chính xác, nói đúng làm đúng. Tất cả những gía trị như thế đang dần dần tạo ra một thứ tòa nhà vô hình để che chở cuộc sống. Dần dần nó tạo ra một vườn hoa vô hình để làm đẹp cuộc sống. Dần dần nó tạo ra một dòng sông vô hình để phát triển cuộc sống. Cuộc sống nào cũng phải dính vào đó, kể cả cuộc sống đức tin. Ví dụ như cuộc lễ hôm nay, nội dung thuần túy đức tin, nhưng phải dựa vào văn hóa cuộc sống. Nếu hệ thống âm thanh không tốt, thì cuộc lễ hôm nay sẽ không thành công. Nếu không có những vẻ đẹp của cung thánh, vẻ đẹp của những mầu hoa mầu áo, thì chưa chắc cuộc lễ tôn giáo sẽ thành công. Nếu những bài thánh ca của ca đoàn, của cộng đoàn không có kỹ thuật, tinh thần dân tộc thì chưa chắc cuộc lễ sẽ thành công. Rồi nếu thiếu một chút kinh tế, thì chưa chắc cuộc lễ sẽ thành công. Rồi nếu bài giảng của tôi không có tính cách hệ thống rõ ràng, chính xác, cuộc lễ chưa chắc sẽ thành công.
Tôi gọi tất cả những gía trị ấy là văn hóa cuộc sống. Văn hóa cuộc sống chính là trình độ, cái đúng, cái thực, cái hay, cái đẹp, cái thiện trong tư tưởng, trong lời nói, trong việc làm, trong các tương quan.
Văn hóa cuộc sống ví như chiếc xe. Ta phải chuyên chở đức tin nhờ chiếc xe đó. Nếu thiếu văn hóa cuộc sống, đức tin sẽ khó diễn tả được, sẽ khó vận chuyển được, sẽ khó hấp dẫn được.
Văn hóa cuộc sống dần dần trở thành một tiêu chuẩn để đánh giá một con người, đánh gía một họ đạo, đánh gía một Hội Thánh, đánh gía một dân tộc. Nếu người ta đến xứ đạo chúng ta, thấy nhà thờ rất lớn, nhưng khi gặp cha xứ, tu sĩ, hội đồng giáo xứ, giáo dân, người ta thấy văn hóa cuộc sống của ta quá thấp, quá thiếu, tôi e rằng người ta sẽ chê cười.
Nền văn hóa cuộc sống như tôi vừa nói, đang làm nên gía trị của con người, nhất là khi chúng ta nhìn về tương lai, một tương lai sẽ được hướng dẫn bởi văn hóa, chứ không bởi chính trị.
Trên đây là cái nhìn của tôi về năm 2000. Xây dựng nhân sự linh mục, tu sĩ, hội đồng giáo xứ và quảng đại quần chúng công giáo là phải để ý xây dựng nền văn hóa cuộc sống. Mỗi người phải nâng cao trình độ tư tưởng lên, trình độ kỹ thuật lên, trình độ khoa học lên, trình độ nhân bản lên.
Nói như vậy để anh em hiểu thiện chí không đủ. Tôi biết là anh em đầy thiện chí. Nhưng nếu chúng ta không để ý đến vấn đề xây dựng thêm văn hóa cuộc sống, tôi sợ rằng tương lai đang mở ra, nhưng chúng ta sẽ lại lỡ chuyến tầu lịch sử, sẽ lại lỡ chuyến xe lịch sử, vì chúng ta không biết đi vào đúng tuyến đường lịch sử, đó là văn hoá.
2/ Thao thức thứ hai của tôi là công việc xây dựng nhân sự về mặt nội dung đức tin
Tôi cũng đang nhìn về năm 2000. Tương lai trước mặt là một thời điểm mở ra. Mà khi mở ra thì các trào lưu văn minh sẽ tràn vào. Cái tốt cũng tràn vào, cái xấu cũng tràn vào. Cái tốt cũng hấp dẫn, cái xấu nhiều khi hấp dẫn hơn.
Trong thời điểm mở ra như vậy, nếu đức tin không vững, không sâu, không thực chất, mà chỉ là cái hình thức bên ngoài, thì phong trào văn minh tự do đang tới sẽ lôi cuốn những cái vỏ đức tin ấy như những chiếc bèo trên sông. Vì thế mà tôi muốn rằng bây giờ còn thời giờ thì phải xây dựng nội dung đức tin cho sâu, cho trúng, cho vững.
Nội dung đức tin mà tôi thấy cần thông báo cho anh em, đó là sự gặp gỡ đức Kitô sống động. Khi tôi thấy các trẻ đọc giáo lý rất thuộc tôi vẫn nghĩ rằng thuộc giáo lý vẫn chưa phải là đức tin. Đức tin là đón gặp được Đức Kitô sống động. Ngài đến với ta, Ngài ở trong ta, Ngài chia sẻ sự sống của Ngài với ta. Sống đức tin là một cuộc trao đổi tình yêu với Chúa như trao đổi tình yêu giữa hai người thương nhau sống động.
Rồi sống đức tin là nhận ra dung mạo thực của Chúa. Quen gặp Chúa rồi, ta sẽ nhận ra khuôn mặt của Chúa. Cái đẹp nhất của Ngài là tình yêu. Không phải gặp được ở sách giáo lý, mà do tiếp xúc với Ngài nhiều lần. Sống với Ngài, nên thấy khuôn mặt của Ngài có nét đặc biệt đó là tình yeu thương xót.
Rồi sống mật thiết với Đức Kitô, sẽ dần dần nhận ra chữ ký của Chúa Kitô. Tôi dùng từ đó để anh em hiểu. Khi tôi gặp một người, tôi để ý xem người ấy có chữ ký của Chúa Kitô trên đời sống của họ không. Có những nét của Chúa Kitô rất dễ nhận ra. Thí dụ nét khiêm nhường. Đức Kitô quì xuống rửa chân cho các môn đệ. Đó là sự khiêm nhường trên mọi sự khiêm nhường. Ai có nét đó thì như mang nét chữ ký của Đức Kitô trong đời sống mình. Rồi một nét nữa của Đức Kitô là quên mình. Trên Thánh Gía, Chúa Giêsu chết mà không lo cho mình, chỉ lo cho người khác. Ngài quên mình vì phục vụ. Rồi một nét khác của Đức Kitô là sự hiền lành yêu thương. Khi nhìn một cuộc sống, khi nhìn một gia đình, khi nhìn một nhà xứ, một nhà tu nếu tôi cảm thấy có một cái gì là quên mình hy sinh, có một cái gì là khiêm nhường hiền lành, tôi sẽ cho rằng Đức Kitô đã ký trên cuộc sống đó. Cái đó chỉ nhận ra được qua cuộc sống đức tin. Chứ nếu đức tin chỉ là học cho thuộc bài giáo lý thì không thấy được.
Rồi một khi đã quen sống với Đức Kitô đức tin là gặp gỡ Ngài, sống với Ngài thì chúng ta cũng dễ nhận ra hương thơm của Đức Kitô. Đó là Tám Mối Phúc Thật. Tám Mối Phúc Thật là một thứ hương thơm thiêng liêng tuyệt vời, chỉ những người sống đức tin sâu sắc, thực sự mới có và mới cảm thấy được.
Rồi sống đức tin còn là chia sẻ những tâm tình, thao thức của Đức Kitô. Thật sự khi nhìn các sinh hoạt về ngoài của một giáo xứ, tôi thấy hoạt động bên ngoài có vẻ rầm rộ. Nhưng tôi vẫn cảm thấy nội dung đức tin chưa sâu. Nhất là khi tôi nhìn những thao thức của họ. Ít người có những thao thức của Chúa Kitô. Thao thức của Chúa Kitô là đi cứu độ mọi anh em, người lương người giáo. Ngài yêu thương tất cả, cứu độ tất cả. Khi nhìn sinh hoạt dân Chúa tại các giáo xứ, tôi thấy ít có những thao thức ấy lắm. Tôi cảm thấy như thể nhiều nơi mắc một chứng bệnh mất máu thiêng liêng. Đức tin nghèo nàn, xanh nhợt, chỉ là cái vỏ thôi. Bởi vì đã không có những thao thức với Đức Kitô. Ngày đêm chỉ thao thức về tiền của, rồi cạnh tranh nhau chuyện này chuyện nọ, chứ không phải là thao thức như Đức Kitô suốt ngày suốt đêm, lo phục vụ loài người, đi tìm loài người.
Điều mà tôi rất thao thức đó là xây dựng nhân sự sao cho có một nội dung đức tin cho thực đẹp. Cần phải sống đức tin, nhận ra chữ ký của Đức Kitô, nhìn rõ khuôn mặt thực sự của Đức Kitô, chia sẻ những thao thức của Đức Kitô trong từng thời điểm, nhận ra được những gía trị thực sự mà Đức Kitô muốn đem lại cho Việt Nam hôm nay.
3/ Thao thức thứ ba của tôi là công việc xây dựng nhân sự về mặt đổi mới con người theo tinh thần Công Đồng Vatican II
Như tôi vừa nói, tương lai sẽ là một tương lai cởi mở. Nhà Nước sẽ cởi trói chúng ta, cởi trói về pháp luật. Còn Hội Thánh đã cởi trói cho chúng ta từ lâu rồi qua Công Đồng Vatican II. Thế nhưng, khi nhìn vào các nếp sống đạo, tôi thấy chúng ta tự trói mình nhiều quá. Chúng ta không những là không chịu cởi trói ra, mà lại còn tự trói mình lại.
Trước hết, Công Đồng Vatican II mở trói cho chúng ta bằng cách khuyên chúng ta hãy tập trung vào Đức Kitô và Phúc âm của Người. Điều này có nghĩa là đừng trói mình vào các tập tục nghịch với Phúc âm Đức Kitô. Chúng ta thử nhìn xem các tập tục trong các kênh, các xứ. Nhiều tập tục là những cái dây, những cái xiềng xích trói buộc con người. Mà đó là tự ta trói mình và trói nhau. Đức Kitô bảo mở ra. Công Đồng nói mở ra. Hãy nhìn Đức Kitô và Phúc âm của Người. Căn bản cốt cách của Đạo là công bình bác ái. Tập trung vào đó thì tự nhiên Đạo của ta sẽ mở ra.
Rồi tôi cũng nhìn thấy nhiều nơi vẫn còn trói mình trong các bờ cõi chật hẹp của họ đạo mình. Đang khi đó Công Đồng Vatican II đã mở trói cho chúng ta, bảo chúng ta rằng hãy nhìn về phía các nơi truyền giáo, hãy biết nhìn đến những người ngoài công giáo, ngoài Hội Thánh chúng ta.
Rồi tôi cũng nhìn thấy nhiều nơi còn trói mình vào một hình ảnh phiếm diện của Hội Thánh. Cứ cho Hội Thánh chỉ là các Đức Cha, các linh mục, đang khi Công Đồng Vatican II nói rằng Hội Thánh là tất cả Dân Thiên Chúa. Ai cũng có bổn phận trong Hội Thánh. Ai cũng có quyền trong Hội Thánh. Những cái đó thực sự Công Đồng đã mở ra rồi. Nhưng chúng ta cứ tự trói lại.
Rồi nhìn vào các giáo xứ, tôi lại thấy nhiều người tự trói mình vào một thói quen hẹp hòi cho rằng sống đạo là chỉ cần những việc của tôn giáo, rồi coi thường những gía trị trần thế, đang khi đó Công Đồng Vatican II nói rằng không những phải lo việc đạo, mà cũng phải dấn thân phát triển những gía trị trần thế, chính trị, khoa học, mỹ thuật, cuộc sống…
Phải mở ra. Hãy cởi trói. Đừng trói mình. Đừng trói nhau. Đó là tinh thần của Công Đồng Vatican II mà tôi thấy nhiều nơi chưa hiểu, chưa thấm nhuần.
Thưa anh em,
Tôi vừa nói với anh em về ba thao thức của tôi:
- Thao thức thứ nhất là công việc xây dựng nhân sự về mặt văn hóa cuộc sống,
- Thao thức thứ hai là công việc xây dựng nhân sự về mặt nội dung đức tin,
- Thao thức thứ ba là công việc xây dựng nhân sự về tinh thần Công Đồng Vatican II đổi mới.
Xin anh em nhớ ít ra ba thao thức đó, để anh em thông cảm với tôi nhiều hơn, để anh em cùng thống nhất với tôi trong đường lối xây dựng nhân
A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Giúp các học viên có cái nhìn tổng quát về Công Đồng Vatican II và nắm bắt những nét canh tân lớn của Công Đồng ấy.
B. TIẾP CẬN VẤN ĐỀ
1. Chắc anh chị đã nhiều lần nghe nói đến Công đồng Vatican II. Nhưng anh chị đã có dịp nào tìm hiểu, học hỏi về Công đồng ấy chưa? Nếu anh chị “đã” có dịp tìm hiểu, học hỏi về Công đồng Vatican II, thì xin cho biết anh chị đã tìm hiểu, học hỏi được những gì? và thấy điều gì tâm đắc nhất? Còn nếu anh chị “chưa” có dịp tìm hiểu, học hỏi về Công đồng Vatican II, thì xin anh chị cho biết tại sao? Anh chị có muốn sửa chữa thiếu sót ấy không?
2. Anh chị có cảm nghĩ gì khi đọc đoạn thư này:
“Trong Ngày Năm Thánh của Giáo dân tại quảng trường Thánh Phêrô năm ngoái, trong khi mừng kính trọng thể Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, cha đã phân phát bản sao các văn kiện Công đồng Vatican II cho các đại biểu giáo dân đến từ mọi lục địa. Mặc dù đã kết thúc cách đây ba mươi lăm năm, Công đồng Vatican II vẫn còn là một biến cố hết sức đặc biệt đối với Giáo hội mà chúng ta phải mãi mãi tìm về với Công đồng ấy để hiểu được đầy đủ ý nghĩa của các giáo huấn của Công đồng. “Cách riêng, giáo dân các con phải đọc lại các văn kiện ấy. Công đồng đã mở ra cho các con những viễn tượng phi thường để các con dấn thân và hoà mình vào trong sứ mạng của Giáo hội” (Trích bài giảng trong Ngày Năm Thánh của Giáo dân, 26 tháng 11 năm 2000, đoạn 3).
(Đức Gioan Phaolô II, Thư gửi Hội nghị giáo dân Á châu lần thứ 2 tại Thái Lan)
3. Anh chị có cho rằng ngày nay người ta có thể nói về Giáo hội, về người giáo dân mà không nói gì đến Công đồng Vatican II không? Tại sao?
4. Anh chị có cho rằng Khóa Bồi dưỡng Giáo lý cho người trưởng thành này nên dành một thời gian thích hợp để nói về Công đồng Vatican II không? Anh chị muốn tìm hiểu, học hỏi về những vấn đề gì? những văn kiện nào của Công đồng?
C. HỌC HỎI VỀ CÔNG ĐỒNG VATICAN II
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CÔNG ĐỒNG VATICAN II
Bất cứ một biến cố đạo đời nào cũng có bối cảnh của nó. Công đồng Vatican II là một biến cố hết sức quan trọng không chỉ đối với Giáo hội mà với cả thế giới loài người nữa, nên Công đồng cũng có bối cảnh riêng của mình. Mặt khác khi nói đến bối cảnh lịch sử của Công đồng thì chúng ta không thể không nói đến Đức Thánh Cha Gioan XXIII - vị giáo hoàng đã được Thánh Linh linh ứng để triệu tập Công đồng - và những ước mơ của ngài trong công việc hệ trọng này.
1.1Đức Gioan XXIII:
Đầu tháng 10 năm 1958, Đức Hồng Y Giáo Chủ Roncalli, 77 tuổi (sinh năm 1881) được bầu làm Giáo hoàng, làm cả Giáo hội và thế giới kinh ngạc. Dư luận chung đều cho rằng Đức Gioan XXIII chỉ đóng vai trò “chuyển tiếp” mà thôi, vì tuổi cao và lập trường cổ điển truyền thống của ngài. Nhưng điều ít ai ngờ nổi là chính vị Giáo hoàng gốc gác nông dân, đời sống bình dị ấy lại rất biết lắng nghe Chúa Thánh Thần. Và chính ngài đã nẩy ra ý và quyết định chuẩn bị, triệu tập và điều hành Công đồng thứ 21 của Giáo hội Công giáo.
1.2 Bối cảnh lịch sử:
Thoạt nhìn người ta có thể lầm tưởng là mọi chuyện đều rất tốt đẹp đối với Giáo hội vào chính lúc mà Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII tiết lộ ý muốn triệu tập một Công đồng chung. Nhưng nếu nhìn sâu, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều vấn đề được đặt ra cho Giáo hội. Chẳng hạn:
* Ngoài thế giới: hai cuộc chiến tranh thế giới 1914-1918 & 1939-1945 đã chia cắt thế giới làm nhiều khối thù địch nhau. Bộ mặt các quốc gia đã thay đổi lớn lao với tiến bộ khoa học, kỹ thuật, với các phong trào giải phóng dân tộc. Bao vấn đề được đặt ra cho con người và có ảnh hưởng đến đời sống người Công giáo một cách sâu đậm.
* Trong Giáo hội: Công đồng Vatican I đã bị ngưng lại cách đột ngột vì cuộc chiến tranh Pháp-Phổ, để lại một công việc dang dở. Đã có nhiều vị Giáo hoàng nghĩ tới việc tiếp tục Vatican I nhưng vì hoàn cảnh này hoàn cảnh khác, chưa vị nào thực hiện được ước muốn đó. Ngoài ra các tiến bộ khoa học kỹ thuật ảnh hưởng sâu đậm đến các Phong Trào Canh Tân và Công Giáo Tiến Hành. Người tín hữu (kể cả giáo sĩ lẫn giáo dân) như trưởng thành hơn, cả về mặt nhận thức lẫn mặt dấn thân….khiến một thao thức lớn nẩy sinh trong lòng Giáo hội. Thêm vào đó, sự chia rẽ giữa các Kitô hữu thuộc các Giáo hội khác nhau đã là một vết đen lịch sử mà nhiều người mong xóa bỏ. Đó là bối cảnh của Công đồng Vatican II.
1.3 Thánh Thần “linh ứng” việc triệu tập Công đồng:
Trong những ghi chú cá nhân của Đức Gioan XXIII để lại, ý tưởng về Công đồng đã xuất hiện ngay từ những ngày đầu nhiệm kỳ Giáo hoàng của ngài. Ba tháng trôi qua trong cầu nguyện, suy tư và kín đáo tham khảo ý kiến.
Ngày 21 tháng 01 năm 1959 Đức Gioan XXIII nói chuyện với Hồng Y Tardini là Quốc Vụ Khanh, về tình trạng đầy lo âu cuả thế giới: bao nhiêu lời kêu gọi hòa bình, công lý không ngớt lặp đi lặp lại nhưng vẫn hoàn toàn vô vọng…Hội thánh có thể làm gì để đem lại cho thế giới một tấm gương lớn về sự hòa hợp giữa con người thuộc mọi chủng tộc, văn hóa và giai cấp?…Và một từ ngữ chợt đến trên môi vị Giáo hoàng: “một Công đồng chung?”Ngài chờ đợi từ phía vị Quốc Vụ Khanh của ngài một phản ứng lúng túng hoặc một chuỗi những vấn nạn….Thế nhưng ngài đã kinh ngạc khi nghe người cộng sự thân tín tán đồng cách rất hào hứng: “Vâng, vâng, một Công đồng!” Ngài nhìn thấy đó là dấu hiệu của Ý Chúa mà ngài tìm kiếm từ 4 tháng qua. Chính ngày 21 tháng 01 ấy, Đức Gioan XXIII quyết định triệu tập một Công đồng chung. Bốn ngày sau, ngày 25.01.1959 tại đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành, Đức Gioan XXIII đã tiết lộ quyết định này cho 18 Hồng Y vừa dâng lễ với ngài, kết thúc tuần cầu nguyện cho Hiệp Nhất.
1.4 Ước mơ của Đức Gioan XXIII về Công đồng Vatican II:
Thông qua một số lời phát biểu của Đức Gioan XXIII, chúng ta có thể hiểu được ước mơ của vị Giáo hoàng này về Công đồng. Ước mơ đó là:
Canh tân đời sống Giáo hội,
Tiến tới sự Hiệp Nhất các Kitô hữu.
* “……….Mục đích chính của Công đồng là phát huy đức Tin Công giáo, canh tân lành mạnh những phong tục các dân tộc Kitô giáo và ban hành bộ giáo luật thích hợp với nhu cầu thời đại chúng ta hơn. Điều đó dĩ nhiên sẽ nêu lên một quang cảnh sáng lạn về chân lý, hợp nhất và bác ái mà cha hy vọng rằng những anh em ly khai với Toà thánh sẽ coi đó` như một lời mời êm dịu, đi tìm tòi để đạt tới sự hiệp nhất mà Chúa Kitô đã tha thiết cầu xin Cha trên trời ban cho”
(Observatore Romano ngày 3.7.1959)
* “……….Công đồng này sẽ đem lại một sự phục hưng trong địa hạt phụng vụ cũng như trong địa hạt cai trị và mục vụ….Cũng là để chuẩn bị một công cuộc khác rộng lớn hơn, chưa thể thực hiện ngay, nhưng sẽ có thể thắt chặt mối hiệp nhất, cả sự hiệp nhất hữu hình bên ngoài trong Hội thánh công giáo do Chúa đã sáng lập”
(Observatore Romano ngày 30.10.1959).
*”………..Mục tiêu thứ nhất và trực tiếp của Công đồng là giới thiệu cho thế giới một Giáo hội của Thiên Chúa muôn đời dồi dào sức sống và chân lý, kèm theo những quy luật thích ứng với hoàn cảnh hiện tại, luôn luôn chu toàn sứ mệnh cao cả do Chúa ủy thác, và dã được chuẩn bị sằn sàng trước những nhu cầu hiện tại cũng như ngày mai,
Thế rồi các anh em ly khai với chúng ta, hoặc giữa họ với nhau mong muốn thể hiện nguyện vọng hợp nhất. Cha có thể âu yếm nói với họ rằng: đây là nhà của anh em, là nhà của mọi người mang dấu hiệu của Chúa Kitô. Trái lại nếu người ta cứ muốn khởi sự bằng những cuộc tranh luận, bàn cãi thì sẽ không đạt tới kết quả nào”
(Osservatore Romano ngày 16.11.1960).
II. CÁC VĂN KIỆN CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II
Sau 4 kỳ nhóm họp từ 11.10.1962 đến 08.12.1962 (kỳ 1), từ 29.09.1963 đến 04.12.1963 (kỳ 2), từ 14.09.1964 đến 21.11.1964 (kỳ 3) và từ 14.09.1965 đến 08.12.1965 (kỳ 4), Công đồng Vatican II đã công bố 16 văn kiện chia thành 3 loại khác nhau, với tầm quan trọng khác nhau gồm 4 hiến chế, 9 sắc lệnh và 3 tuyên ngôn:
2.1- Hiến chế
* Là tài liệu tín lý hoặc mục vụ, có giá trị học thuyết vững chắc và lâu bền;
* Có 4 hiến chế như 4 cột trụ của một tòa nhà:
Hiến chế tín lý về Mặc Khải của Thiên Chúa (Dei Verbum: Lời Thiên Chúa), công bố ngày 18.11. 1965;
Hiến chế Phụng Vụ Thánh (Sacrosantum Concilium: Thánh Công Đồng), công bố ngày 04.12.1963;
Hiến chế tín lý về Hội Thánh (Lumen Gentium: Anh Sáng muôn dân), công bố ngày 21.11.1964;
Hiến chế mục vụ về Hội Thánh trong thế giới ngày nay (Gaudium et Spes: Vui mừng và Hy vọng), công bố ngày 07.12.1965.
2.2- Sắc Lệnh
* Là tập hợp những quyết định có tính chất thực hành, mục vụ hay kỷ luật dành cho thời đại chúng ta;
* Có 9 sắc lệnh:
Sắc lệnh về Hoạt động truyền giáo của Hội Thánh (Ad gentes: Đến với muôn dân), công bố ngày 07.12.1965;
Sắc lệnh về Trách nhiệm mục vụ của các Giám mục (Christus Dominus: Chúa Kitô) công bố ngày 28.10.1965;
Sắc lệnh về Chức vụ và đời sống các linh mục (Presbytorerum Ordinis: Chức linh mục ), công bố ngày 07.12.1965;
Sắc lệnh về Đào tạo linh mục: Optatam totius: Mọi người mong ước) công bố ngày 28.10.1965;
Sắc lệnh về Canh tân thích nghi đời sống Dòng tu (Perfectae Caritatis: Đức Ai trọn hảo), công bố ngày 28.10.1965;
Sắc lệnh về Tông đồ giáo dân (Apostolicam Actuositatem: Phát động việc tông đồ), công bố ngày 18.11.1965;
Sắc lệnh về Hiệp Nhất (Unitatis Redintegratio: Việc tái lập sự Hiệp Nhất), công bố ngày 21.11.1964;
Sắc lệnh về các Giáo hội Công giáo Đông Phương (Orientalium Ecclesiarum: Giáo hội Công giáo Đông phương), công bố ngày 21.11.1964;
Sắc lệnh về Các Phương tiện truyền thông xã hội (Inter mirifica: Trong những phát minh kỳ diệu), công bố ngày 4.12.1963.
2.3 Tuyên Ngôn
* Là một bày tỏ quan điểm của Giáo hội trước một vấn đề mới và đưa ra những phương hướng suy tư và xử sự trong tình trạng hiện nay của thế giới.
* Có 3 tuyên ngôn:
Tuyên ngôn về Giáo dục Kitô giáo (Gravissimum Educationis : Vai trò vô cùng quan trọng), công bố ngày 28.10.1965;
Tuyên ngôn về Liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo (Nostra Aetate: Trong thời đại chúng ta), công bố ngày 28.10.1965;
Tuyên ngôn về Tự do tôn giáo (Dignitatis Humanae: Nhân phẩm), công bố ngày 07.12.1965.
III. MỐI LIÊN KẾT GIỮA CÁC VĂN KIỆN CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II
Trong 16 văn kiện của Công đồng Vatican II, ai cũng phải thừa nhận rằng: Hiến chế tín lý về Giáo hội là văn kiện nòng cốt nhất. Các văn kiện khác có thể được coi là những triển khai mặt này mặt khác của Hiến chế Giáo hội ấy. Linh mục Rey-Mermet giúp chúng ta nhìn ra mối quan hệ mật thiết giữa Hiến chế tín lý và các văn kiện khác như sau:
1.- Giáo hội phát sinh từ “Lời Thiên Chúa” - Dei Verbum -, từ Đức Kitô là nguồn mạch và trung tâm của Lời ấy. Ngài tự mạc khải và cho ta thấy được Chúa Cha trong Kinh Thánh liên kết với Truyền Thống sống động. Cả Thánh Kinh và Thánh Truyền cùng truyền lại cho ta Mặc Khải của Thiên Chúa.
2.- Trước Mặc Khải ấy, loài người cùng nhau đáp lại cách chính thức trong các ngày lễ và trong những cử hành của Phụng vụ thánh. Phụng vụ này được Thánh Công đồng - Sacrosantum Concilium- chủ trương thích nghi với các dân tộc sống trên toàn cầu của thế kỷ XX.
3.- Nhờ việc tập hợp Dân Chúa và nhờ các bí tích, chính Phụng vụ ấy làm thành Hội thánh. Nhờ được Chúa Giêsu thiết lập và ở với, Giáo hội này là Anh Sáng muôn dân- Lumen Gentium.
4.- Là Anh Sáng muôn dân, nên toàn thể Giáo hội là Giáo hội Truyền giáo. Đồng thời Hoạt động truyền giáo của Giáo hội phải đi đến những miền xa xôi nhất, " Đến với các dân ngoại” - Ad Gentes.
5.- Giáo hội mang tính truyền giáo trước hết chính là nhờ Trách nhiệm mục vụ của các Giám Mục là những người kế vị các Tông Đồ mà Chúa Giêsu- Christus Dominus- gởi đến để tiếp tục sứ mạng của Ngài.
6.- Tiếp đó, Giáo hội mang tính truyền giáo còn nhờ Chức vụ và đời sống các linh mục, là những người cùng chia sẻ “Chức linh mục” -Presbyterorum Ordinis với các Giám mục, ở hàng thứ nhì.
7.- Vì thế, việc Canh tân “rất đáng ao ước của cả Giáo Hội” - Optatam totius- một phần lớn gắn liền với việc Đào tạo linh mục.
8.- Sau cùng, Giáo hội mang tính truyền giáo là nhờ Hoạt động tông đồ giáo dân, vì nhờ đức tin, phép rửa và thêm sức, toàn thể Dân Chúa được đặt vào “hoạt động tông đồ”- Apostolicam Actuositatem.
9.- Từ đó, việc Giáo dục Kitô giáo là việc hết sức quan trọng -Gravissimum Educationis momentum- đối với cuộc sống con người.
10.- Toàn thể Dân Chúa đều được mời gọi nên thánh. Nhưng “nơi Đức Ai trọn hảo “ ấy- Perfectae Caritatis - vốn là ơn gọi chung của mọi người đã rửa tội, một trong những dấu chỉ sáng chói là Đời sống tu trì sống thành cộng đoàn và khấn giữ sự khiết tịnh, nghèo khó và vâng lời. Nên đời sống ấy có vai trò đặc biệt tích cực trong đời sống và sứ mạng Giáo hội.
11.- Nhưng sự toả sáng của Dân Chúa sẽ rực rỡ biết mấy nếu mọi người đã rửa tội trên thế giới hiệp nhất trong cùng một đức tin Kitô giáo! Vì thế, Đại kết để “lập lại sự thống nhất”- Unitatis redintegratio- là một trong những mục đích chính của Công đồng.
12.- Việc hợp nhất như thế với các anh em Chính Thống giáo đã có sẵn một nhịp cầu tư nhiên là các Giáo hội Đông phương Công giáo- Orientalium Ecclesiarum.
13.- Đàng khác, “ở thời đại chúng ta” -Nostra aetate- loài người ngày càng gắn bó mật thiết với nhau, Kitô giáo ý thức về những gì mình có chung với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, và đề cập tới những điểm ấy với lòng kính trọng, tình huynh đệ và nềm hy vọng.
14.- Sự có mặt và lưu tâm đầy ưu ái ấy là thái độ mà Giáo hội trong thế giới ngày nay muốn có trên mọi bình diện: “Vui mừng và Hy vọng”- Gaudium et Spes- Ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô”.
15.- Sự lưu tâm đến thế giới như vậy, không còn là bước đường để chinh phục, nhưng là bước đường của tình huynh đệ: Giáo hội đòi hỏi cho các tôn giáo khác như cho chính mình phải được Tự do tôn giáo, một sự tự do đặt nền tảng không phải trên thái độ lãnh đạm đối với chân lý, nhưng là trên “Nhân phẩm”-Dignitatis Humanae.
16.- Sự tôn trọng tự do người khác nhu thế không ngăn cản sự đối thoại. Ngược lại, và “giữa những khám phá kỳ diệu” ngày nay- Inter mirifica- Các phương tiện truyền thông xã hội cống hiến những khả năng to lớn để nói với thế giới và lắng nghe thế giới.
(Rey-Mermet, CROIRE tome 3- Vivre la foi avec le Concile Vatican II trang21-22).
Nhờ cách trình bày trên, chúng ta nhìn rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa các vấn đề của Giáo hội đã được Công đồng Vatican II thảo luận và biểu quyết. Có thể nói: mọi khía cạnh của đời sống Giáo hội đều được duyệt xét, đánh giá lại cho phù hợp với Tin Mừng và Truyền Thống của Giáo hội hơn (Công đồng Vatican II được coi là Công đồng trở về nguồn). Vì thế mà chúng ta nhận rõ hơn vị trí trung tâm của Hiến chế tín lý về Giáo hội trong suy tư và văn kiện của Vatican II.
IV. CHỦ ĐỀ - ĐẶC ĐIỂM - TINH THẦN VÀ ĐƯỜNG HƯỚNG CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II
4.1 Chủ đề:
Chỉ cần nhìn thoáng qua 16 văn kiện của Công đồng, chúng ta cũng nhận ra ngay điều này: Chủ đề của Công đồng Vatican II là Giáo hội. Giáo hội được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau cả đối nội lẫn đối ngoại, cả về mặt chiều sâu lẫn bề nổi, cả về mặt tín lý lẫn mục vụ.
4.2 Đặc điểm:
Công đồng Vatican II làm nổi bật hai đặc điểm: tính phổ quát và tính đại kết:
4.2.1 Tính phổ quát: được thể hiện qua hai yếu tố sau:
Về nội dung: Công đồng Vatican II đã đề cập đến toàn bộ đời sống và giáo lý của Giáo hội,
Về thành phần tham dự Công đồng (Nghị phụ): lần đầu tiên tuyệt đại đa số các Giám mục của Giáo hội có mặt tại Công đồng, đại diện cho tất cả các Giáo hội địa phương khắp năm châu:
* Kỳ 1: có mặt 2449 trong tổng số 2904 Giám mục (84,34%);
* Kỳ 2: có mặt 2448 trong tổng số 3022 Giám mục (82,34%);
* Kỳ 3: có mặt 2466 trong tổng số 3074 Giám mục (80,23%);
* Kỳ 4: có mặt 2625 trong tổng số 3093 Giám mục (84,88 %).
(c) Về địa dư, ta thấy: 1060 Nghị phụ châu Au;
480 Nghị phụ châu Á;
351 Nghị phụ châu Phi;
416 Nghị phụ Bắc Mỹ;
86 Nghị phụ Trung Mỹ;
531 Nghị phụ Nam Mỹ;
74 Nghị phụ châu Đại Dương.
4.2.2 Tính đại kết: một trong những mục tiêu chính của Công đồng là thực hiện ước mơ của Đức Gioan XXIII về Đại Kết, tức là sự Hiệp Nhất giữa các Giáo hội và tín hữu Kitô giáo. Tính Đại Kết của Công đồng được thể hiện qua:
Nội dung các văn kiện: Sắc lệnh về Đại Kết, Tuyên Ngôn về Tự do tôn giáo, Tuyên ngôn về liên lạc của Giáo hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, Hiến chế tín lý về Giáo hội, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay.
Các cuộc gặp gỡ thân mật huynh đệ cởi mở giữa các vị lãnh đạo các Giáo hội Kitô giáo khác nhau, xung quanh Công đồng.
Sự có mặt của các quan sát viên ngoài công giáo tại các kỳ họp của Công đồng: từ 54 vị đại diện cho 17 Giáo hội và cộng đồng Kitô giáo ở kỳ họp 1 đến 106 vị đại diện cho 29 Giáo hội và cộng đồng Kitô giáo ở kỳ họp 4.
4.3 Tinh thần và đường hướng:
Ngay trong diễn văn khai mạc Công đồng Vatican II ngày 11.10.1962, Đức Gioan XXIII đã đưa ra tôn chỉ hướng dẫn:
“Cởi mở với thế giới, thông cảm chứ không lên án tuyệt thông, xót thương hơn là khắt khe, nhận chân rằng thế giới cũng rất nhạy cảm, không chấp nhận sai lầm, loan truyền Phúc Am với niềm hy vọng hơn là với tâm trạng của những tiên tri loan báo sự dữ”
Vậy thì tinh thần và đường hướng của Công Đồng Vatican II chính là:
4.3.1 Canh Tân, Hòa Giải,
4.3.2 Liên Đới, Đối Thoại, Cộng Tác và Phục Vụ,
Thật vậy, ước mơ của Đức Gioan XXIII khi triệu tập Công đồng Vatican II là tạo nên một luồng sinh khí mới của Chúa Thánh Thần, một Lễ Hiện Xuống Mới cho Giáo hội. Có như thế thì Giáo hội mới làm chứng về Chúa Kitô Giêsu một cách trung thành được!
V. NHỮNG THAY ĐỔI LỚN LAO CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II
Thật khó mà lượng gía một cách chính xác và đầy đủ những thay đổi lớn lao mà Công đồng Vatican II đã đem đến cho Giáo hội Công giáo toàn cầu cũng như cho các Giáo hội địa phương. Nhưng chúng ta có thể ghi nhận một số điều chính yếu sau đây:
5.1 Công đồng Vatican II đã làm nổi bật vai trò của Thánh Kinh, Thánh Truyền trong đời sống Giáo hội. Đồng thời Lời Chúa được tôn kính và phổ biến rộng rãi hơn trong Dân Chúa. Phụng vụ được cử hành bằng tiếng địa phương, nên gần gũi, dễ hiểu và sống động hơn (Hiến chế Mạc Khải và Phụng vụ thánh);
5.2 Công đồng Vatican II đã điều chỉnh và đào sâu cách hiểu về bản chất, sứ mệnh và ơn gọi của Giáo Hội: Giáo hội được hiểu đầy đủ hơn, chính xác hơn, sát với Thánh Kinh, Thánh Truyền hơn, gần gũi và liên đới với con người và thế giới hơn (Hiến chế tín lý về Giáo hội, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay);
5.3 Công đồng Vatican II đã tạo nên một luồng sinh khí mới trong mọi lãnh vực đời sống Giáo hội (học hỏi Thánh Kinh, đào sâu thần học & tu đức, truyền giáo, đối thoại đại kết và liên tôn, cải tổ giáo luật, trình bày lại Giáo lý v.v..) cũng như trong mọi thành phần Dân Chúa (giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân).
5.4 Công đồng Vatican II đã trả lại “căn tính riêng” - cùng với phẩm gía, vai trò, chỗ đứng không thể thay thế - cho giáo dân, thành phần đông đảo nhất và bị coi thường trong cách hiểu méo mó của lịch sử (Hiến chế tín lý về Giáo hội, Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân);
5.5 Công Đồng Vatican II đã làm cho Giáo hội gần gũi với con người và thế giới bằng tinh thần yêu thương, kính trọng, liên đới và phục vụ (Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, Các Tuyên ngôn);
5.6 Công đồng Vatican II đã khai sinh ra một cơ chế mới trong sinh hoạt của Giáo hội, đó là Thượng Hội đồng các Giám mục thế giới. Thượng Hội đồng các Giám mục này thể hiện tính “Tông đồ đoàn” của các Giám mục là những người kế vị các Tông đồ, trong tình hiệp nhất với Đức Giáo hoàng là đấng kế vị Tông đồ Trưởng Phêrô. Trong hơn ba mươi năm qua, Giáo hội chúng ta đã có rất nhiều Thượng Hội đồng Giám mục.
D. THẢO LUẬN & ỨNG DỤNG
1. Tại sao Công đồng Vatican II được ví như một Lễ Hiện Xuống Mới đối với Giáo hội cuối thế kỷ XX và thế kỷ XXI? Hãy dẫn chứng một vài sự kiện mà anh chị biết.
2. Theo anh chị thì Giáo hội Việt Nam nên làm những gì hơn nữa để tinh thần Công đồng in sâu vào đời sống giáo dân?
Đ. TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU I: 21 CÔNG ĐỒNG CỦA GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
(Xin xem phần Phụ lục)
TÀI LIỆU II: ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II KHUYẾN KHÍCH GIÁO DÂN HỌC HỎI TÀI LIỆU CÔNG ĐỒNG VATICAN II
(*) VATICAN - Trưa hôm nay (26.11.2000) khi kết thúc thánh lễ cử hành tại công trường Thánh Phêrô dành riêng cho Hội Nghị Tông Đồ Giáo Dân thế giới, Đức Thánh Cha đã nhắn nhủ những lời sau đây:
“ Trong Ngày Năm Thánh dành cho Giáo Dân này, cha từng mong ước một lần nữa đặt vào bàn tay và trong trái tim của tất cả anh chị em giáo dân của thế giới những tài liệu của Công Đồng Vatican II. Công Đồng đặt trọng tâm nơi Đức Kitô và Giáo Hội của Người và đã mở cửa cho những thách đố mới trong một thế giới hiện đang thay đổi; như vậy Công Đồng đã là một biến cố do Chúa quan phòng để sửa soạn cho Dân Chúa tiến vào Ngàn Năm Thứ Ba. Cha thúc đẩy các con- những người tín hữu giáo dân- học hỏi về giáo huấn của Công đồng, hầu yêu mến và sống sứ điệp của Công đồng này. Được như vậy thì giáo dân sẽ trở thành ánh sáng và niềm hy vọng cho Giáo hội và xã hội. Ước chi Đức Kitô, Vua muôn thuở, hướng dẫn và ban sức mạnh cho các con luôn luôn”.
(Bản tin của Thống Tấn Xã Công giáo Việt Nam ngày 26/11/2000).
(**) “Trong Ngày Năm thánh của Giáo dân tại quảng trường Thánh Phêrô năm ngoái, trong khi mừng kính trọng thể Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, cha đã phân phát bản sao các văn kiện Công đồng Vatican II cho các đại biểu giáo dân đến từ mọi lục địa. Mặc dù đã kết thúc cách đây ba mươi lăm năm, Công đồng Vatican II vẫn còn là một biến cố hết sức đặc biệt đối với Giáo hội mà chúng ta phải mãi mãi tìm về với Công đồng ấy để hiểu được đầy đủ ý nghĩa của các giáo huấn của Công đồng. “Cách riêng, giáo dân các con phải đọc lại các văn kiện ấy. Công đồng đã mở ra cho các con những viễn tượng phi thường để các con dấn thân và hoà mình vào trong sứ mạng của Giáo Hội” (Trích bài giảng trong Ngày Năm thánh của Giáo dân, 26 tháng 11 năm 2000, đoạn 3).
Với lòng nhiệt thành mới các con phải tái khám phá ơn gọi nên thánh của hết mọi Kitô hữu là yếu tố nền tảng của sứ điệp mà Công đồng Vatican II đã ban tặng các con (Xem Hiến chế tín lý về Giáo hội ‘Lumen Gentium’, chương 5). Đòi hỏi nên thánh phải là mục tiêu hàng đầu trong chương trình sống đời Kitô hữu. Đòi hỏi ấy bắt nguồn từ các Bí tích khai tâm Kitô giáo. Các con ý thức về thách đố phải sống ơn gọi đặc thù của giáo dân trong Giáo hội và trong thế giới với tinh thần trách nhiệm cao hơn bao giờ hết (Xem ‘Novo Millennio Ineunte’, số 46). Do bản chất, ơn gọi ấy có liên quan với hoàn cảnh của tín hữu Kitô trong thế giới: trong gia đình, xã hội, môi trường làm việc, học hành, bạn bè và giải trí (Xem Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục ‘Christifideles Laici’, số 15). Đối với các tín hữu giáo dân đời sống “thường ngày” trở thành nơi gặp gỡ đặc biệt có sức thánh hóa, với tình yêu của Đức Kitô.”
(Thư gửi Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ II, 19-24.3.2001, tại Thái Lan).
TÀI LIỆU III: BỐN ĐỀ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG ĐỒNG VATICAN II
Dịp Tĩnh Tâm tháng này, tôi xin trình bày mấy nét chính của nội dung Công đồng Vatican II. Tôi chọn đề tài trên vì 3 lý do:
* Lý do thứ nhất là vì tháng vừa qua, khi nghe rao ý chỉ cầu nguyện tháng 3 in trong lịch công giáo là: “Cầu cho mỗi người Kitô hữu cũng như các Giáo hội địa phương biết luôn luôn theo tinh thần Công đồng Vatican II” thì nhiều giáo dân và có cả người ngoại đã hỏi: “Tinh thần Công đồng Vatican II là gì?” Thực là bất ngờ nhận thấy không thiếu người, kể cả linh mục, tu sĩ đã không trả lời được.
* Lý do thứ hai là vì tháng vừa qua, một Tổng Giám Mục nổi tiếng cực kỳ bảo thủ, không chịu tuân thủ Công đồng Vatican II đã từ trần. Đó là Đức Cha Marcel Lefèvre. Nhìn ngài, rồi lại nhìn vào chính mình ta, chúng ta nên tự xét mình, ta có thực sự tuân thủ Công đồng Vatican II không?
* Lý do thứ ba là vì tháng vừa qua, tôi nghe có một linh mục ngoại quốc, sau khi đã tiếp xúc với một số Giám mục, Linh mục, tu sĩ và tham dự nhiều cuộc lễ tại Việt Nam, đã có cảm tưởng là: sinh hoạt tôn giáo tại Việt Nam rất sinh động, nhưng tiếc là chưa có bề sâu của Công đồng Vatican II.
Ba lý do trên đây thiết tưởng đủ mạnh để thúc giục tôi nói để thôi thúc anh chị em lắng nghe, và để mời gọi chúng ta cùng suy nghĩ.
Tôi sẽ vắn gọn.
Công đồng Vatican đưa ra bốn đề tài chính:
* Đề tài thứ nhất là Hội Thánh thao thức với sứ mệnh Truyền Giáo.
Truyền Giáo là bản chất của Hội Thánh. Thế nhưng, sau gần 20 thế kỷ, ngay khi lúc Công đồng đang họp, thì nhiều nơi trên thế giới không hề biết gì đến Tin Mừng cứu độ. Thí dụ: trong năm châu thì châu Á đông dân nhất, sắp chiếm gần nửa dân số nhân loại. Nhưng hiện nay số người công giáo chưa tới 4 phần trăm. Rồi trên năm châu hiện nay, có nhiều loại người mà người ta gọi là thuộc những thế giới chuyên môn, thí dụ thế giới khoa học, thế giới văn học, thế giới nghệ thuật, thế giới chính trị, thế giới kinh tế; các thế giới này hoạt động hầu như không hề biết đến Tin Mừng cứu độ.
Trong tình hình như trên, Hội Thánh không thể chỉ lo quy tụ những người đã rửa tội, mà cũng phải lo đi rao giảng Tin Mừng cho những ai chưa biết Tin Mừng như lời Đức Kitô đã truyền. Khi nhận thức được tiếng gọi đó, thì Bí tích Truyền Chức nên được nhấn mạnh đến ý nghĩa là dụng cụ và dấu chỉ của sự sai đi rao giảng Tin Mừng cho những người chưa biết Tin Mừng. Do đó, linh mục phải coi việc rao giảng Lời Chúa là thừa tác vụ ưu tiên hàng đầu.
Tình hình hiện nay kêu gọi mọi người trong Hội Thánh phải thao thức đến việc truyền giáo. Tất cả mọi thành phần Dân Chúa đều có trách nhiệm phục vụ cộng đoàn Hội Thánh đã thành hình, đồng thời cũng có trách nhiệm xây dựng những cộng đoàn Hội Thánh đang sinh ra.
Đừng cho rằng: Hoàn cảnh hiện nay không thuận lợi, nên không thể nghĩ đến việc truyền giáo. Xin thưa: Hoàn cảnh hiện nay tuy khó khăn, nhưng cũng có nhiều mặt thuận lợi cho những ai có tinh thần truyền giáo, khôn khéo và năng động. Hoàn cảnh thời các tông đồ còn khó gấp bội. Hoàn cảnh Việt Nam thời cha Alexandre de Rhodes cũng khó khăn gấp bội. Thế mà các ngài đã hoạt động truyền giáo không ngơi nghỉ. Và kết quả không phải là nhỏ. Dù sao, câu hỏi đặt ra cho ta hôm nay là: “ta có thực sự quan tâm đến việc truyền giáo không?”
* Đề tài thứ hai là Hội Thánh tập trung vào Đức Kitô là trung tâm điểm.
Sách Tông Đồ Công Vụ và các thánh thư cho thấy sự thực quan trọng đó. Thế nhưng, dần dà trung tâm điểm là Đức Kitô đã bị lu mờ. Có nơi đức tin được tập trung vào sự thuộc lòng các kinh, các chân lý đức tin và luân lý. Có nơi đức tin được tập trung vào sự vâng phục các kỷ luật chung của Hội Thánh và riêng của cộng đoàn. Có nơi đức tin được tập trung vào việc tôn sùng vị thánh này đấng thánh nọ.
Đang khi đó, đức tin đích thực phải là tin vào Đức Kitô chiụ nạn và phục sinh. Đức Kitô không phải chỉ là gương mẫu, là Thầy dạy mà còn là chính sự sống của người tin. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Ta là Đàng, là Sự Thực và là Sự Sống”. Tin Đức Kitô là tham dự vào sự sống của Ngài, là thông hiệp mật thiết với Ngài, như hình ảnh cành cây với thân cây: “Ta là cây nho, chúng con là nhành”. Tin Đức Kitô là có Đức Kitô trong mình, như Thánh Phaolô nói: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, nhưng là chính Đức Kitô sống trong tôi”.
Để tập trung vào Đức Kitô, chúng ta cần tăng cường cầu nguyện, suy gẫm đời sống Đức Kitô và học hỏi Mặc Khải của Đức Kitô.
Tôi nghĩ rằng: Tín hữu nào và cộng đoàn đức tin nào không đi vào chiều sâu của trung tâm điểm đó, sẽ khó tránh được suy thoái mặc dù được sống trong những hoàn cảnh xã hội, chính trị, kinh tế thuận lợi. Dù sao câu hỏi đặt ra cho chúng ta hôm nay, là ta có thực sự tập trung tu đức và mục vụ của ta vào Đức Kitô không?
* Đề tài thứ ba là Hội Thánh gồm toàn thể Dân Thiên Chúa.
Trước Công đồng Vatican II, người ta có thói quen nhìn Hội Thánh chỉ là Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám Mục và các linh mục. Thấy cái nhìn nhu vậy là không đúng, Công đồng Vatican II đã xác định Hội Thánh là toàn thể Dân Thiên Chúa. Dân Thiên Chúa là mọi người đã được rửa tội và tin vào Đức Kitô. Tất cả mọi người ấy đều có giá trị như nhau, đó là giá trị làm con Chúa. Tất cả mọi người ấy đều có tự do như nhau, đó là sự tự do mà Chúa Thánh Thần ban cho. Tất cả mọi người ấy đều có một ơn gọi như nhau, đó là ơn gọi nên thánh. Tất cả mọi người ấy đều có sứ mệnh như nhau, đó là sứ mệnh xây dựng Hội Thánh.
Tuy nhiên, trong Dân Chúa phải có những thừa tác vụ, đó là các Đức Giám Mục, các linh mục và các Thày Sáu. Các vị ấy là những người phục vụ, những người được sai đi, những người nhận lãnh trách nhiệm quan trọng. Các ngài là những dụng cụ, những dấu chỉ. Các vị ấy cũng như toàn Dân Chúa đều phải trung thành, gắn bó với Phúc Am, với bí tích Thánh Thể và với Chúa Thánh Thần.
Trong quan niệm mới này về Hội Thánh, Công đồng đề cao vai trò giáo dân và muốn cho vai trò giáo dân được phát huy mạnh mẽ. Cũng do quan niệm mới này về Hội Thánh, Công đồng Vatican II khuyến khích tinh thần đại kết giữa các Hội Thánh cùng tin vào Đức Kitô và cổ võ tinh thần đối thoại với các tôn giáo khác và những người không tin.
Một quan niệm như thế về Hội Thánh sẽ không phù hợp với quan niệm về Hội Thánh khép kín hình Kim Tự Tháp. Theo đó, Đức Giáo Hoàng truyền xuống cho các Đức Giám Mục, các Đức Giám Mục truyền xuống cho các linh mục, các linh mục truyền xuống cho các giáo dân. Đó là con đường mòn mà Công đồng Vatican II không còn thừa nhận.
Thế nhưng, trong cách đối xử và làm việc, không thiếu người vẫn bảo vệ con đường mòn đó. Dù sao, câu hỏi đặt ra cho chúng ta hôm nay là: Chúng ta có xây dựng những mối liên đới đúng đắn trong phạm vi Hội Thánh chúng ta, hợp với định nghĩa Hội Thánh là Dân Thiên Chúa không?
* Đề tài thứ bốn là Hội Thánh nhận thức về mối tương quan mật thiết giữa Hội Thánh và thế giới.
Hội Thánh và thế giới cùng xuất phát từ một nguồn mạch, đó là Thiên Chúa tạo dựng và cứu chuộc. Hội Thánh và thế giới cùng được hướng dẫn về cùng một mục đích, đó là sống hạnh phúc do có công lý, bình an, yêu thương đoàn tụ trong gia đình một cha chung trên trời. Hội Thánh và thế giới cùng có các thành viên như nhau đó là những con người, vừa là dân Chúa, vừa là công dân một nước. Như vậy, một cách huyền nhiệm, thế giới đã thuộc về Chúa, về Đức Kitô và về Hội Thánh của Ngài. Do đó, mọi người trong thế giới và mọi giá trị của họ, bất cứ có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng, bất cứ thuộc tôn giáo nào, đều có quyền được Hội Thánh kính trọng, và Hội Thánh cần có liên hệ tốt với họ. Cũng vậy, các vấn đề của thế giới, như nền hòa bình, sức khỏe, tình yêu, lao động, khoa học, chính trị, kinh tế, văn hóa, thể thao….đều là những thực tại trần thế làm nên một cánh đồng mênh mông của cuộc sống, mà Hội Thánh không có quyền làm ngơ.
Hội Thánh là một mảng của nhân loại được đặc ân có Tin Mừng cứu độ, thì Hội Thánh đem Tin Mừng ấy tưới cho cánh đồng muôn mầu đó. Hội Thánh phải cởi mở dấn thân vào các thực tại trần thế. Các vấn đề của cuộc sống phải được Hội Thánh quan tâm. Hội Thánh phải có mặt và góp phần giải quyết các vấn đề đang là những trăn trở của con người hôm nay. Không phải chỉ ra khỏi nhà thờ, người Kitô hữu mới nghĩ đến việc dấn thân như vậy, mà ngay trong các lời kinh, các bài thánh ca, cả đến phụng vụ cũng không được quên những nhịp đập của dân tộc mình, của đồng bào địa phương mình, với những niềm vui nỗi buồn của họ.
Về điểm này, tôi thấy Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã rất cởi mở và sâu sắc. Trong dịp tiếp hàng giáo sĩ Roma ngày 14.2.1991 Đức Thánh Cha nói: “Hội Thánh phải nhìn mình trong thế giới, và Hội Thánh phải nhìn thế giới qua sứ mệnh của mình”. Trong tinh thần ấy, anh chị em và tôi phải nhìn giáo xứ và giáo phận của ta trong các tương quan với đồng bào của ta và với Tổ Quốc Việt Nam của ta. Ta sống đức tin là sống với và sống trong địa phương này, đất nước này. Đức Thánh Cha kêu gọi ta hãy để ý cái từ với và cái từ trong.
Trên đây là những đề tài chính của Công đồng Vatican II. Tôi tóm lại, theo nội dung trong cuốn “Préparer aujourd’hui l’Eglise de demain” của Đức Cha Gabriel Matagrin, Giám Mục Grenoble.
Tôi vẫn dùng 4 đề tài trên đây như thước đo, để đánh giá một giáo sĩ, một giáo xứ, một giáo phận. Và tất nhiên, đó cũng là những hướng đi mà tôi cố gắng theo đuổi.
(Bài nói chuyện của Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần, Giám Mục Phó Giáo phận Long Xuyên, với các linh mục, tu sĩ dịp Tĩnh Tâm tại Long Xuyên ngày 01 tháng 4.1991).
TÀI LIỆU IV: BA THAO THỨC XUẤT PHÁT TỪ CÔNG ĐỒNG VATICAN II & HOÀN CẢNH VIỆT NAM
Lời đầu tiên tôi muốn nói ở đây là lời cám ơn tất cả anh em. Cám ơn vì anh em đã có mặt ở đây, cám ơn vì những tình cảm tốt lành anh em đã dành cho tôi và cho địa phận. Cám ơn vì những đóng góp thân tình và tích cực anh em dành cho Hội Thánh nói chung và giáo xứ mình nói riêng.
Tôi coi cuộc gặp gỡ hôm nay là cuộc gặp gỡ gia đình, một cuộc gặp gỡ hiếm có. Vì thế, tôi muốn lợi dụng cuộc gặp gỡ gia đình này để tâm sự với anh em.
Tôi xin chia sẻ một số thao thức của tôi, những thao thức ngày đêm như những hòn than cháy bỏng âm ỉ trong lòng tôi.
1/ Thao thức thứ nhất của tôi là công việc xây dựng nhân sự về mặt văn hóa cuộc sống.
Khi nhìn về tương lai, tôi thấy trong những năm sắp tới, cái sẽ nắm quyền chỉ huy con người Việt Nam không còn là ý thức hệ nữa, mà sẽ là văn hoá đời sống. Anh em chỉ cần nhìn qua bầu khí tâm lý lúc này của những người chung quanh và của chính chúng ta, thì sẽ hiểu được điều tôi nói. Cái gì đang điều khiển con em chúng ta? Cái gì đang hướng dẫn những người chung quanh chúng ta trong những lựa chọn, trong những sắp xếp, trong các chương trình, trong các kế hoạch? Thưa là những gì nhìn thấy ở tivi, ở video, những gì nhìn thấy ở những tiệm bày bán, những gì nhìn thấy ở các mẫu mã, những gì nhìn thấy ở trên con người, những gì nhìn thấy ở các đồ vật bày trong mỗi gia đình. Rồi ngoài những cái nhìn thấy như vậy, còn là những gì đọc được trên các sách, các báo, trong các dư luận thu tập được qua những cuộc dối thoại trao đổi. Thêm vào đó còn là những gì nghe được qua đài này đài nọ.
Tất cả những cái đó đang mở ra một chân trời mới về lãnh vực khoa học, về lãnh vực kỹ thuật, về lãnh vực mỹ thuật, về lãnh vực tư tưởng. Nó cung cấp cho con người bây gìơ những giá trị mới. Chẳng hạn như cái gía trị bây giờ người ta cho là rất quan trọng - mà trước đây ta không để ý - đó là sự chính xác. Đồng hồ tốt là đồng hồ phải chính xác, đúng giờ. Hoạt động tốt là hoạt động phải chính xác, đúng việc, đúng nội dung, đúng thời, đúng nơi. Người tốt là người phải chính xác, nói đúng làm đúng. Tất cả những gía trị như thế đang dần dần tạo ra một thứ tòa nhà vô hình để che chở cuộc sống. Dần dần nó tạo ra một vườn hoa vô hình để làm đẹp cuộc sống. Dần dần nó tạo ra một dòng sông vô hình để phát triển cuộc sống. Cuộc sống nào cũng phải dính vào đó, kể cả cuộc sống đức tin. Ví dụ như cuộc lễ hôm nay, nội dung thuần túy đức tin, nhưng phải dựa vào văn hóa cuộc sống. Nếu hệ thống âm thanh không tốt, thì cuộc lễ hôm nay sẽ không thành công. Nếu không có những vẻ đẹp của cung thánh, vẻ đẹp của những mầu hoa mầu áo, thì chưa chắc cuộc lễ tôn giáo sẽ thành công. Nếu những bài thánh ca của ca đoàn, của cộng đoàn không có kỹ thuật, tinh thần dân tộc thì chưa chắc cuộc lễ sẽ thành công. Rồi nếu thiếu một chút kinh tế, thì chưa chắc cuộc lễ sẽ thành công. Rồi nếu bài giảng của tôi không có tính cách hệ thống rõ ràng, chính xác, cuộc lễ chưa chắc sẽ thành công.
Tôi gọi tất cả những gía trị ấy là văn hóa cuộc sống. Văn hóa cuộc sống chính là trình độ, cái đúng, cái thực, cái hay, cái đẹp, cái thiện trong tư tưởng, trong lời nói, trong việc làm, trong các tương quan.
Văn hóa cuộc sống ví như chiếc xe. Ta phải chuyên chở đức tin nhờ chiếc xe đó. Nếu thiếu văn hóa cuộc sống, đức tin sẽ khó diễn tả được, sẽ khó vận chuyển được, sẽ khó hấp dẫn được.
Văn hóa cuộc sống dần dần trở thành một tiêu chuẩn để đánh giá một con người, đánh gía một họ đạo, đánh gía một Hội Thánh, đánh gía một dân tộc. Nếu người ta đến xứ đạo chúng ta, thấy nhà thờ rất lớn, nhưng khi gặp cha xứ, tu sĩ, hội đồng giáo xứ, giáo dân, người ta thấy văn hóa cuộc sống của ta quá thấp, quá thiếu, tôi e rằng người ta sẽ chê cười.
Nền văn hóa cuộc sống như tôi vừa nói, đang làm nên gía trị của con người, nhất là khi chúng ta nhìn về tương lai, một tương lai sẽ được hướng dẫn bởi văn hóa, chứ không bởi chính trị.
Trên đây là cái nhìn của tôi về năm 2000. Xây dựng nhân sự linh mục, tu sĩ, hội đồng giáo xứ và quảng đại quần chúng công giáo là phải để ý xây dựng nền văn hóa cuộc sống. Mỗi người phải nâng cao trình độ tư tưởng lên, trình độ kỹ thuật lên, trình độ khoa học lên, trình độ nhân bản lên.
Nói như vậy để anh em hiểu thiện chí không đủ. Tôi biết là anh em đầy thiện chí. Nhưng nếu chúng ta không để ý đến vấn đề xây dựng thêm văn hóa cuộc sống, tôi sợ rằng tương lai đang mở ra, nhưng chúng ta sẽ lại lỡ chuyến tầu lịch sử, sẽ lại lỡ chuyến xe lịch sử, vì chúng ta không biết đi vào đúng tuyến đường lịch sử, đó là văn hoá.
2/ Thao thức thứ hai của tôi là công việc xây dựng nhân sự về mặt nội dung đức tin
Tôi cũng đang nhìn về năm 2000. Tương lai trước mặt là một thời điểm mở ra. Mà khi mở ra thì các trào lưu văn minh sẽ tràn vào. Cái tốt cũng tràn vào, cái xấu cũng tràn vào. Cái tốt cũng hấp dẫn, cái xấu nhiều khi hấp dẫn hơn.
Trong thời điểm mở ra như vậy, nếu đức tin không vững, không sâu, không thực chất, mà chỉ là cái hình thức bên ngoài, thì phong trào văn minh tự do đang tới sẽ lôi cuốn những cái vỏ đức tin ấy như những chiếc bèo trên sông. Vì thế mà tôi muốn rằng bây giờ còn thời giờ thì phải xây dựng nội dung đức tin cho sâu, cho trúng, cho vững.
Nội dung đức tin mà tôi thấy cần thông báo cho anh em, đó là sự gặp gỡ đức Kitô sống động. Khi tôi thấy các trẻ đọc giáo lý rất thuộc tôi vẫn nghĩ rằng thuộc giáo lý vẫn chưa phải là đức tin. Đức tin là đón gặp được Đức Kitô sống động. Ngài đến với ta, Ngài ở trong ta, Ngài chia sẻ sự sống của Ngài với ta. Sống đức tin là một cuộc trao đổi tình yêu với Chúa như trao đổi tình yêu giữa hai người thương nhau sống động.
Rồi sống đức tin là nhận ra dung mạo thực của Chúa. Quen gặp Chúa rồi, ta sẽ nhận ra khuôn mặt của Chúa. Cái đẹp nhất của Ngài là tình yêu. Không phải gặp được ở sách giáo lý, mà do tiếp xúc với Ngài nhiều lần. Sống với Ngài, nên thấy khuôn mặt của Ngài có nét đặc biệt đó là tình yeu thương xót.
Rồi sống mật thiết với Đức Kitô, sẽ dần dần nhận ra chữ ký của Chúa Kitô. Tôi dùng từ đó để anh em hiểu. Khi tôi gặp một người, tôi để ý xem người ấy có chữ ký của Chúa Kitô trên đời sống của họ không. Có những nét của Chúa Kitô rất dễ nhận ra. Thí dụ nét khiêm nhường. Đức Kitô quì xuống rửa chân cho các môn đệ. Đó là sự khiêm nhường trên mọi sự khiêm nhường. Ai có nét đó thì như mang nét chữ ký của Đức Kitô trong đời sống mình. Rồi một nét nữa của Đức Kitô là quên mình. Trên Thánh Gía, Chúa Giêsu chết mà không lo cho mình, chỉ lo cho người khác. Ngài quên mình vì phục vụ. Rồi một nét khác của Đức Kitô là sự hiền lành yêu thương. Khi nhìn một cuộc sống, khi nhìn một gia đình, khi nhìn một nhà xứ, một nhà tu nếu tôi cảm thấy có một cái gì là quên mình hy sinh, có một cái gì là khiêm nhường hiền lành, tôi sẽ cho rằng Đức Kitô đã ký trên cuộc sống đó. Cái đó chỉ nhận ra được qua cuộc sống đức tin. Chứ nếu đức tin chỉ là học cho thuộc bài giáo lý thì không thấy được.
Rồi một khi đã quen sống với Đức Kitô đức tin là gặp gỡ Ngài, sống với Ngài thì chúng ta cũng dễ nhận ra hương thơm của Đức Kitô. Đó là Tám Mối Phúc Thật. Tám Mối Phúc Thật là một thứ hương thơm thiêng liêng tuyệt vời, chỉ những người sống đức tin sâu sắc, thực sự mới có và mới cảm thấy được.
Rồi sống đức tin còn là chia sẻ những tâm tình, thao thức của Đức Kitô. Thật sự khi nhìn các sinh hoạt về ngoài của một giáo xứ, tôi thấy hoạt động bên ngoài có vẻ rầm rộ. Nhưng tôi vẫn cảm thấy nội dung đức tin chưa sâu. Nhất là khi tôi nhìn những thao thức của họ. Ít người có những thao thức của Chúa Kitô. Thao thức của Chúa Kitô là đi cứu độ mọi anh em, người lương người giáo. Ngài yêu thương tất cả, cứu độ tất cả. Khi nhìn sinh hoạt dân Chúa tại các giáo xứ, tôi thấy ít có những thao thức ấy lắm. Tôi cảm thấy như thể nhiều nơi mắc một chứng bệnh mất máu thiêng liêng. Đức tin nghèo nàn, xanh nhợt, chỉ là cái vỏ thôi. Bởi vì đã không có những thao thức với Đức Kitô. Ngày đêm chỉ thao thức về tiền của, rồi cạnh tranh nhau chuyện này chuyện nọ, chứ không phải là thao thức như Đức Kitô suốt ngày suốt đêm, lo phục vụ loài người, đi tìm loài người.
Điều mà tôi rất thao thức đó là xây dựng nhân sự sao cho có một nội dung đức tin cho thực đẹp. Cần phải sống đức tin, nhận ra chữ ký của Đức Kitô, nhìn rõ khuôn mặt thực sự của Đức Kitô, chia sẻ những thao thức của Đức Kitô trong từng thời điểm, nhận ra được những gía trị thực sự mà Đức Kitô muốn đem lại cho Việt Nam hôm nay.
3/ Thao thức thứ ba của tôi là công việc xây dựng nhân sự về mặt đổi mới con người theo tinh thần Công Đồng Vatican II
Như tôi vừa nói, tương lai sẽ là một tương lai cởi mở. Nhà Nước sẽ cởi trói chúng ta, cởi trói về pháp luật. Còn Hội Thánh đã cởi trói cho chúng ta từ lâu rồi qua Công Đồng Vatican II. Thế nhưng, khi nhìn vào các nếp sống đạo, tôi thấy chúng ta tự trói mình nhiều quá. Chúng ta không những là không chịu cởi trói ra, mà lại còn tự trói mình lại.
Trước hết, Công Đồng Vatican II mở trói cho chúng ta bằng cách khuyên chúng ta hãy tập trung vào Đức Kitô và Phúc âm của Người. Điều này có nghĩa là đừng trói mình vào các tập tục nghịch với Phúc âm Đức Kitô. Chúng ta thử nhìn xem các tập tục trong các kênh, các xứ. Nhiều tập tục là những cái dây, những cái xiềng xích trói buộc con người. Mà đó là tự ta trói mình và trói nhau. Đức Kitô bảo mở ra. Công Đồng nói mở ra. Hãy nhìn Đức Kitô và Phúc âm của Người. Căn bản cốt cách của Đạo là công bình bác ái. Tập trung vào đó thì tự nhiên Đạo của ta sẽ mở ra.
Rồi tôi cũng nhìn thấy nhiều nơi vẫn còn trói mình trong các bờ cõi chật hẹp của họ đạo mình. Đang khi đó Công Đồng Vatican II đã mở trói cho chúng ta, bảo chúng ta rằng hãy nhìn về phía các nơi truyền giáo, hãy biết nhìn đến những người ngoài công giáo, ngoài Hội Thánh chúng ta.
Rồi tôi cũng nhìn thấy nhiều nơi còn trói mình vào một hình ảnh phiếm diện của Hội Thánh. Cứ cho Hội Thánh chỉ là các Đức Cha, các linh mục, đang khi Công Đồng Vatican II nói rằng Hội Thánh là tất cả Dân Thiên Chúa. Ai cũng có bổn phận trong Hội Thánh. Ai cũng có quyền trong Hội Thánh. Những cái đó thực sự Công Đồng đã mở ra rồi. Nhưng chúng ta cứ tự trói lại.
Rồi nhìn vào các giáo xứ, tôi lại thấy nhiều người tự trói mình vào một thói quen hẹp hòi cho rằng sống đạo là chỉ cần những việc của tôn giáo, rồi coi thường những gía trị trần thế, đang khi đó Công Đồng Vatican II nói rằng không những phải lo việc đạo, mà cũng phải dấn thân phát triển những gía trị trần thế, chính trị, khoa học, mỹ thuật, cuộc sống…
Phải mở ra. Hãy cởi trói. Đừng trói mình. Đừng trói nhau. Đó là tinh thần của Công Đồng Vatican II mà tôi thấy nhiều nơi chưa hiểu, chưa thấm nhuần.
Thưa anh em,
Tôi vừa nói với anh em về ba thao thức của tôi:
- Thao thức thứ nhất là công việc xây dựng nhân sự về mặt văn hóa cuộc sống,
- Thao thức thứ hai là công việc xây dựng nhân sự về mặt nội dung đức tin,
- Thao thức thứ ba là công việc xây dựng nhân sự về tinh thần Công Đồng Vatican II đổi mới.
Xin anh em nhớ ít ra ba thao thức đó, để anh em thông cảm với tôi nhiều hơn, để anh em cùng thống nhất với tôi trong đường lối xây dựng nhân