LỜI GIỚI THIỆU
Vào khoảng thời gian 1988 -1994, đáp lại nguyện vọng học hỏi và đào sâu giáo lý của giáo dân, Khóa giáo lý trung cấp đã được tổ chức tại nhà xứ chánh tòa Sàigòn. Sau đó, những Linh mục và giáo dân hằng quan tâm đến nhu cầu đào tạo nhân sự cho Giáo hội mong mõi được thấy nhiều khóa huấn luyện được tổ chức, nhất là cho một thành phần giáo dân nòng cốt như cán bộ tông đồ giáo dân, giáo dân phụ trách các hội đoàn, anh chị em trí thức.
Thật là một tin vui khi biết rằng trong tháng 6 vừa qua, một số anh chị em giáo dân đã đặt vấn đề này với các linh mục Dòng Đa Minh Việt Nam và một “Chương trình Bồi dưỡng Giáo Lý cho người trưởng thành” cũng đã được quyết định. Niềm vui của tôi còn lớn hơn khi tôi được mời phục vụ một phần trong chương trình này và được phân công trình bày về Giáo Dân.
Sau đây là các đề tài về Giáo dân mà tôi đề nghị cho Khóa đầu của Chương trình giáo lý cho người trưởng thành:
1.- Từ “Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ 2 tại Thái Lan” đến việc đào tạo giáo dân trưởng thành tại Việt Nam”.
2.- Công Đồng Vatican II là Lễ Hiện xuống mới đối với Giáo hội thế kỷ XX và các thế kỷ sau.
3.- Từ Giáo hội là “Mầu nhiệm Hiệp thông”, là “Cộng đoàn Dân Chúa” đến “Giáo hội là Cộng đoàn mà trong đó mọi người có phần và phải góp phần (Participa-tory Church)”.
4.- Từ “Giáo hội phục vụ thăng tiến con người” đến “Giáo hội làm chứng”.
5.- Kitô hữu là con Thiên Chúa, là môn đệ của Đức Giêsu và là cộng tác viên của Chúa Thánh Thần.
6.- Các Bí Tích Thánh Tẩy, Thêm Sức, Thánh Thể, Thống Hối-Giải Hòa và Hôn Phối trong đời sống giáo dân.
7.- Ơn gọi và sứ mạng của giáo dân trong Giáo hội và trong thế giới hôm nay.
Để giúp các học viên dễ dàng nắm bắt nội dung đề tài cũng như có điều kiện để trao đổi, thảo luận, chia sẻ trong nhóm nhỏ và mở rộng tầm nhìn về các vấn đề, tôi sẽ trình bày các đế tài theo bố cục dưới đây:
* Mục đích yêu cầu,
* Tiếp cận vấn đề,
* Học hỏi Giáo lý, Thánh Kinh, Công Đồng,
* Thảo luận và ứng dụng,
* Tài liệu tham khảo.
Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho công việc của chúng con, người học cũng như kẻ phục vụ!
Sàigòn ngày 27 tháng 07 năm 2001
ĐỀ TÀI 1
TỪ “HỘI NGHỊ GIÁO DÂN Á CHÂU LẦN 2 TẠI THÁI LAN” ĐẾN “VIỆC ĐÀO TẠO GIÁO DÂN TRƯỞNG THÀNH TẠI VIỆT NAM”
A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Giúp học viên ý thức tầm quan trọng của việc bồi dưỡng về Giáo lý, Thánh Kinh, Thần học để có đủ nghị lực và quyết tâm theo học “Chương trình Giáo Lý cho người trưởng thành ” đến cùng.
B. TIẾP CẬN VẤN ĐỀ
I. PHẦN THAM GIA CỦA HỌC VIÊN:
Xin anh chị hãy cho biết (viết ra giấy rồi chia sẻ trong nhóm nhỏ):
1. Tại sao anh chị ghi tên theo học Khóa Giáo lý này? Trong đời sống Đạo anh chị có nhu cầu gì?
2. Anh chị trông đợi gì ở Khóa này?
3. Anh chị có đề nghị gì với các giảng viên, với ban tổ chức là những người hướng dẫn, giúp đỡ và phục vụ anh chị?
4. Anh chị quyết tâm và cam kết gì (với chính mình, với các bạn, với Chúa)?
II. PHẦN CHIA SẺ CỦA HƯỚNG DẪN VIÊN:
2.1 Hội nghị Giáo dân Á Châu lần thứ 2 được Văn Phòng Giáo Dân của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) và Uy Ban Giám Mục về Giáo dân của Hội Đồng Giám Mục Thái Lan phối hợp tổ chức tại Trung Tâm Mục Vụ Ban Phu Waan, Samphran, Bangkok, Thái Lan từ ngày 19 đến hết ngày 24.3.2001 vừa qua. Hội nghị qui tụ 68 đại biểu gồm 9 giám mục, 9 linh mục, 2 nữ tu, 19 nam giáo dân và 29 nữ giáo dân của 15 quốc gia A Châu là An độ, Nêpan, Bangadesh, Pakistan và Sri-Lanca (Vùng Nam A), Indonesia, Malaya, Philippines, Thái Lan, Việt Nam (Vùng Đông Nam A) và Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc (Vùng Đông Á) và Uzbekhistan. Các nước Mynanmar, Lào, Cambodia, Trung Hoa, Bắc Triều Tiên và các nước vùng Trung Á không có đại biểu.
2.2 Chủ đề của Hội nghị là:
“Giáo Dân là sức mạnh thúc đẩy yêu thương và phục vụ trong một Giáo hội đổi mới”.
2.3 Mục tiêu của Hội nghị là:
1) Phát huy tiềm năng của gia đình và của giáo dân để gia đình và giáo dân trở thành một lực lượng thúc đẩy yêu thương và phục vụ, làm chứng cho các gía trị Tin Mừng.
2) Khám phá các khả năng hợp tác với các anh chị em có Niềm Tin tôn giáo khác để tìm cách đáp trả - bằng yêu thương và phục vụ- các thách thức mà Châu Á đang phải đương đầu.
3) Xây dựng tình liên đới với các tổ chức của Giáo Hội, với giáo dân của các quốc gia khác và với các tổ chức phi chính phủ nhằm phục vụ việc thăng tiến con người.
2.4 Hội nghị xử dụng một phương pháp làm việc “độc đáo”:
Là sau khi đã được định hướng thì tiến trình của Hội nghị là bắt đầu từ THỰC TẾ CUỘC SỐNG đến SUY TƯ & TÌM HIỂU (Thánh Kinh, Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội) để kết thành CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỤ THỂ. Phương pháp ấy được tóm gọn như sau: Định hướng> Thâm nhập thực tế> Suy tư> Hành động.
2.5 Hội nghị đã đưa ra 6 quyết định sau đây:
1) Nhấn mạnh việc Huấn Luyện giáo dân một cách có hệ thống và xuyên suốt hơn, nhằm giúp giáo dân hiểu biết căn tính và vai trò của mình, hiểu biết Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội bằng những phương tiện đơn giản và liên tục.
2) Sử dụng tiến trình: [Thâm Nhập Thực Tế > Suy Tư > Hành Động] mà chúng tôi đã thấy rất hữu ích trong việc đào tạo giáo dân.
3) Dấn thân hoạt động với các Giáo Hội địa phương để thực thi Chương trình Hành động trong quốc gia của mình.
4) Thành lập các Cộng đoàn Chia sẻ Lời Chúa là các cộng đoàn tạo điều kiện cho giáo dân trở thành Lực lượng thúc đẩy Yêu thương và Phục vụ.
5) Xây dựng một tình Liên đới rộng lớn hơn giữa các Giáo hội A châu với nhau và với những người không cùng niềm tin để tăng cường hoạt động nhằm phục vụ người nghèo.
6) Cổ vũ và hỗ trợ Gia đình để gia đình chu toàn nhiệm vụ có một không hai của mình dựa trên nền tảng Giáo huấn Xã hội của Giáo hội.
Nhìn vào chủ đề, mục tiêu, phương pháp làm việc và quyết định của Hội nghị, chúng ta có thể nói: Hội nghị Giáo dân châu Á lần 2 chẳng những là hội nghị của những giáo dân đích thực và trưởng thành mà còn nhắm mục tiêu tạo nên một đội ngũ giáo dân đích thực và trưởng thành cho các Giáo hội Á châu. Anh chị có đồng ý thế không? Theo anh chị, thế nào là giáo dân đích thực? thế nào là giáo dân trưởng thành? Giáo hội Việt Nam chúng ta đã có hàng giáo dân đích thực và trưởng thành ấy chưa? Làm thế nào để Giáo hội Việt Nam chóng có hàng ngũ đông đảo giáo dân đích thực và trưởng thành?
C. HỌC HỎI THÁNH KINH & CÔNG ĐỒNG
I. NỀN TẢNG THÁNH KINH
“Còn Đức Giêsu thì ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến” (Lc 2,52).
Từ câu Thánh Kinh trên, các nhà chú giải ghi nhận:
* “Đức Giêsu ngày càng khôn lớn” có nghĩa là Ngài phát triển về thân xác và về sự khôn ngoan theo tuổi tác năm tháng.
* “Được Thiên Chúa yêu thương” có nghĩa là Ngài phát triển trong đời sống ân sủng, trong mối quan hệ thân mật với Thiên Chúa Cha,
* “Được mọi người thương mến” có nghĩa là Ngài phát triển về các quan hệ mối xã hội, Ngài sống hài hòa và gần gũi với mọi người.
Đó là những tiêu chuẩn mẫu mực chúng ta phải noi theo để phát triển và trưởng thành trong đời sống nhân bản và tâm linh của chúng ta. Chúng ta không thấy Thánh Kinh nêu lên khía cạnh trí thức của Đức Giêsu. Trí thức là một yếu tố rất quan trọng nhưng không tối cần thiết cho đời sống của Chúa là Đấng Mêsia.
II. GIÁO HUẤN CỦA CÔNG ĐỒNG
“Giáo Hội chưa được thiết lập thực sự, cũng chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Kitô giữa loài người, nếu như chưa có hàng giáo dân đích thực và nếu hàng giáo dân này chưa cùng làm việc với hàng giáo phẩm. Thật vậy, Phúc Am không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân.
Do đó, ngay khi thiết lập, Giáo Hội phải hết sức chú tâm đến việc đào tạo một hàng giáo dân Kitô giáo trưởng thành”
(Sắc lệnh Truyền Giáo, số 21)
III. VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO GIÁO DÂN ĐÍCH THỰC HAY TRƯỞNG THÀNH THEO TÔNG HUẤN NGƯỜI KI-TÔ HỮU GIÁO DÂN (CHRISTIFIDELES LAICI)
3.1 Thế nào là giáo dân đích thực hay trưởng thành?
* Chúng ta không cần đi sâu vào việc tìm ra một định nghĩa đầy đủ về người giáo dân đích thực hay trưởng thành. Chỉ cần chúng ta dựa vào cách suy nghĩ thông thường và phổ biến của mọi người để hiểu thế nào là người giáo dân đích thực hay trưởng thành.
* Hiểu một cách đơn giản, người giáo dân đích thực là người giáo dân sống đạo thật sự, chứ không chỉ sống đạo một cách hời hợt hình thức, càng không phải là người chỉ có cái tên là người có đạo. Tương tự như thế, người giáo dân trưởng thành là người giáo dân có sự hiểu biết tương đối về Đạo, có suy nghĩ chín chắn, có ý thức rõ rệt về vai trò chức năng ơn gọi của mình và tự mình có dấn thân cụ thể trong đời sống Đức Tin.
* Trong đoạn văn trích dẫn từ Sắc Lệnh Truyền Giáo ở trên, các Nghị phụ Công Đồng đưa ra một tính chất khác xác định tính “đích thực hay trưởng thành”. Đó là hàng giáo dân ấy phải có khả năng và điều kiện để cùng làm việc với hàng Giáo Phẩm. Cùng làm việc với hàng Giáo Phẩm thì rõ ràng không phải chỉ là làm việc dưới sự lãnh đạo, chỉ huy hay điều khiển của hàng Giáo Phẩm, mà là cùng suy nghĩ và hành động với các chủ chăn để thực thi sứ mạng mà Chúa Giê-su trao phó cho toàn Giáo hội.
3.2 Để Giáo hội có hàng giáo dân đích thực hay trưởng thành:
Cha ông ta có câu:” Không thầy đố mày làm nên.” Còn người La Mã xưa có châm ngôn:”Không ai cho cái mình không có” (Nemo dat quod non habet). Cả hai châm ngôn trên đều nói lên tầm quan trọng của việc học hỏi, rèn luyện. Ap dụng vào trường hợp người giáo dân, chúng ta có thể nói: Muốn hiểu biết về Ơn gọi và Sứ mạng của mình trong Giáo hội và trong thế giới và muốn biết cách chu toàn Ơn gọi và Sứ mạng ấy thì người giáo dân cần được học hỏi và đào luyện rất nhiều. Nói theo ngôn ngữ của Đức Gioan Phaolô II trong Tông huấn “Người Kitô hữu giáo dân - Christifideles Laici” (số 45-49) thì mọi Kitô hữu (linh mục, tu sĩ, giáo dân), mọi người già trẻ lớn bé nam cũng như nữ, đều là những người thợ làm vườn nho của Thiên Chúa. Đã là thợ thì phải có trình độ tay nghề mới có thể đảm đương công việc của người thợ. Mà muốn có tay nghề thì phải học nghề. Học nghề chính là công việc đào tạo, huấn luyện! Vậy nếu Giáo hội muốn có hàng giáo dân đích thực hay trưởng thành thì đương nhiên Giáo hội phải quan tâm đến việc huấn luyện, đào tạo và đầu tư cách thích hợp vào công việc ấy.
3.3 Thế nào là đào tạo giáo dân?
Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân nói về việc đào tạo giáo dân như sau:
”Hình ảnh trong Tin Mừng về cây nho và các cành nho cho chúng ta thấy một khía cạnh nền tảng khác trong đời sống và sứ vụ của giáo dân: lời kêu gọi phải lớn lên, không ngừng trưởng thành và luôn luôn sinh hoa trái nhiều hơn” (số 57).
Vậy đào tạo giáo dân là làm cho người tín hữu trở thành người giáo dân đích thực và trưởng thành. Nói cách khác là giúp người giáo dân hiểu biết đầy đủ về Ơn gọi và Sứ mạng của mình trong Giáo hội và trong thế giới và đồng thời có khả năng đảm nhận Ơn gọi và Sứ mạng ấy một cách hiệu quả.
Đối tượng của việc đào tạo ở đây là người giáo dân, chứ không phải các tu sinh hay chủng sinh. Thế có nghĩa là chúng ta phải xác định một số vấn đề như Giáo dân là ai? Giáo dân sống ở đâu? Giáo dân có ơn gọi và sứ mạng (chung và riêng) gì?
3.4 Mục đích của việc đào tạo giáo dân
Trong Tông Huấn Người Kitô hữu giáo dân, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nêu lên hai mục đích trong việc đào tạo giáo dân.
3.4.1- Mục đích thứ nhất của việc đào tạo giáo dân là để giúp giáo dân trưởng thành hơn trong tiến trình nên giống Đức Kitô:
“Các Nghị Phụ…diễn tả việc huấn luyện người giáo dân như một tiến trình trưởng thành liên tục của cá nhân trong đức tin và là một tiến trình nên giống Đức Kitô, theo ý muốn của Chúa Cha, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần”
(Người Kitô hữu giáo dân, số 57)
3.4.2- Mục đích thứ hai của việc đào tạo giáo dân là để giúp giáo dân khám phá và sống ơn gọi và sứ vụ riêng của mình :
“Việc huấn luyện giáo dân có mục tiêu nền tảng là giúp họ khám phá ra mỗi ngày mỗi rõ ràng hơn ơn gọi cá nhân và luôn hết sức sẵn sàng chu toàn sứ vụ riêng của mình”
(Người Kitô hữu giáo dân, số 58)
3.5 Hai lãnh vực & chương trình đào tạo
Cũng theo Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân thì người giáo dân cần được đào tạo trong hai lãnh vực khác nhau: lãnh vực tổng quát và lãnh vực chuyên biệt. Vì có hai lãnh vực nên cũng cần phải có hai chương trình đào tạo khác nhau.
3.5.1- Lãnh vực & chương trình tổng quát:
Mọi người giáo dân phải được đào tạo trong lãnh vực và theo chương trình tổng quát này. Ở đây người giáo dân được đào tạo về những nền tảng cơ bản của đời sống Đức Tin, gồm nhiều mặt: nhân bản, tâm linh, kiến thức, ý thức thái độ và kỹ năng.
1o) Về mặt nhân bản,
Người giáo dân được đào tạo để:
a) Trở thành một con người hoàn thiện về mặt nhân bản, với những đức tính hướng thiện, công bằng, yêu thương, nhân ái, vị tha, thanh liêm chính trực, trọng chữ tín, trọng của công, có tinh thần trách nhiệm,
Nhạy bén với các vấn đề xã hội, có tình liên đới với những người chung quanh.
2o) Về mặt tâm linh,
Người giáo dân được đào tạo để:
a) Trở thành một Kitô hữu xác tín và dấn thân,
Phát triển đời sống cầu nguyện và tình thân với Đức Giêsu, với Thiên Chúa:
”Mỗi người được mời gọi để không ngừng lớn lên trong tình thân mật với Đức Giê- su, với Thiên Chúa…”
Tinh luyện động cơ làm việc và phục vụ, nhất là đối với những người có nhiệm vụ lãnh đạo cộng đoàn,
Biết qui chiếu đời sống Đức Tin vào Đức Kitô và xây dựng đời sống trên nền tảng Lời Chúa,
đ) Biết hội nhập Văn hóa và Đức Tin một cách hài hòa.
3o) Về mặt kiến thức,
Người giáo dân được đào tạo để:
a) Có một hiểu biết thông thạo về Giáo lý, Thánh kinh, Thần học, Công đồng,
b) Có một kiến thức tổng quát về các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, tôn giáo, môi sinh và các phương tiện thông tin đại chúng. Ở đây phải dành một chỗ hết sức quan trọng cho việc học hỏi Học thuyết Xã hội của Giáo hội.
4o) Về mặt ý thức và thái độ,
Người giáo dân được đào tạo để có:
a) Ý thức trách nhiệm xã hội,
b) Ý thức các mối tương quan cộng đoàn và dành ưu tiên cho việc xây dựng cộng đoàn, cho cách làm việc chung, làm việc ê-kíp, nhóm,
c) Thái độ khiêm tốn phục vụ, chia sẻ, giúp đỡ người khác.
5o) Về mặt kỹ năng,
Người giáo dân được đào tạo để:
a) Biết linh hoạt một nhóm nhỏ hay một cộng đoàn lớn,
b) Biết mời gọi, thuyết phục và ảnh hưởng trên người khác,
c) Biết hướng dẫn các buổi cử hành, nghi thức, cầu nguyện,
d) Biết điều hành các buổi hội họp thảo luận hay chia sẻ,
đ) Biết cách giải quyết các xung đột,
e) Biết truyền thông cho người khác,
g) Biết lên kế hoạch, thực hiện và lượng giá việc thực hiện kế hoạch.
3.5.2- Lãnh vực chuyên biệt:
Đối với một số giáo dân có Ơn gọi và Sứ mạng riêng như các Giáo lý viên, Linh hoạt viên các cộng đoàn, Hội viên Hội đoàn Công giáo Tiến hành, Thành viên Hội đồng Mục vụ Giáo xứ, các Tông đồ Giáo dân, những người làm việc từ thiện, những người dấn thân trong lãnh vực nghề nghiệp, chính trị….. thì ngoài chương trình huấn luyện chung cho mọi giáo dân, họ cần có một chương trình đào tạo riêng. Gọi chương trình ấy là chương trình huấn luyện chuyên biệt, vì nhằm đáp ứng các nhu cầu, ơn gọi và sứ vụ riêng biệt của từng hạng người: Ví dụ các Giáo lý viên thì phải có sự hiểu biết và kỹ năng về Sư phạm Giáo lý; Hội đồng Mục vụ Giáo xứ thì phải có hiểu biết và kỹ năng về lãnh đạo tập thể; Tông đồ Giáo dân thì phải có hiểu biết về giá trị các tôn giáo không Kitô giáo và phải có nghệ thuật tâm lý trong giao tiếp v.v…
Nhưng điều tối quan trọng mà Đức Gioan Phaolo II nhấn mạnh trong Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân là việc đào tạo phải toàn diện để có một đời sống thống nhất:
“ Trong cuộc sống không thể có hai đời sống song song nhau: một bên là đời sống gọi là ‘thiêng liêng’, với những giá trị và những đòi hỏi riêng, và bên kia là đời sống ‘trần thế’, nghĩa là đời sống gia đình, nghề nghiệp, những tương quan xã hội, sự tham gia chính trị, các hoạt động văn hóa. Cành nho nào được nối với cây nho là Đức Ki-tô sẽ trổ sinh hoa trái trong tất cả mọi lãnh vực hoạt động và trong mỗi giai đoạn của cuộc sống. Thật vậy, tất cả mọi lãnh vực của đời sống giáo dân đều nằm trong ý định của Thiên Chúa, Đấng đã muốn những lãnh vực đó là “môi trường lịch sử” để mặc khải và thực thi Đức Ai của Đức Giê-su Ki-tô, nhằm vinh quang Chúa Cha để phục vụ anh em. Tất cả mọi hoạt động, mọi hoàn cảnh, mọi sự dấn thân cụ thể -chẵng hạn như khả năng chuyên môn và sự liên đới trong công việc, tình yêu và sự dâng hiến trong gia đình cũng như trong việc giáo dục con cái, công việc xã hội và chính trị, việc trình bày chân lý trong lãnh vực văn hóa - tất cả những điều đó là cơ hội được Thiên Chúa quan phòng để ‘không ngừng thực thi đức Tin, đức Cậy và đức Mến”
(Người Kitô hữu giáo dân, số 59; Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, số 43; Sắc lệnh Truyền giáo, số 21; Loan báo Tin Mừng, số 20).
3.6 Phương pháp đào tạo giáo dân
Giáo hội luôn quan tâm tới những khám phá và tiến bộ của con người trong mọi lãnh vực, nhất là lãnh vực giáo dục, nên Giáo hội hết sức chú trọng đến việc đem các tiến bộ tốt đẹp ấy ứng dụng vào trong công việc giáo dục của mình. Vì thế mà trong công cuộc đào tạo giáo dân, Giáo hội xử dụng nhiều phương pháp thích hợp và có giá trị, như:
1- Trau đồi kiến thức phải đi đôi với thực hành;
2- Giúp giáo dân tự đào tạo mình;
3- Đào tạo giáo dân qua cử hành Phụng vụ, Bí tích;
4- Đào tạo giáo dân bằng các Lớp, các Khóa học hỏi ngắn và dài ngày;
5- Đào tạo giáo dân qua các Hội đoàn Công giáo Tiến hành;
6- Bồi dưỡng giáo dân qua các Hội nghị, các đợt Tĩnh Tâm.
3.7 Thời gian và môi trường đào tạo giáo dân
Hẳn nhiên là công cuộc đào tạo giáo dân như thế thì không thể có điểm dừng, nghĩa là không bao giờ có thể nói là đã hoàn thành. Từ bé tới lớn, từ trẻ tới già luôn luôn là thời gian đào tạo.
Còn môi trường đào tạo thì chính là trong Giáo hội từ gia đình cho đến giáo xứ, giáo phận, cho đến Giáo hội toàn cầu. Trong các môi trường ấy phải kể đến các trường công giáo (từ tiểu đến trung và đại học) và các môi trường hội đoàn (xem Người Kitô hữu giáo dân, số 61-62).
3.8 Những người có trách nhiệm đào tạo giáo dân
Nói cho đến cùng, thì chính Thiên Chúa là Đấng đào tạo các Kitô hữu giáo dân cũng như giáo sĩ. Và chỉ một mình Đức Giêsu Kitô là Thầy, là Sư Phụ dậy dỗ và rèn luyện mọi người nên con cái Thiên Chúa, nên giống Ngài, để “Thầy nào trò nấy”. (Người Kitô hữu giáo dân, số 61). Nhưng Thiên Chúa và Đức Kitô cũng đã giao trách nhiệm đào tạo ấy cho các Tông đồ và đặc biệt là Tông đồ trưởng Phêrô.
Vì thế Đức Giáo hoàng và các Đức Giám mục là những người được Thiên Chúa giao phó công việc giáo dục đào tạo mọi thành phần Dân Chúa trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình: Đức Giáo hoàng thì trong phạm vi Giáo hội toàn cầu, các Giám mục thì trong phạm vi Giáo hội địa phương là giáo phận. Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân khẳng định:
“Công cuộc giáo dục trước hết là công việc của Giáo hội toàn cầu. Đức Giáo hoàng giữ vai trò người giáo dục đầu tiên của giáo dân. Là người kế vị thánh Phêrô, ngài cũng có sứ mệnh “củng cố anh em mình trong đức Tin” bằng cách dạy dỗ tất cả mọi tín hữu những yếu tố thiết yếu trong ơn gọi cũng như sứ vụ của Kitô giáo và Giáo hội. Không chỉ những lời do chính ngài đã loan báo, nhưng cả những gì được trình bày trong các văn kiện của các cơ quan khác nhau của Toà thánh đều cần được người giáo dân lắng nghe với lòng tuân phục kính yêu”
“Tại mỗi Giáo hội địa phương vị Giám mục có một trách nhiệm cá nhân đối với giáo dân. Ngài phải huấn luyện họ bằng cách loan báo Lời Chúa, cử hành Phụng vụ Thánh Thể và các Bí tích, làm sinh động và hướng dẫn đời sống Kitô hữu”
(Người Kitô hữu giáo dân, số 61).
Trên thực tế các Giám mục thực hiện công việc quan trọng ấy bằng nhiều cách: thăm viếng, khuyên nhủ, giảng dậy trực tiếp hay gián tiếp tức qua các phương tiện truyền thông xã hội như thư từ, báo chí, sách vở, tài liệu và qua các cộng tác viên sống động là các linh mục. Cho nên sau Giám mục thì các linh mục, nhất là các linh mục chánh xứ, là người có trách nhiệm chính trong việc đào tạo huấn luyện giáo dân, vì như Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân xác định:
“Giáo xứ giữ một vai trò thiết yếu trong việc huấn luyện cách trực tiếp hơn với từng giáo dân. Thực vậy giáo xứ có điều kiện dễ dàng để đến với riêng từng người, từng nhóm nên giáo xứ được kêu gọi đào tạo các phần tử của mình biết lắng nghe Lời Chúa, biết đối thoại với Chúa trong cử hành phụng vụ cũng như cầu nguyện riêng, biết sống bác ái huynh đệ, và đồng thời giáo xứ còn phải cho họ thấy được một cách trực tiếp và cụ thể, ý nghĩa của sự hiệp thông trong Giáo hội và của trách vụ Truyền Giáo”
(Người Kitô hữu giáo dân, số 61).
Các Tu sĩ cũng có trách nhiệm tham gia một cách nào đó vào công việc đào tạo này, vì Tu sĩ cũng là thành phần Dân Chúa, mà đã là thành phần Dân Chúa thì không ai không có trách nhiệm xây dựng Thân Thể huyền nhiệm của Chúa Kitô là Giáo hội.
Sau cùng việc đào tạo hàng giáo dân trưởng thành còn là trách nhiệm của chính người giáo dân, nhất là của những người làm cha làm mẹ, làm huynh trưởng các phong trào giáo dân, các bậc đàn anh đàn chị trong các hội đoàn, tổ chức Công giáo tiến hành. Trong một số trường hợp thiếu linh mục hoặc các linh mục quá bận với công việc mục vụ hoặc các linh mục lơ là với việc đào tạo giáo dân, thì trách nhiệm đào tạo giáo dân của hàng giáo dân càng nặng nề và cấp bách hơn.
D. THẢO LUẬN & ỨNG DỤNG
1. Anh chị có cảm nghĩ gì sau buổi học đầu tiên? Hãy chia sẻ với bạn bè trong nhóm nhỏ.
2. Anh chị có thấy cần phải nỗ lực rất nhiều để đáp lại sự mong đợi của Giáo hội không? Anh chị tính làm gì để vượt qua mọi khó khăn, trở ngại trong những ngày tháng tới? (cầu xin ơn trợ giúp? quyết tâm dành ưu tiên cho Khóa học? thu xếp công việc và thời khóa biểu? chuyên chăm và tích cực tham dự lớp? v.v…).
Đ. TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU I:
HUẤN LUYỆN TOÀN DIỆN ĐỂ CÓ MỘT ĐỜI SỐNG THỐNG NHẤT
“Đối với người giáo dân, việc khám phá và thực hiện ơn gọi, sứ mạng cá nhân cũng bao gồm đòi hỏi phải được huấn luyện để có một cuộc sống thống nhất, là nét đặc trưng của họ, xét như là những chi thể của Giáo hội và là công dân của xã hội nhân loại.
Trong cuộc sống, không thể có hai đời sống song song nhau: một bên là đời sống gọi là “thiêng liêng”, với những gía trị và những đòi hỏi riêng, và bên kia là đời sống “trần thế”, nghĩa là đời sống gia đình, nghề nghiệp, những tương quan xã hội, sự tham gia chính trị, các hoạt động văn hóa. Cành nho nào được nối với cây nho là Đức Kitô sẽ trổ sinh hoa trái trong tất cả mọi lãnh vực hoạt động và trong mỗi giai đoạn của cuộc sống. Thực vậy tất cả mọi lãnh vực của đời sống giáo dân đều nằm trong ý định của Thiên Chúa, Đấng đã muốn những lãnh vực đó là môi trường “lịch sử” để mặc khải và thực thi Đức Ai của Đức Giêsu Kitô; nhằm vinh quang Chúa Cha và để phục vụ anh em. Tất cả mọi hoạt động, mọi hoàn cảnh, mọi dấn thân cụ thể - chẳng hạn như khả năng chuyên môn và sự liên đới trong công việc, tình yêu và sự dâng hiến trong gia đình cũng như trong việc giáo dục con cái, công việc xã hội và chính trị, việc trình bày chân lý trong lãnh vực văn hóa - tất cả những điều đó là cơ hội được Thiên Chúa quan phòng để “không ngừng thực thi đức Tin, đức Cậy và đức Mến”
(Vatican II, Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân, số 4).
Đó chính là sự thống nhất đời sống mà Công đồng Vatican II đã nhắn nhủ mọi người giáo dân khi Công đồng mạnh mẽ tố cáo tính cách trầm trọng của sự đứt đoạn giữa đức Tin và đời sống, giữa Tin Mừng và văn hoá:
“Công đồng khuyến khích các Kitô hữu, công dân của hai đô thị, hãy nỗ lực chu toàn cách trung thành các bổn phận trần thế của họ và chu toàn dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Am. Thực sai lầm cho những ai đang khi biết rằng chúng ta không có một quê hương trường tồn ở trần thế và đang phải kiếm tìm một quê hương hậu lai, để rồi vì đó tưởng rằng mình có thể xao lãng các bổn phận trần gian, như thế là không nhận thấy chính đức Tin buộc phải chu toàn các bổn phận đó hoàn hảo hơn, mỗi người tùy theo ơn gọi của mình. Ngược lại, cũng sai lầm không kém đối với những ai nghĩ rằng có thể dấn thân hoàn toàn vào việc trần thế như thể các công việc ấy hoàn toàn xa lạ đối với đời sống tôn giáo, vì cho rằng đời sống tôn giáo chỉ còn hệ tại những hành vi thờ phượng và một vài bổn phận luân lý phải chu toàn. Sự phân ly giữa đức Tin mà họ tuyên xưng và cuộc sống thường nhật của nhiều người phải kể vào số những sai lầm trầm trọng nhất của thời đại chúng ta”
(Vatican II, Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 43; xem Sắc lệnh về Hoạt động Truyền Giáo của Giáo hội, số 21; Đức Phaolo VI, Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng, số 20).
“ Đó là lý do vì sao tôi đã khẳng định rằng một đức Tin mà không trở thành văn hoá là một đức Tin “không được đón nhận trọn vẹn, không được suy nghĩ thấu đáo và không được sống một cách trung tín”
(Đức Gioan Phaolô II, Tông huấn “Người Kitô hữu giáo dân”, số 59).
TÀI LIỆU II:
VĂN BẢN KẾT THÚC CỦA HỘI NGHỊ GIÁO DÂN Á CHÂU LẦN THỨ II
“Anh em luôn đứng vững cùng chung một Thần Khí, một lòng một dạ cùng nhau chiến đấu vì đức tin mà Tin Mừng mang lại cho anh em”
(Pl 1,27b)
I. NHẬP ĐỀ
1.1 Chúng tôi là các tham dự viên Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ 2 đại diện của 15 quốc gia thuộc châu Á (Bangadesh, An Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Nepal, Pakistan, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan, Uzbekhistan, Việt Nam). Chúng tôi là những nam nữ giáo dân và những người trẻ và các nữ tu cùng với các linh mục và giám mục của chúng tôi, đã qui tụ về Trung tâm Huấn luyện Mục vụ ‘Baan Phu Waan’, Samphran, Thái Lan này, từ ngày 19 đến hết ngày 24 tháng 3 năm 2001, để suy nghĩ về đề tài: “Giáo Dân là Lực lượng thúc đầy Yêu thương và Phục vụ trong một Giáo hội đổi mới”. Tiếp nối Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ nhất với đề tài suy nghĩ là: ”Sự dấn thân của người giáo dân trong Sứ mạng của Giáo hội với sự quy chiếu đặc biệt về việc thực thi Giáo huấn Xã hội của Giáo hội”, đề tài lần này của chúng tôi ăn khớp với Giáo huấn Xã hội của Giáo hội cũng như với chủ đề của Hội nghị toàn thể lần thứ 7 của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) hồi tháng 1 năm 2000 là “Một Giáo hội đổi mới tại châu Á: Sứ mạng Yêu thương và Phục vụ”.
1.2 Các Hội nghị Giáo dân vùng Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á đã suy nghĩ về Giáo huấn Xã hội của Giáo hội trong bối cảnh của các thực tại của từng vùng. Đó đã là một tiến trình phát triển và trưởng thành liên tục trong đức Tin.
1.3 Các mục tiêu của Hội nghị lần này là:
1.3.1 Phát huy tiềm năng của gia đình và của giáo dân để gia đình và giáo dân trở thành một lực lượng thúc đẩy yêu thương và phục vụ,, làm chứng cho các gía trị Tin Mừng.
1.3.2. - Khám phá các khả năng hợp tác với các anh chị em có niềm Tin tôn giáo khác để tìm cách đáp trả - bằng yêu thương và phục vụ- các thách thức mà châu Á đang phải đương đầu.
1.3 3.- Xây dựng tình liên đới với các tổ chức của Giáo hội, với giáo dân của các quốc gia khác và với các tổ chức phi chính phủ nhằm phục vụ việc thăng tiến con người.
1.4 Chúng tôi đã thiếu mất một số Giáo hội địa phương mà đáng lẽ ra phải có mặt: Cambodia, Lào, Trung Hoa lục địa, Myanmar, Bắc Triều Tiên và các quốc gia Trung Á. Đặc biệt Uzbekhistan đã có mặt tại Hội nghị này.
II. KINH NGHIỆM CỦA CHÚNG TÔI
2.1 Chúng tôi đã bắt đầu Hội nghị bằng việc ‘thâm nhập thực tế’ tức đi vào một số đặc điểm của thực tại Á châu. Trong khi nhớ lời mời gọi của Giáo hội là hãy đối thoại với những người không cùng niềm tin, với các nền văn hóa và với người nghèo, chúng tôi đã đi thăm một số trung tâm mà ở đó nổi bật một phong cách sống mới; nơi mà các nạn nhân đau khổ vì bệnh AIDS, người già, người bị áp bức và bóc lột đã có thể tìm thấy sự săn sóc, tiện nghi và hy vọng; nơi mà các phụ nữ, trẻ con và người trẻ, là nạn nhân của nền kinh tế toàn cầu hóa, có thể tìm thấy sự giúp đỡ, hướng dẫn và một cách sống khác. Chúng tôi đã gặp nhiều người đã phải đau khổ một cách sâu sắc bởi guồng máy xã hội.
2.2 Việc “thâm nhập thực tế” giúp chúng tôi học hỏi, nhìn ra, cảm nghiệm và chia sẻ với những người đang đau khổ. Gương tốt của những người làm việc với họ đã gợi cho chúng tôi xác tín rằng “yêu thương và phục vụ” - chứ không phải là “sự chiếm hữu và khai thác”- mới là chìa khóa mở đường cho con người được hạnh phúc. Chúng tôi nhận ra rằng tấm lòng và sự khôn ngoan có khả năng giúp con người tìm ra ý nghĩa cuộc sống hơn là tiền bạc và kiến thức. Chúng tôi cũng nhận ra rằng sức mạnh và niềm vui xuất phát từ các mối tương quan có ý nghĩa và từ các hoạt động chung giữa các nhóm khác nhau, cùng nhau chia sẻ mối quan tâm, có khả năng tăng cường tình liên đới và sự hợp tác để làm cho xã hội thành nhân bản hơn.
2.3 Báo cáo các vùng cho chúng tôi một cái nhìn toàn diện về những vấn đề nóng bỏng và sự đáp trả của Giáo hội. Những nỗ lực của các Giáo hội địa phương nhằm giải quyết các vấn đề đem lại cho chúng tôi niềm hy vọng. Có nhiều giáo dân đã liên kết một cách tuyệt vời với những người đang đau khổ và với những người đang hoạt động cho Công lý và sự Thăng tiến các quyền con người. Nhìn vào tầm mức mênh mông của vấn đề, sự đáp trả của chúng tôi với tư cách là giáo dân, thật không cân xứng.
2.4 Các chuyên viên của chúng tôi và các đại diện của các tổ chức phi chính phủ đã cống hiến cho chúng tôi những tấm gương sáng và đã vạch ra cho chúng tôi những khả năng sống sứ mạng của mình như một tác nhân làm thay đổi thế giới.
2.5 Chúng tôi biết ơn vì đã có điều kiện thuận lợi để gắn bó với nhau nhờ việc chia sẻ cá nhân, họp nhóm và làm việc chung với nhau. Việc chuẩn bị và cử hành Phụng vụ Thánh Thể mỗi ngày là nguồn suối cảm hứng và hiệp thông giữa chúng tôi. Các buổi trình diễn văn hóa đào sâu tình hũu nghị và giúp chúng tôi đánh giá cao vẻ đẹp và sự đa dạng của các nền Văn hóa Á châu.
III. THÁCH THỨC
3.1 Các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản, các Cộng đoàn Kitô hữu nhỏ cống hiến cho giáo dân phương thế nối kết Đức Tin với Đời Sống và giúp chúng tôi ý thức về cảnh huống của mình. Trong các Cộng đoàn nhỏ này việc Huấn luyện về đức Tin và nhất là về Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội, có thể giúp chúng tôi phát triển một nhận thức về sứ mạng và trở thành một Lực lượng thúc đẩy để làm cho người ta trở lại và tạo sự biến đổi trong Giáo hội và Xã hội. “Các Cộng đoàn nhỏ bé này giúp các thành viên sống Tin Mừng trong tinh thần Yêu thương Huynh đệ và Phục vụ, từ đó trở thành điểm khởi hành vững chắc cho một xã hội mới, biểu hiện nền Văn minh Tình thương” (Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’, số 25)
3.2 Chúng tôi được mời gọi để trở thành các chứng nhân đáng tin cậy bằng “một lối sống phù hợp với Giáo huấn Tin Mừng… Sự liên đới với người nghèo sẽ trở nên đáng tin hơn nếu bản thân các Ki-tô hữu sống giản dị, theo gương Đức Giêsu” (Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’, # 34).
3.3 Chúng tôi được mời gọi để trở thành một Lực lượng thúc đẩy Yêu thương và Phục vụ trong tình Hiệp thông với Giáo hội. Và chúng tôi được mời gọi để mỗi người và cả cộng đoàn thực thi Giáo huấn Xã hội của Giáo hội, cùng hoạt động với mọi người thành tâm thiện chí để giải quyết những vấn đề chung của xã hội.
3.4 Đáp lại lời mời gọi của Giáo hội về việc dấn thân phục vụ đời sống công cộng là một nhu cầu cấp bách. Thế giới của các vấn đề chính trị và lao động là những môi trường ưu tiên mà người giáo dân được mời gọi để biến đổi xã hội.
3.5 Bênh vực sự thăng tiến các quyền con người là một thách thức đặc biệt đối với chúng tôi.
IV. QUYẾT ĐỊNH
Chúng tôi quyết định:
4.1 Nhấn mạnh việc Huấn luyện giáo dân một cách có hệ thống và xuyên suốt hơn, nhằm giúp giáo dân hiểu biết căn tính và vai trò của mình, hiểu biết Giáo huấn Xã hội của Giáo hội bằng những phương tiện đơn giản và liên tục.
4.2 Sử dụng tiến trình {thâm nhập thực tế > suy tư > hành động} mà chúng tôi đã thấy rất hữu ích trong việc đào tạo giáo dân.
4.3 Dấn thân hoạt động với các Giáo hội địa phương để thực thi Chương trình Hành động trong quốc gia của mình.
4.4 Thành lập các Cộng đoàn Chia sẻ Lời Chúa là các cộng đoàn tạo điều kiện cho giáo dân trở thành Lực lượng thúc đẩy Yêu thương và Phục vụ.
4.5 Xây dựng một tình Liên đới rộng lớn hơn giữa các Giáo hội A châu với nhau và với những người không cùng niềm tin để tăng cường hoạt động của chúng ta nhằm phục vụ người nghèo.
4.6 Cổ vũ và hỗ trợ Gia đình để gia đình chu toàn nhiệm vụ có một không hai của mình dựa trên nền tảng Giáo huấn Xã hội của Giáo hội.
V. KẾT
5.1 Được tăng cường và nuôi dưỡng bởi kinh nghiệm của những ngày vừa qua, chúng tôi trở về với một quyết tâm và sức mạnh mới, sẵn sàng đương đầu với các thách đố của chúng tôi.
5.2 Chúng tôi rất biết ơn Đức Thánh Cha về sứ điệp mà Người đã gửi cho tất cả các tham dự viên Hội nghị chúng tôi. Ngài nói rằng: chúng con chỉ là một thiểu số nhỏ bé tại châu Á “nhưng chỉ cần một chút men cũng đủ làm dậy men cả khối lớn bột… Và một lần nữa, chúng ta được chuẩn bị để sống đời sống Ki-tô hữu với Người, trong xác tín rằng Đức Giêsu là Hy Vọng và là Ơn cứu độ duy nhất của nhân loại” (Xem Tông Thư ‘Novo Millennio Ineunte’, số 29).
5.3 Chúng tôi kết thúc Hội nghị Giáo dân châu Á lần thứ 2 này vào ngày áp Lễ Truyền Tin và nhờ lời cầu bầu của Đức Maria là Mẹ của châu Á, chúng tôi có thể thưa: “Xin Vâng” trước lời mời gọi quyết liệt của Tin Mừng là trở nên nghèo và sống hiệp nhất khi chúng tôi bắt đầu thiên niên kỷ mới.
5.4 Chúng tôi cám ơn Hiệp hội các tổ chức Giáo dân Thái Lan là chủ nhà và là người đồng tổ chức rất đáng mến, về sự tiếp đón ân cần đã dành cho chúng tôi. Chúng tôi cũng cám ơn Văn phòng của Liên Hội đồng Giám mục Á châu về Giáo dân đã qui tụ chúng tôi lại từ khắp các quốc gia châu A.
TÀI LIỆU III:
THƯ CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II GỬI CÁC THAM DỰ VIÊN HỘI NGHỊ GIÁO DÂN Á CHÂU LẦN 2
Với lòng yêu thương trong Chúa, cha chào mừng tất cả các con đã tụ họp tại Trung Tâm Mục Vụ Baan Phu Waan, Samphran để tham dự Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ hai do Liên Hội đồng Giám mục Á châu tổ chức. Cha gửi lời chào thân ái đến Đức Hồng y Michael Michai Kitbunchu, Tổng Giám mục Bangkok, đến các Giám mục, linh mục và nữ tu đồng hành với các con trong Hội nghị này.
Các con tham dự Hội nghị chỉ vài tháng sau ngày năm thánh 2000 bế mạc. Đối với toàn thể Giáo hội, năm thánh 2000 là một thời gian hết sức đặc biệt của ân sủng và lòng từ bi. Một lần nữa, cha cảm tạ Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh về những hồng ân mà Người đã đổ vào tâm hồn của không biết bao nhiêu người trong năm thánh. Và cha cầu xin cho những hồng ân ấy sinh hoa kết trái nhằm canh tân một cách sâu đậm từ bên trong.
Như cha đã ghi nhận trong Tông Thư mới nhất có tựa đề là “Novo Millennio Ineunte” (Bước vào Thiên Niên Kỷ Mới), năm thánh đã thúc đẩy chúng ta nhìn vào Đức Ki-tô, chiêm ngắm Người với một nhiệt tâm mới. Và vì thế chúng ta được chuẩn bị thêm một lần nữa để trân trọng đời sống Ki-tô hữu của chúng ta với Người, biết chắc chắn rằng Đức Giêsu là niềm Hy vọng và là Ơn Cứu độ duy nhất của nhân loại (Xem Novo Millennio Ineunte, số 29).
Diễn ra vào những ngày đầu của thiên niên kỷ thứ III, Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ hai này có một ý nghĩa rất đặc biệt: vì châu Á của các con là lục địa rộng lớn nhất và đông dân nhất hoàn cầu. Châu Á là cái nôi của các tôn giáo lớn và của nhiều nền văn hóa và truyền thống ngàn đời. Hơn nữa châu Á là nơi Đức Giêsu và Giáo hội đã sinh ra. Trong hai ngàn năm trước chúng ta, Tin Mừng đã đến được với nhiều phần đất của lục địa này nhờ vào những nỗ lực truyền giáo không biết mệt mỏi của Giáo hội, và vì thế không bao giờ chúng ta được ngừng ca tụng lòng nhân từ tràn đầy yêu thương của Thiên Chúa.
Nhưng cũng đúng là tại châu Á này còn có không biết bao nhiêu người, nam cũng như nữ, không biết Đức Giêsu và sứ điệp cứu độ của Người. Trong nhiều quốc gia của các con, Ki-tô hữu chỉ là một thiểu số nhỏ bé trong thành phần dân chúng. Sự kiện ấy phải thúc đẩy các con - với lòng nhiệt thành và hân hoan- trở thành “men” mà Đức Giêsu đã nói trong dụ ngôn:”Nước Trời giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men” (Mt 13,33). Thật ra, cũng như chỉ cần một chút men cũng đủ làm cho cả khối bột dậy men, Lời Chúa có khả năng biến đổi toàn thể nhân loại. Hãy nghĩ đến Thánh Tôma Tông Đồ, Thánh Phanxicô Xaviê hay bất kỳ một vị truyền giáo nào, linh mục và giáo dân - một số trong những người đó đã hiến mạng sống mình vì Đức Kitô và vì Giáo hội Người: mặc dù gặp nhiều khó khăn, họ đã loan báo Tin Mừng một cách can trường và đã vạch ra một con đường Loan báo Tin Mừng tại Á châu.
Dĩ nhiên, bất kỳ một nỗ lực truyền giáo mới nào cũng phải bao hàm việc đối thoại một cách cởi mở và chân thành trong yêu thương với các tín hữu của các Cộng đoàn Ki-tô hữu khác và với các tín đồ các tôn giáo khác, bằng cách đón nhận và trân trọng mọi hạt giống Chân, Thiện nơi họ. Nhưng chúng ta phải ghi nhớ trong tâm trí rằng ơn cứu độ được tìm thấy trong sự thật là Đức Giêsu Kitô là “Con Thiên Chúa, là Chúa và là Đấng Cứu độ duy nhất, nhờ biến cố Nhập Thể, nhờ cái chết và sự Phục sinh mà Người đã làm cho lịch sử Cứu độ được sung mãn. Lịch sử đạt tới sung mãn và trung tâm nơi Người” (Tuyên bố Dominus Jesus = Chúa Giêsu, số 13).
Trong ngày năm thánh của Giáo dân tại quảng trường Thánh Phêrô năm ngoái, trong khi mừng kính trọng thể Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, cha đã phân phát bản sao các văn kiện Công đồng Vatican II cho các đại biểu giáo dân đến từ mọi lục địa. Mặc dù đã kết thúc cách đây ba mươi lăm năm, Công đồng Vatican II vẫn còn là một biến cố hết sức đặc biệt đối với Giáo hội mà chúng ta phải mãi mãi tìm về với Công đồng ấy để hiểu được đầy đủ ý nghĩa của các giáo huấn của Công đồng. “Cách riêng, giáo dân các con phải đọc lại các văn kiện ấy. Công đồng đã mở ra cho các con những viễn tượng phi thường để các con dấn thân và hoà mình vào trong sứ mạng của Giáo hội” (Trích bài giảng trong ngày năm thánh của Giáo dân, 26 tháng 11 năm 2000, đoạn 3).
Với lòng nhiệt thành mới các con phải tái khám phá ơn gọi nên thánh của hết mọi Ki-tô hữu là yếu tố nền tảng của sứ điệp mà Công đồng Vatican II đã ban tặng các con (Xem Hiến chế tín lý về Giáo hội ‘Lumen Gentium’, chương 5). Đòi hỏi nên thánh phải là mục tiêu hàng đầu trong chương trình sống đời Ki-tô hữu. Đòi hỏi ấy bắt nguồn từ các Bí tích Khai tâm Kitô giáo. Các con ý thức về thách đố phải sống ơn gọi đặc thù của giáo dân trong Giáo hội và trong thế giới với tinh thần trách nhiệm cao hơn bao giờ hết (Xem ‘Novo Millennio Ineunte’, số 46). Do bản chất, ơn gọi ấy có liên quan với hoàn cảnh của tín hữu Kitô trong thế giới: trong gia đình, xã hội, môi trường làm việc, học hành, bạn bè và giải trí (Xem Tông Huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục về Giáo dân, ‘Christifideles Laici’, số 15). Đối với các tín hữu giáo dân đời sống “thường ngày” trở thành nơi gặp gỡ đặc biệt có sức thánh hóa, với tình yêu của Đức Kitô.
Năm thánh 2000 đã đánh dấu sự khởi đầu của một Mùa Rao giảng Tin Mừng mới là một Công trình đòi hỏi phải có đời sống thánh thiện trọn vẹn nếu muốn thành công. Châu Á cần những người giáo dân thánh thiện! Nhiều hiệp hội, phong trào và tổ chức có tính giáo hội của giáo dân là một bằng chứng hùng hồn về sự tham gia tích cực của giáo dân vào đời sống Giáo hội. Các sáng kiến ấy cần được nhìn nhận và cổ vũ, bao lâu mà các hiệp hội, phong trào và tổ chức ấy sống hiệp thông với Giám mục địa phương và vâng phục những chỉ đạo hợp pháp.
Các con thân mến trong Chúa Kitô, Hội nghị của các con khai mạc vào ngày mà Giáo Hội hân hoan mừng trọng thể Lễ Thánh Giuse, Bạn Đức Trinh Nữ Maria rất thánh. Thiên Chúa đã muốn giao phó sự khởi đầu ơn cứu độ của chúng ta cho Thánh Giu-se là người công chính và đầy lòng tin. Người là gương mẫu thánh thiện cho mọi tín hữu giáo dân. Cha nguyện cầu cùng gia đình Nadarét -gia đình mà Thánh Giuse đã thể hiện sự quan tâm đầy lòng yêu thương dường ấy- xin gia đình ấy chúc lành cho Hội Nghị của các con sinh hoa kết trái dồi dào. Cha thân ái ban phép lành Tòa Thánh cho tất cả các con!
Từ Vatican, ngày 12 tháng 3 năm 2001
Gioan Phaolô II.
TÀI LIỆU IV:
THƯ CỦA ĐỨC HỒNG Y P.X. NGUYỄN VĂN THUẬN, CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG VỀ CÔNG LÝ VÀ HOÀ BÌNH, GỬI HỘI NGHỊ GIÁO DÂN Á CHÂU LẦN 2
Thứ bẩy ngày 3 tháng 3 năm 2001
Trọng kính các Giám Mục,
Anh chị em thân mến,
Tôi xin gửi lời chúc mừng từ Roma đến tất cả các tham dự viên Hội Nghị Giáo Dân Á Châu lần thứ hai!
Tôi thành thực rất lấy làm tiếc là không thể tham dự Hội Nghị của anh chị em về đề tài: “Giáo Dân là một lực lượng thúc đẩy yêu thương và phục vụ trong một Giáo hội đởi mới” được, vì có những chương trình đã ấn định từ trước. Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình không thể làm gì khác hơn là nồng nhiệt cổ vũ anh chị em khi anh chị em tìm kiếm những phương cách mới để phục vụ Giáo Hội và Xã Hội. “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô” (Hiến chế Gaudium et Spes, số 1). Như anh chị em biết rất rõ, hoàn cảnh của Châu Á rất đa dạng: một số anh chị em đã có kinh nghiệm về sự tăng trưởng kinh tế hoặc về sự phát triển nền dân chủ, và hàng triệu người khác phải đau khổ vì đói nghèo, thiên tai hoặc vì các cuộc xung đột tàn phá giữa con người với nhau. Tuy thế, càng ngày càng có nhiều người ý thức hơn về khả năng của người Á Châu có thể thay đổi tình trạng hiện nay. Với tư cách là Kitô hữu, anh chị em muốn “phục vụ gia đình nhân loại, tìm đến với hết mọi người không phân biệt nam nữ, cùng với họ nỗ lực xây dựng một nền văn minh tình thương là nền văn minh đặt nền tảng trên những giá trị phổ quát như hoà bình, công lý, tình liên đới và sự tự do là những gía trị tìm thấy sự viên mãn trong Đức Kitô” như đã được ghi lại trong Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục về Châu Á, Ecclesia in Asia.
Tại nơi làm việc và trong gia đình anh chị em, những nguyên tắc nồng cốt của Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội có thể là sự hướng dẫn bảo đảm để anh chị em sống các gía trị của Tin Mừng. Sự chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo hay “tình yêu ưu tiên đối với người nghèo” là kiểu nói mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã dùng trong Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis đòi hỏi điều này: trong bối cảnh xã hội và kinh tế, người nghèo phải là mối quan tâm hàng đầu và là trung tâm điểm trong suy nghĩ và hành động của chúng ta. Giáo huấn của Giáo Hội xuất phát từ lòng tin vào gía trị nội tại và phẩm giá của con người, đã mời gọi chúng ta thực thi quyền lợi và nghĩa vụ nhằm thiện ích của mọi người. Nếu chúng ta muốn cổ võ sự phát triển toàn diện và đích thực của con người trong hoàn cảnh thực tế của các dân tộc trên thế giới, chúng ta phải có “lòng can đảm của một tình liên đới mới có khả năng tiến hành những bước đi sáng tạo và hữu hiệu để khắc phục tình trạng kém phát triển phi nhân cũng như tình trạng phát triển quá độ có khuynh hướng biến con người thành một đơn vị kinh tế” (Ecclesia in Asia 32). Sau hết nguyên tắc bổ trợ, trên bình diện quốc tế, sẽ cho phép các giải pháp địa phương đối với các vấn đề địa phương, bằng cách chỉ cầu cứu các thế lực lớn hơn khi mà các thế lực nhỏ hơn không có khả năng hành động; còn trên bình diện cộng đồng, có nghĩa là chúng ta cần sự cống hiến của nhiều nhóm khác nhau, tất cả hoạt động trong tình hiệp nhất với nhau. Một số người sẽ đào sâu khả năng phân tích xã hội học hay sẽ dấn thân vào các vấn đề chính trị thực tế. Một số khác sẽ dấn thân trực tiếp vào việc phục vụ người nghèo. Dù chúng ta ở đâu những nỗ lực mang tính giáo dục của chúng ta sẽ góp phần vào việc xây dựng công ích và nâng cao các chuẩn mực đạo đức.
Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho anh chị em và giúp anh chị em trở thành “một lực lượng thúc đẩy yêu thương và phục vụ trong một Giáo Hội đổi mới”
(Ký tên)
Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận,
Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hoà Bình.
TÀI LIỆU V: MỘT SỐ SUY NGHĨ TỪ VĂN BẢN KẾT THÚC CỦA HỘI NGHỊ GIÁO DÂN Á CHÂU LẦN 2 ĐỐI CHIẾU VỚI HOÀN CẢNH GIÁO HỘI & XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
Xuất phát từ văn bản kết thúc cũng như từ nội dung Hội Nghị Giáo Dân Á Châu lần thứ II và đối chiếu với hoàn cảnh xã hội và Giáo Hội Việt Nam hiện nay, tôi xin nên lên một số suy nghĩ sau đây:
1.- Nhu cầu Đào Tạo Giáo Dân
Hội Nghị cũng như các báo cáo quốc gia của các Giáo Hội đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc Đào Tạo Giáo Dân. Vì chưng để hiểu và sống Niềm Tin của mình một cách hiểu biết, dấn thân và trưởng thành, người giáo dân cần được đào tạo có phương pháp, có chương trình và kế hoạch xuyên suốt, từ thấp lên cao. Họ cần được đào tạo nhất là về Kinh Thánh và về Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội.
Việc Đào Tạo giáo dân ở Việt Nam lại càng là vấn đề cấp bách. Vì chưng chúng ta đã sống nhiều năm bị giới hạn trong sinh hoạt tôn giáo. Phụng vụ, nghi lễ thì có lẽ chúng ta không thiếu, nhưng vấn đề đào tạo giáo dân thì nhất định là chúng ta đã không được tự do tổ chức như ý chúng ta muốn và như nhu cầu đòi hỏi. Khách quan mà nói thì đối với Giáo Hội Việt Nam nhu cầu đào tạo nhân sự nói chung và nhu cầu đào tạo giáo dân nói riêng quả là lớn lao và cấp bách. Thế mà dường như chúng ta chưa có được những điều kiện tối thiểu cả từ phía Giáo Hội cả từ phía xã hội.
Từ phía Giáo Hội thì những điều kiện tối thiểu phải có cho việc đào tạo giáo dân là: (1) một ý thức và xác tín về tầm quan trọng và tính cấp bách của việc đào tạo giáo dân nơi các vị lãnh đạo,
(2) một trung tâm, một chương trình, một ê-kíp chuyên đào tạo trong mỗi giáo phận và ở phạm vi quốc gia cho cả nước.
Muốn có được những điễu kiện tối thiểu trên, bản thân Giáo Hội phải nỗ lực rất nhiều và phải biết đầu tư theo cả chiều sâu lẫn chiều dài.
Còn điều kiện tối thiểu từ phía Nhà Nước là sự thay thế những chính sách và biện pháp quản lý tôn giáo vẫn áp dụng từ xưa đến nay bằng những chính sách và biện pháp quản lý cởi mở và tự do hơn để Giáo Hội có thể thực thi những công việc tối cần thiết cho sự phát triển của một Cộng Đồng tôn giáo. Cho đến nay, nếu chính quyền luôn tuyên bố là tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân, thì cũng phải thẳng thắn mà nhìn nhận rằng: trong thực tế, Giáo Hội Công Giáo còn bị rất nhiều giới hạn trong hoạt động và nhất là trong việc thực thi trách nhiệm đào tạo giáo dân của mình. Nếu chúng ta so sánh Giáo Hội Việt Nam với Giáo Hội Thái Lan thì chúng ta thấy rõ sự khác biệt: Giáo Hội Thái Lan chỉ chiếm 0,5% dân số, nhưng có không biết bao trường học, không biết bao cơ sở đào tạo và huấn luyện. Chỉ cần lấy Trung Tâm Mục Vụ Baan Phu Waan, Samphran, thuộc Tổng Giáo Phận Bangkok, một tòa nhà 8 tầng với đầy đủ tiện nghi nằm trên một khu đất rộng mênh mông thì đủ biết Giáo Hội Thái Lan có nhiều thuận lợi như thế nào trong hoạt động của mình giữa lòng một dân tộc Thái sùng Đạo Phật vào bậc nhất thế giới!
2.- Tầm quan trọng của Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội
Nói đến đào tạo giáo dân là phải nói đến nội dung và phương pháp. Về nội dung thì các Giáo Hội Á Châu không chỉ giúp giáo dân học hỏi, chia sẻ và sống Lời Chúa mà còn giúp giáo dân tiếp cận, tìm hiểu về Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội và thực thi giáo huấn ấy trong đời sống cá nhân và cộng đoàn. Chúng ta biết Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội có liên quan mật thiết đến tất cả mọi vấn đề của con ngưới ngày nay: phẩm gía, quyền con người, lao động, chiến tranh, hòa bình, phát triển….Có thể nói Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội là áp dụng những nguyên tắc căn bản của Ki-tô giáo vào những vấn đề xã hội. Kho tàng này rất phong phú, gồm những Thông Điệp nổi tiếng của các Vị Giáo Hoàng: Từ thông điệp Rerum Novarum (1891) của Đức Leo XIII đến thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (1987) của Đức Gio-an Phao-lo II chúng ta có 12 văn kiện quan trọng về các vấn đề có liên quan mật thiết đến cuộc sống con người ngày nay.
Trong các buổi hoặc các Khóa Huấn Luyện giáo dân Việt Nam chúng ta khó mà tìm thấy nội dung Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội. Khách quan chúng ta phải nhìn nhận rằng: các văn kiện Công Đồng cũng như các Thông Điệp của các Giáo Hoàng còn là xa lạ đối với phần đông người Công giáo Việt Nam. Nếu không thể thực hiện được cho đại đa số giáo dân, thì ít nhất chúng ta nên có các khóa chuyên đề dành cho một số thành phần như các bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, giáo sư, giáo viên, lãnh đạo các hội đoàn giáo dân ….
3.- Phương Pháp Đào Tạo Giáo Dân
Còn nói về phương pháp thì hiện nay tại các Trung Tâm và trong các Khóa Huấn Luyện giáo dân của các Giáo Hội tại Châu Á này có một phương pháp rất được ưa chuộng vì nó vừa đơn giản lại vừa hiệu quả. Đó là Phương Pháp Xem-Xét-Làm hay còn được gọi là Chương Trình Amos. Phương pháp này gồm 3 bước như sau:
Thâm Nhập Thực Tế: học viên được tiếp cận với thực tế sống động và phũ phàng của đời thường, khiến người có lòng tin phải băn khoăn, day dứt….
Suy Tư: học viên được giúp tìm tòi, khám phá ra ánh sáng hướng dẫn, giáo huấn định hướng suy nghĩ….. trong kho tàng Thánh Kinh & Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội.
Hành Động: Chương trình huấn luyện về bất cứ chủ đề nào cũng dẫn các học viên tới một hoặc những hành động cụ thể nhằm làm thay đổi cái thực tế còn tiêu cực trên.
Điểm ưu việt của phương pháp này là rất thực tế, đơn giản, giúp người giáo dân nối kết cuộc sống hằng ngày của mình với Lời Chúa.
4.- Tầm quan trọng của các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản, các Cộng đoàn Kitô hữu nhỏ, các Cộng đoàn chia sẻ Lời Chúa trong Giáo hội ngày nay
Trong Văn bản kết thúc ở mục “Những Thách thức”, Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ 2 đã có nhận định như sau về các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản, các Cộng đoàn Kitô hữu nhỏ:
Các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản, các Cộng đoàn Kitô hữu nhỏ cống hiến cho giáo dân phương thế nối kết Đức Tin với đời sống và giúp chúng tôi ý thức về cảnh huống của mình. Trong các Cộng đoàn nhỏ này việc Huấn luyện về Đức Tin và nhất là về Giáo huấn Xã hội của Giáo hội, có thể giúp chúng tôi phát triển một nhận thức về sứ mạng và trở thành một lực lượng thúc đẩy để làm cho người ta trở lại và tạo sự biến đổi trong Giáo hội và Xã hội. “Các Cộng đoàn nhỏ bé này giúp các thành viên sống Tin Mừng trong tinh thần Yêu thương huynh đệ và phục vụ, từ đó trở thành điểm khởi hành vững chắc cho một xã hội mới, biểu hiện nền Văn minh tình thương” (Tông huấn ‘Giáo Hội tại Á Châu’, số 25)
Cũng trong Văn bản kết thúc ở mục “Những Quyết định”, thì một trong 5 quyết định của Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ 2 là: Thành lập các Cộng đoàn chia sẻ Lời Chúa là các cộng đoàn tạo điều kiện cho giáo dân trở thành lực lượng thúc đẩy yêu thương và phục vụ.
Tại Hội nghị không thấy các đại biểu đề cập đến các Hội đoàn mà nhấn mạnh đến các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản, các Cộng đoàn nhỏ, các Cộng đoàn chia sẻ Lời Chúa. Nếu chúng ta hiểu biết đôi chút về đời sống và sinh hoạt của các Giáo hội Á châu khác như An Độ, Pakistan, Philíppin, Thái Lan, Indonesia, Malaysia v.v.. thì chúng ta sẽ thấy rằng trong kế hoạch mục vụ của mình các Giáo Hội ấy đã dành ưu tiên cho việc xây dựng các loại Cộng đoàn nói trên trong các giáo xứ. Kinh nghiệm cho thấy không thể huy động cả một giáo xứ to lớn tham gia vào việc thay đổi môi trường xã hội, vì bao giờ phần đông giáo dân cũng ù lì, chậm chạp và là những người sùng mộ (dévotes); chỉ có một số ít người có khả năng suy nghĩ và hành động theo suy nghĩ đã được soi sáng bởi Lời Chúa và Giáo huấn Xã hội của Giáo hội. Họ là những Kitô hữu biết đấu tranh (militants) cho Trời mới Đất mới.
Ap dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, ước gì các vị lãnh đạo quan tâm đến việc nghiên cứu, tìm hiểu, khuyến khích và xây dựng các Cộng đoàn nói trên trong các giáo xứ. Có nhiều linh mục tỏ ra e ngại khi nghe nói đến các Cộng đoàn cơ bản, các Nhóm chia sẻ Lời Chúa. Chắc chính quyền lại càng e ngại hơn nữa vì cho rằng đó có thể là các nhóm có ý đồ không kiểm soát được….. Lý do e ngại là vì các vị lãnh đạo - trong đạo cũng như ngoài đời - chưa hề được thông tin đầy đủ về các Cộng đoàn ấy mà thôi nên chưa thấy được lợi ích to lớn của các Cộng đoàn ấy!
5.- Tình liên đới giữa các Giáo Hội trong vùng và cùng lục địa
Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ 2 còn nhấn mạnh đến việc xây dựng Tình Liên đới giữa các Giáo hội trong vùng và cùng lục địa: “Xây dựng tình liên đới với các tổ chức của Giáo hội, với giáo dân của các quốc gia khác và với các tổ chức phi chính phủ nhằm phục vụ việc thăng tiến con người”. Điều này thật dễ hiểu. Ngày nay không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà không phải cần tới các quốc gia khác. Cũng thế, một Giáo hội cũng không thể tự mình giải quyết mọi vấn đề mà không dựa vào các Giáo hội chị em khác trong vùng, hoặc trong cùng lục địa hay thuộc lục địa khác. Tình liên đới giữa các Giáo hội trong vùng và cùng lục địa sẽ chỉ đem lại lợi ích tinh thần và vật chất cho cả hai bên mà thôi.
Ap dụng vào trường hợp của Việt Nam, chúng ta thấy có nhiều khó khăn trở ngại khách quan và chủ quan. Khó khăn trở ngại khách quan là cách “can thiệp” của Nhà Nước vào các hoạt động đối ngoại của Giáo hội. Một ví dụ điển hình: vào năm 1972-1973 khi Liên Hội đồng Giám mục Á châu được thành lập thì Hội Đồng Giám Mục Miền Nam Việt Nam đã là thành viên sáng lập của tổ chức này. Sau khi nước Việt Nam thống nhất vào năm 1975 thì đương nhiên Hội đồng Giám mục cũng thống nhất (vì chỉ có thể có một Giáo hội Công giáo Việt Nam mà thôi). Nhưng tư cách là thành viên Liên Hội đồng Giám mục Á châu của Hội đồng Giám mục Việt Nam vẫn chưa được chính quyền chính thức nhìn nhận.
Còn khó khăn trở ngại chủ quan là Giáo hội hay đúng hơn các bậc lãnh đạo Giáo hội chúng ta nghiêng về việc thiết lập mối tương quan với các Giáo hội Tây phương hơn là với các Giáo hội trong vùng hay cùng lục địa. Sự kiện này cũng có lý do vừa lịch sử, vừa tình cảm. Các thừa sai giảng đạo ở Việt Nam là những vị đến từ các nước Au châu. Các Dòng quốc tế cũng đến Việt Nam từ các Giáo hội Au Mỹ. Các linh mục tu sĩ nam nữ du học cũng được gửi đến Pháp, Anh, Đức, Ý, Thụy Sĩ, Hà Lan… Va-ti-can cũng nằm ở Roma thuộc nước Ý… Một khó khăn cản trở khác tuy nhỏ nhưng cũng đáng kể là vấn đề ngôn ngữ: Ngôn ngữ của châu Á là tiếng Anh, chứ không phải tiếng Pháp hay tiếng Đức, tiếng Ý. Mà tiếng Anh thì chưa phải là ngôn ngữ 2 của hàng giáo phẩm và hàng giáo sĩ Việt Nam.
Nếu như một ngày nào đó, giữa Giáo Hội Việt Nam và các Giáo Hội An Độ, Indonesia, Philíppin, Thái Lan, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc có một Tình Liên đới chặt chẽ … thì chắc chắn sẽ có nhiều lợi ích cho cả hai bên. Các Giáo hội có thể giúp nhau về nhiều lãnh vực: huấn luyện đào tạo nhân sự, kinh nghiệm hội nhập văn hoá và đối thoại, hoạt động phục vụ người nghèo, nguồn nhân sự truyền giáo, v.v…
6.- Sự hợp tác của người giáo dân công giáo với những anh chị em cùng hoặc khác niềm tin tôn giáo, với mọi người thành tâm thiện chí
Tông huấn “Giáo Hội tại châu Á” đã vạch ra hướng đi lâu dài là các Giáo hội và giáo dân Á châu phải thiết lập mối quan hệ đối thoại tức trao đổi, chia sẻ… với các nền văn hóa, với các tôn giáo và truyền thống tâm linh, với người nghèo của châu Á, nếu muốn loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Đức Giêsu cho vùng đất Á châu này. Phù hợp với định hướng ấy Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ 2 đã đề ra mục tiêu sau đây: “Khám phá các khả năng hợp tác với các anh chị em có niềm Tin tôn giáo khác để tìm cách đáp trả - bằng yêu thương và phục vụ- các thách đố mà châu Á đang phải đương đầu”.
Mục tiêu của các tôn giáo là cứu độ con người. Cụ thể là thăng tiến phẩm giá con người, là bênh vực công lý và xây dựng hòa bình. Không một tôn giáo nào (đừng nói chi đến một nhóm, một người) có thể làm được công việc vĩ đại ấy. Trái lại mọi người thành tâm thiện chí, không phân biệt tôn giáo, không phân biệt hữu thần hay vô thần…….phải hợp tác chân thành và chặt chẽ với nhau để đầy lùi nghèo đói, bệnh tật, dốt nát, đàn áp bóc lột, tham nhũng, hối lộ…và xây dựng một thế giới văn minh tiến bộ và yêu thương.
Muốn thực hiện được điều ấy, giáo dân Việt Nam chúng ta còn nhiều việc phải làm mà việc quan trọng nhất là gột rửa cái ĐẦU tức thay đổi nhận thức và hiểu biết của chúng ta, đồng thời phải hâm nóng và mở rộng cái TÂM, tức đổi mới cách sống cách đối xử của chúng ta.
THAY LỜI KẾT
Nguyện xin Chúa Giêsu Phục Sinh và Chúa Thánh Thần tuôn đổ hồng ân của Người xuống trên mỗi người và mỗi cộng đoàn chúng ta, nhất là trên các vị lãnh đạo - giáo quyền cũng như chính quyền - để mỗi người, mỗi cộng đoàn và cả xã hội Việt Nam được đổi mới!!!
Nguyễn Văn Nội
(Mùa Phục Sinh 2001)
TÀI LIỆU VI:
MỘT SỐ NHU CẦU QUAN TRỌNG VÀ CẤP BÁCH NHẤTCỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM NGÀY NAY
(Bài thuyết trình của Ô. Nguyễn Văn Nội tại Hoa Kỳ, tháng 7&8.2000)
PHẦN I: VÀO ĐỀ
Ai trong chúng ta cũng biết ít nhiều về thực trạng hiện nay của Giáo hội trong nước. Vì thế tôi không muốn nói lại những điều mà ai nấy đã biết. Tôi cũng không muốn nêu lên các nguyên nhân của thực trạng hiện nay của Giáo hội trong nước: một phần vì tôi không nói thì quí ông bà, anh chị em cũng đã biết; một phần vì vị thế hay tư cách tế nhị của tôi:
(a) tôi chỉ sống một thời gian ngắn ở đây và sẽ trở về Việt Nam và hoạt động cho Giáo hội trong nước
(b) tôi chỉ là một giáo dân không được các Giám mục Việt Nam cử đi Mỹ mà cũng không được các ngài giao một sứ mạng gì khi sang đây. Tôi có mặt ở đất Mỹ là nhờ lòng quí mến thương yêu của cha Phêrô Phan Đình Cho, của cha Gioakim Lê Quang Hiền và của một người anh họ đang sống ở California là những người đã tạo cơ hội và điều kiện cho tôi được đến đây để tham dự Khóa học hỏi về “ĐỨC TIN & HỘI NHẬP VĂN HÓA” này của Viện Triết Đạo. Việc tham dự khóa học hỏi và chuyến đi Mỹ này sẽ giúp tôi có thêm hành trang (vì “đi một ngày đàng học một sàng khôn”) để phục vụ Giáo hội Việt Nam một cách tích cực và hữu hiệu hơn.
Vì thế tôi muốn chia sẻ với quí ông bà và anh chị em về MỘT SỐ NHU CẦU QUAN TRỌNG VÀ CẤP BÁCH CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM NGÀY NAY theo cách nhìn và đánh giá vấn đề của một người giáo dân sống trong nước, đã và đang hoạt động tích cực để góp phần vào việc xây dựng Giáo hội ấy.
Sau 46 năm đối với Miền Bắc và 25 năm đối với Miền Nam sống dưới chế độ Cộng sản, có thể nói ngày nay các vị lãnh đạo Giáo hội, đã thấy rõ các nhu cầu của Giáo hội và cũng thấy có nhiều điều kiện hơn những năm trước để thực hiện một số việc thuộc trách nhiệm của mình. Nếu như các vị lãnh đạo Giáo hội Việt Nam có đủ sáng suốt khôn ngoan để nắm bắt thời cơ và có đủ can đảm để mạnh dạn thực hiện những điều mình thấy cần phải làm, thì chúng ta có thể lạc quan nhìn về tương lai.
Nhưng đâu là những nhu cầu quan trọng và cấp bách nhất của Giáo hội Việt Nam ngày nay? Nhu cầu thì chắc chắn là có nhiều, thậm chí có thể là rất nhiều. Nhưng chúng ta nên chú tâm vào những nhu cầu quan trọng và cấp bách thôi. Giải quyết được những nhu cầu quan trọng và cấp bách này, thì các nhu cầu khác sẽ nhờ đó mà được giải quyết. Theo sự đánh giá chủ quan của tôi thì hiện nay Giáo hội Việt Nam có năm nhu cầu quan trọng và cấp bách sau đây:
1)- Huấn luyện đào tạo nhân sự, nhất là giáo dân,
2)- Hội nhập Giáo hội vùng,
3)- Tổ chức và thiết lập các cơ chế cần thiết cho đời sống và hoạt động của Giáo hội,
4)- Trẻ hóa hàng ngũ lãnh đạo và đổi mới cung cách lãnh đạo,
5)- Hội nhập văn hóa và đối thoại với các tôn giáo bạn.
PHẦN II: NĂM NHU CẦU QUAN TRỌNG & CẤP BÁCH CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM NGÀY NAY
1. Nhu cầu huấn luyện đào tạo nhân sự, nhất là giáo dân
Nhu cầu quan trọng và cấp bách nhất của Giáo hội Việt Nam hiện nay là nhu cầu huấn luyện đào tạo nhân sự, giáo sĩ cũng như giáo dân, nhưng nhất là giáo dân. Công đồng Vatican II (1962-1965) là một biến cố vô cùng quan trọng đối với Giáo hội Công Giáo toàn cầu cũng như đối với từng Giáo hội địa phương. Riêng với Giáo hội Việt Nam thì các Giám mục miền Bắc đã không tham dự Công đồng Vatican II, nên có thể nói là Giáo hội Miền Bắc chỉ biết rất ít về Công đồng Vatican II. Còn các Giám mục miền Nam có may mắn là đã được tham dự Công đồng Vatican II, nhưng chỉ 10 năm sau Công đồng thì Giáo hội miền Nam cũng sống dưới chế độ Cộng sản như Giáo hội miền Bắc, nên phần lớn các nỗ lực áp dụng Công đồng vào đời sống Giáo hội đều bị ngừng lại. Hơn nữa trong hơn hai mươi năm qua Giáo hội có rất ít điều kiện để huấn luyện đào tạo nhân sự giáo dân. Do đó việc đào tào nhân sự là một nhu cầu vô cùng quan trọng và cấp bách đối với hiện tại và tương lai của Giáo hội Việt Nam.
Trong lãnh vực này, Giáo hội Việt Nam có rất nhiều việc phải làm. Cho đến nay dường như các vị lãnh đạo Giáo hội chỉ mới quan tâm đến việc đào tạo linh mục và tu sĩ. Trong nước hiện đã có được sáu đại chủng viện: Hà Nội, Vinh, Huế, Nha Trang, Sài gòn, Cần Thơ và hy vọng nay mai sẽ có thêm một đại chủng viện nữa tại Xuân Lộc để huấn luyện đào tạo các giáo sĩ. Còn đối với hàng ngũ đông đảo giáo dân thì Giáo hội mới chỉ có các chương trình giáo lý rước lễ, thêm sức, bao đồng (rước lễ trọng thể), chuẩn bị hôn nhân và tân tòng. Nhưng ngay trong lãnh vực căn bản này thì cũng mỗi nơi mỗi khác. Trên phạm vi toàn quốc hay phạm vi tổng giáo phận, chưa có các ủy ban, các trung tâm, các chương trình đào tạo nâng cao chứ đừng nói gì đến chương trình thần học giáo dân.
Ngày nay trong một số giáo phận, vấn đề huấn luyện đào tạo giáo dân mới được đặt ra thì gặp phải đủ thứ khó khăn: Ngoài khó khăn về phía chính quyền, còn có những khó khăn khác như thiếu người chuyên môn, thiếu chương trình đào tạo, thiếu cơ sở vật chất và tài chánh (1).
2. Nhu cầu hội nhập Giáo hội vùng
Nhu cầu quan trọng và cấp bách thứ hai của Giáo hội Việt Nam hiện nay là việc hội nhập vùng Đông Nam Á & châu Á. Không phải tất cả mọi linh mục, giám mục đều thấy được tầm quan trọng của nhu cầu này. Nhưng đó là một nhu cầu có thật và theo chúng tôi thì đây là một cơ may lớn cho Giáo hội Việt Nam: Nếu Giáo hội Việt Nam có hội nhập vùng thì mới thoát ra khỏi tình trạng trì trệ và khép kín hiện nay của mình và để canh tân theo tinh thần của Công đồng Vatican II, của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu và của Tông huấn “Giáo hội tại châu Á”.
Mọi người đều biết: Hội đồng Giám mục Việt Nam là thành viên sáng lập của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC: The Federation of Asian Bishops’ Conferences). Nhưng từ ngày 30.4.1975 cho đến thời gian mới đây, Hội đồng Giám mục và Giáo hội Việt Nam rất ít liên lạc với Liên Hội đồng Giám mục Á châu và với các Giáo hội khác trong vùng. Hội đồng Giám mục & Giáo hội Việt Nam hướng về Roma, Paris nhiều hơn…vì có mối liên hệ tình cảm nặng hơn với các Giáo hội Au châu này và vì tư cách thành viên Liên Hội đồng Giám mục Á châu của Hội đồng Giám mục Việt Nam không được chính quyền nhìn nhận cách chính thức. Có thể trong tương lai Giáo hội Việt Nam sẽ có thêm mối quan hệ chặt chẽ với Giáo hội Công giáo Hoa Kỳ, vì số người công giáo Việt Nam ở Mỹ rất đông và vì Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ vừa thực hiện một chuyến viếng thăm chính thức Giáo hội Việt Nam hồi tháng 8 năm 1999. Và rất có thể trong tương lai không xa, thì đại diện Giáo hội Việt Nam cũng sang thăm chính thức Giáo hội Hoa Kỳ.
Nhưng dù Giáo hội Việt Nam có duy trì và phát triển mối quan hệ với các Giáo hội Au Mỹ thì theo tôi Giáo hội Việt Nam vẫn không thể coi nhẹ việc hội nhập vùng và tạo quan hệ chặt chẽ với các Giáo hội Á châu chung quanh. Vì về mặt kinh tế tài chánh cũng như chính trị và tôn giáo thì “tính cách vùng” càng ngày càng trở nên quan trọng.
Việc Giáo hội Việt Nam hội nhập vùng có nhiều lợi ích đáng kể:
1) Giáo hội Việt Nam có nhiều cơ may mang mầu sắc Á Đông hơn. Giáo hội chúng ta vẫn mang dáng dấp của một Giáo hội Tây phương, và việc hội nhập văn hoá mới chỉ ở giai đoạn đầu, còn rất phôi thai. Nếu Giáo hội Việt Nam cứ tiếp tục cóp-pi những mô hình Tây phương thì Giáo hội Việt Nam sẽ mãi mãi mang tính ngoại lai, xa lạ… đối với đại đa số người Việt.
2) Giáo hội Việt Nam sẽ tận dụng được những kinh nghiệm thực thi Công đồng của nhiều Giáo hội Á châu khác và đóng góp phần đặc thù của mình. Trong ba thập niên vừa qua, Liên Hội đồng Giám mục Á châu và các Giáo hội Á châu nhất là An Độ, Phi-lip-pin, Đại Hàn, Đài Loan, Nhật Bản, Thái Lan… đã thực hiện một bước dài trong việc áp dụng giáo huấn và tinh thần Công đồng vào đời sống và cơ cấu Giáo hội. Tiếp xúc nhiều với Liên Hội đồng Giám mục Á châu và với các Giáo hội này, Hội đồng Giám mục và Giáo hội Việt Nam sẽ học được những kinh nghiệm phong phú và quí báu của các Giáo hội bạn.
Mặt khác, Giáo hội Việt Nam sau bao nhiêu năm sống kiên cường dưới các cuộc bách hại và những khó khăn thử thách khôn lường, có thể đóng góp với các Giáo hội trong vùng cũng như với Giáo hội toàn cầu, những kinh nghiệm “xương máu” của riêng mình, làm phong phú cho đời sống Giáo hội Chúa Kitô trên trần thế này.
3. Nhu cầu tổ chức và thiết lập các cơ chế cần thiết cho đời sống và hoạt động của Giáo hội
Nhu cầu quan trọng và cấp bách thứ ba của Giáo hội Việt Nam là việc tổ chức (hay tái tổ chức hay hoàn chỉnh tổ chức) và thiết lập các cơ chế cần thiết cho đời sống và hoạt động của Giáo hội. Về mặt tổ chức các giáo xứ, các hội đoàn, các trung tâm huấn luyện giáo dân, các hội đồng linh mục, hội đồng mục vụ giáo xứ và giáo phận, các văn phòng Toà Giám mục, các ủy ban của Hội đồng Giám mục và Văn phòng Hội đồng Giám mục Việt Nam, chúng ta còn vô số việc phải làm. Các hội đồng linh mục giáo phận, các hội đồng mục vụ giáo phận và giáo xứ cần được qui định bằng các qui chế rõ ràng, cởi mở, tiến bộ và thống nhất. Các ủy ban của Hội đồng Giám mục cũng thế. Thậm chí hiện nay Hội đồng Giám mục Việt Nam chưa có một văn phòng đúng nghĩa tức là có nhân viên thường trực, có các ủy ban chuyên trách…
Đối với chính quyền, hiện nay chỉ có vài hội đoàn có quyền hiện hữu và hoạt động. Công việc cần làm là làm cho các tất cả các đoàn thể mà chúng ta quen gọi là Hội đoàn Công giáo tiến hành có quyền hoạt động một cách chính thức, công khai, hợp pháp.
Song song với công việc hợp thức hóa về mặt pháp lý ấy, có một công việc khác là Giáo hội Việt Nam cần “duyệt lại” nội qui và xem xét lại cách hoạt động của mỗi hội đoàn, sao cho phù hợp với tinh thần của Công đồng Vatican II, của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu và Tông huấn “Giáo hội tại châu Á” cũng như phù hợp với hoàn cảnh thực tế của Việt Nam.
Các trung tâm đào tạo huấn luyện giáo dân cũng cần được tổ chức kịp thời. Hiện nay một vài giáo phận đã thiết lập trung tâm mục vụ giáo phận (như tại Bình Dương thuộc giáo phận Phú Cường) nhưng các trung tâm này chưa có chương trình và nhân sự tương xứng.
4. Nhu cầu trẻ hoá hàng ngũ lãnh đạo và đổi mới cung cách lãnh đạo
Giáo hội Việt Nam rất cần có một thế hệ Giám mục trẻ, tuổi từ 40 đến 50, hoặc trẻ hơn nữa để đưa Giáo hội bước vào thế kỷ XXI.
Nhu cầu trẻ hóa hàng giáo phẩm là hiển nhiên không ai chối cãi được. Nhưng để thực hiện được việc này Giáo hội gặp phải hai trở ngại lớn, một từ trong chính nội bộ mình, một từ bên ngoài. Trở ngại từ trong nội bộ Giáo hội là tinh thần cục bộ, là óc địa phương chật hẹp, là sự phân hóa ngấm ngầm trong hàng ngũ linh mục. Trở ngại từ bên ngoài là “cách đối xử” của Nhà Nước trong việc Giáo hội bổ nhiệm các Giám mục cũng như trong nhiều hoạt động khác của Giáo hội. Một điều mà nhiều người mong ước là làm sao mối quan hệ ngoại giao giữa Vatican và Việt Nam chóng được chính thức thiết lập. Theo tôi nghĩ mối quan hệ ấy sẽ tác động tích cực vào mối tương quan Nhà nước- Giáo hội và đóng góp vào việc canh tân Giáo hội Việt Nam.
Nhưng song song với nhu cầu trẻ hóa Hàng Giáo phẩm ấy, còn có một nhu cầu khác cũng rất quan trọng và cấp bách không kém: đó là nhu cầu đổi mới cung cách lãnh đạo và cách làm việc của các Giám mục và của Hội đồng Giám mục Việt Nam.
5. Nhu cầu hội nhập văn hoá và đối thoại với các tôn giáo bạn, với người nghèo và với các cộng đồng xã hội
Giáo hội Việt Nam - từ ngôi thánh đường, ảnh tượng cho đến cử chỉ lễ bái- vẫn mang dáng dấp của một Giáo hội Tây phương được nhập cảng vào mảnh đất Việt Nam. Trong lịch sử truyền giáo đã có thời nền văn hóa địa phương không được coi trọng, thậm chí bị khinh miệt. Có lẽ vì thế mà Kitô giáo chưa thuyết phục, chưa thu hút được đại chúng Việt Nam. Nhu cầu hội nhập văn hóa được Thượng Hội đồng Giám mục Á châu - trong đó có nhiều Giám mục Việt Nam- nêu lên nhu một nhu cầu quan trọng và cấp bách cho các Giáo hội Á châu nói chung và cho Giáo hội Việt Nam nói riêng. Nay là lúc Giáo hội Việt Nam phải tìm mọi cách thực hiện những xác tín và tuyên bố của mình.
Song song với vấn đề hội nhập văn hoá là vấn đề đối thoại với các tôn giáo bạn (2). Trên mảnh đất Việt Nam, đạo ông bà với sự thờ cúng tồ tiên vừa là nền tảng của nền văn hóa Việt Nam, vừa là một tôn giáo tự nhiên, rất thuận lợi cho việc tiếp nhận Kitô giáo. Mặt khác ở Việt Nam cũng như Á châu, Kitô giáo chỉ là một thiểu số giữa các tôn giáo khác, đông đảo tín đồ hơn nhiều. Vì thế, muốn phúc âm hóa thì phải quan tâm đến việc đối thoại với các tôn giáo ấy. Công đồng Vatican II trong Nostra Aetate nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc đối thoại giữa các tôn giáo trên thế giới. Thông điệp Redemptoris Missio chủ trương cần phải biểu lộ tình thương trước đã, rồi mới giới thiệu chân lý sau. Để việc đối thoại với các tôn giáo khác thành công, trước tiên Giáo hội phải thành công trong việc đối thoại nội bộ đã. Đối thoại nội bộ không thành công, làm sao thành công trong việc đối thoại với bên ngoài. Muốn đối thoại với các tôn giáo bạn, thì trước hết Giáo hội phải thay đổi não trạng của chính mình về các tôn giáo và phải sửa đổi những lời kinh, kiểu nói bộc lộ sự khinh miệt (3), không phù hợp với tinh thần Phúc âm và với giáo huấn của Công đồng Vatican II.
Trước khi đối thoại với các tôn giáo khác về mầu nhiệm Thiên Chúa và những vấn đề lý thuyết, hãy đối thoại với họ về việc làm đã, chẳng hạn về những việc làm nhằm phục vụ con người, xây dựng xã hội, đất nước, và thế giới, cùng lo cho thiện ích chung của tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo, ý thức hệ, giàu nghèo…
Theo tông huấn «Đối thoại và Loan Báo» thì đối thoại hay gặp gỡ đã là loan báo Tin Mừng rồi. Vì thế, cần phải tạo nên những dịp gặp gỡ, trao đổi trong bầu khí huynh đệ, thông cảm giữa các tôn giáo. Thượng Hội đồng Giám mục Á châu này đưa ra 4 mẫu đối thoại:
* đối thoại bằng cuộc sống: chẳng hạn gặp nhau trong các dịp lễ hội của nhau.
* đối thoại bằng việc làm: chẳng hạn các tôn giáo hợp tác với nhau trong những lãnh vực giáo dục, văn hóa, y tế, xã hội v.v…
* đối thoại bằng trao đổi kinh nghiệm tâm linh: mỗi bên nói những gì mình thực nghiệm được về tâm linh, kinh nghiệm được về mầu nhiệm thần linh.
* đối thoại về lý thuyết, thần học: dễ gây ra tranh cãi, chẳng ai chịu ai, vì bên nào cũng thấy mình có lý, không ai nhận lý của người khác.
Cũng không thể không nói đến vấn đề đối thoại với người nghèo. Đại đa số dân chúng Việt Nam còn đang sống trong cảnh nghèo đói, túng thiếu: cơm không đủ ăn, áo quần không đủ ấm, nhiều người không công ăn việc làm, không nhà cửa, thiếu điều kiện học hành… Giáo hội Việt Nam cần gắn liền lời rao giảng của mình với những hành động thực tế nhằm thay đổi điều kiện sống của đại đa số dân chúng. Có như thế thì Giáo hội Công giáo mới là một “cộng đoàn khả tín” đối với người dân bình thường. Nếu Giáo hội Việt Nam mạnh dạn dấn thân theo “chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo” thì Giáo hội sẽ thực hiện điều mà Công đồng Vatican II long trọng tuyên bố trong phần mở đầu của Hiến chế mục vụ “Vui Mừng và Hy Vọng” :
“ Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ”
Cuối cùng Giáo hội Việt Nam còn có trách nhiệm đối thoại với các cộng đồng xã hội sống chung quanh trên cùng một mảnh đất cha ông tổ tiên để lại, bất phân biệt mầu da chủng tộc, tôn giáo, khuynh hướng chính trị. Có đối thoại mới hiểu nhau và giúp nhau thăng tiến.
PHẦN III: NGƯỜI CÔNG GIÁO VIỆT NAM HẢI NGOẠI CÓ THỂ ĐÓNG GÓP GÌ CHO GIÁO HỘI VIỆT NAM?
Chỉ những người Công giáo Việt Nam hải ngoại nhất là các linh mục, tu sĩ và giới trí thức, mới trả lời được câu hỏi trên. Nhưng chắc quí vị cho phép tôi được nói ra những suy nghĩ và gợi ý của mình. Nói chung- theo tôi- thì người Công giáo Việt Nam hải ngoại nên ưu tiên hỗ trợ cách này cách khác để Giáo hội Việt Nam đáp ứng kịp thời năm nhu cầu quan trọng và cấp bách vừa được trình bày ở trên.
Cho đến nay khắp nước từ Nam ra Bắc nhiều nhà thờ đã được xây dựng lại hay xây mới, nhiều tu viện đã được sửa sang, mở rộng. Chắc chắn người Công giáo Việt Nam hải ngoại đã đóng góp rất nhiều tiền bạc vào các công trình xây dựng ấy. Nhưng tôi nghĩ rằng bên cạnh nhu cầu xây dựng thánh đường và cơ sở vật chất, Giáo hội Việt Nam có một nhu cầu khác cũng quan trọng và cấp bách không kém là xây dựng, đào tạo con người. Người Công giáo Việt Nam hải ngoại có thể đóng góp rất nhiều vào lãnh vực này của Giáo hội Việt Nam, vì người Công giáo Việt Nam hải ngoại vừa giầu kiến thức hiểu biết vừa giầu tiền bạc và phương tiện. Người Công giáo Việt Nam hải ngoại có thể hỗ trợ Giáo hội trong nước bằng cách ưu tiên tài trợ cho các nhóm làm việc nghiên cứu, cho các chương trình dài hạn và cho các trung tâm huấn luyện đào tạo nhân sự, nhất là giáo dân cho Giáo hội trong nước. Người Công giáo Việt Nam hải ngoại có thể hỗ trợ Giáo hội trong nước bằng cách ưu tiên tài trợ cho việc cung cấp sách vở tài liệu và kinh nghiệm đổi mới đời sống Giáo hội, bình đẳng hóa các mối tương quan và dân chủ hóa các cơ chế Giáo hội. Như mọi người đều biết có những việc ở trong nước Giáo hội, vì nhiều lý do khác nhau, muốn làm mà không hoặc chưa làm được. Ước gì người Công giáo Việt Nam hải ngoại quan tâm đến việc tìm xem cộng đồng mình ở hải ngoại có thể làm được gì “cho” Giáo Hội trong nước. Tôi dám nói là người Công giáo Việt Nam hải ngoại có thể và nên “làm thay cho” Giáo hội trong nước” trong một số công việc và lãnh vực. Ví dụ: dịch và in những tác phẩm có gía trị về thần học, thánh kinh, tu đức. Một ví dụ khác Viện Triết Đạo này do cha Phêrô Phan Đình Cho và một số linh mục và anh em trí thức tổ chức ở đây, ngoài
Vào khoảng thời gian 1988 -1994, đáp lại nguyện vọng học hỏi và đào sâu giáo lý của giáo dân, Khóa giáo lý trung cấp đã được tổ chức tại nhà xứ chánh tòa Sàigòn. Sau đó, những Linh mục và giáo dân hằng quan tâm đến nhu cầu đào tạo nhân sự cho Giáo hội mong mõi được thấy nhiều khóa huấn luyện được tổ chức, nhất là cho một thành phần giáo dân nòng cốt như cán bộ tông đồ giáo dân, giáo dân phụ trách các hội đoàn, anh chị em trí thức.
Thật là một tin vui khi biết rằng trong tháng 6 vừa qua, một số anh chị em giáo dân đã đặt vấn đề này với các linh mục Dòng Đa Minh Việt Nam và một “Chương trình Bồi dưỡng Giáo Lý cho người trưởng thành” cũng đã được quyết định. Niềm vui của tôi còn lớn hơn khi tôi được mời phục vụ một phần trong chương trình này và được phân công trình bày về Giáo Dân.
Sau đây là các đề tài về Giáo dân mà tôi đề nghị cho Khóa đầu của Chương trình giáo lý cho người trưởng thành:
1.- Từ “Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ 2 tại Thái Lan” đến việc đào tạo giáo dân trưởng thành tại Việt Nam”.
2.- Công Đồng Vatican II là Lễ Hiện xuống mới đối với Giáo hội thế kỷ XX và các thế kỷ sau.
3.- Từ Giáo hội là “Mầu nhiệm Hiệp thông”, là “Cộng đoàn Dân Chúa” đến “Giáo hội là Cộng đoàn mà trong đó mọi người có phần và phải góp phần (Participa-tory Church)”.
4.- Từ “Giáo hội phục vụ thăng tiến con người” đến “Giáo hội làm chứng”.
5.- Kitô hữu là con Thiên Chúa, là môn đệ của Đức Giêsu và là cộng tác viên của Chúa Thánh Thần.
6.- Các Bí Tích Thánh Tẩy, Thêm Sức, Thánh Thể, Thống Hối-Giải Hòa và Hôn Phối trong đời sống giáo dân.
7.- Ơn gọi và sứ mạng của giáo dân trong Giáo hội và trong thế giới hôm nay.
Để giúp các học viên dễ dàng nắm bắt nội dung đề tài cũng như có điều kiện để trao đổi, thảo luận, chia sẻ trong nhóm nhỏ và mở rộng tầm nhìn về các vấn đề, tôi sẽ trình bày các đế tài theo bố cục dưới đây:
* Mục đích yêu cầu,
* Tiếp cận vấn đề,
* Học hỏi Giáo lý, Thánh Kinh, Công Đồng,
* Thảo luận và ứng dụng,
* Tài liệu tham khảo.
Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho công việc của chúng con, người học cũng như kẻ phục vụ!
Sàigòn ngày 27 tháng 07 năm 2001
ĐỀ TÀI 1
TỪ “HỘI NGHỊ GIÁO DÂN Á CHÂU LẦN 2 TẠI THÁI LAN” ĐẾN “VIỆC ĐÀO TẠO GIÁO DÂN TRƯỞNG THÀNH TẠI VIỆT NAM”
A. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
Giúp học viên ý thức tầm quan trọng của việc bồi dưỡng về Giáo lý, Thánh Kinh, Thần học để có đủ nghị lực và quyết tâm theo học “Chương trình Giáo Lý cho người trưởng thành ” đến cùng.
B. TIẾP CẬN VẤN ĐỀ
I. PHẦN THAM GIA CỦA HỌC VIÊN:
Xin anh chị hãy cho biết (viết ra giấy rồi chia sẻ trong nhóm nhỏ):
1. Tại sao anh chị ghi tên theo học Khóa Giáo lý này? Trong đời sống Đạo anh chị có nhu cầu gì?
2. Anh chị trông đợi gì ở Khóa này?
3. Anh chị có đề nghị gì với các giảng viên, với ban tổ chức là những người hướng dẫn, giúp đỡ và phục vụ anh chị?
4. Anh chị quyết tâm và cam kết gì (với chính mình, với các bạn, với Chúa)?
II. PHẦN CHIA SẺ CỦA HƯỚNG DẪN VIÊN:
2.1 Hội nghị Giáo dân Á Châu lần thứ 2 được Văn Phòng Giáo Dân của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) và Uy Ban Giám Mục về Giáo dân của Hội Đồng Giám Mục Thái Lan phối hợp tổ chức tại Trung Tâm Mục Vụ Ban Phu Waan, Samphran, Bangkok, Thái Lan từ ngày 19 đến hết ngày 24.3.2001 vừa qua. Hội nghị qui tụ 68 đại biểu gồm 9 giám mục, 9 linh mục, 2 nữ tu, 19 nam giáo dân và 29 nữ giáo dân của 15 quốc gia A Châu là An độ, Nêpan, Bangadesh, Pakistan và Sri-Lanca (Vùng Nam A), Indonesia, Malaya, Philippines, Thái Lan, Việt Nam (Vùng Đông Nam A) và Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc (Vùng Đông Á) và Uzbekhistan. Các nước Mynanmar, Lào, Cambodia, Trung Hoa, Bắc Triều Tiên và các nước vùng Trung Á không có đại biểu.
2.2 Chủ đề của Hội nghị là:
“Giáo Dân là sức mạnh thúc đẩy yêu thương và phục vụ trong một Giáo hội đổi mới”.
2.3 Mục tiêu của Hội nghị là:
1) Phát huy tiềm năng của gia đình và của giáo dân để gia đình và giáo dân trở thành một lực lượng thúc đẩy yêu thương và phục vụ, làm chứng cho các gía trị Tin Mừng.
2) Khám phá các khả năng hợp tác với các anh chị em có Niềm Tin tôn giáo khác để tìm cách đáp trả - bằng yêu thương và phục vụ- các thách thức mà Châu Á đang phải đương đầu.
3) Xây dựng tình liên đới với các tổ chức của Giáo Hội, với giáo dân của các quốc gia khác và với các tổ chức phi chính phủ nhằm phục vụ việc thăng tiến con người.
2.4 Hội nghị xử dụng một phương pháp làm việc “độc đáo”:
Là sau khi đã được định hướng thì tiến trình của Hội nghị là bắt đầu từ THỰC TẾ CUỘC SỐNG đến SUY TƯ & TÌM HIỂU (Thánh Kinh, Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội) để kết thành CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG CỤ THỂ. Phương pháp ấy được tóm gọn như sau: Định hướng> Thâm nhập thực tế> Suy tư> Hành động.
2.5 Hội nghị đã đưa ra 6 quyết định sau đây:
1) Nhấn mạnh việc Huấn Luyện giáo dân một cách có hệ thống và xuyên suốt hơn, nhằm giúp giáo dân hiểu biết căn tính và vai trò của mình, hiểu biết Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội bằng những phương tiện đơn giản và liên tục.
2) Sử dụng tiến trình: [Thâm Nhập Thực Tế > Suy Tư > Hành Động] mà chúng tôi đã thấy rất hữu ích trong việc đào tạo giáo dân.
3) Dấn thân hoạt động với các Giáo Hội địa phương để thực thi Chương trình Hành động trong quốc gia của mình.
4) Thành lập các Cộng đoàn Chia sẻ Lời Chúa là các cộng đoàn tạo điều kiện cho giáo dân trở thành Lực lượng thúc đẩy Yêu thương và Phục vụ.
5) Xây dựng một tình Liên đới rộng lớn hơn giữa các Giáo hội A châu với nhau và với những người không cùng niềm tin để tăng cường hoạt động nhằm phục vụ người nghèo.
6) Cổ vũ và hỗ trợ Gia đình để gia đình chu toàn nhiệm vụ có một không hai của mình dựa trên nền tảng Giáo huấn Xã hội của Giáo hội.
Nhìn vào chủ đề, mục tiêu, phương pháp làm việc và quyết định của Hội nghị, chúng ta có thể nói: Hội nghị Giáo dân châu Á lần 2 chẳng những là hội nghị của những giáo dân đích thực và trưởng thành mà còn nhắm mục tiêu tạo nên một đội ngũ giáo dân đích thực và trưởng thành cho các Giáo hội Á châu. Anh chị có đồng ý thế không? Theo anh chị, thế nào là giáo dân đích thực? thế nào là giáo dân trưởng thành? Giáo hội Việt Nam chúng ta đã có hàng giáo dân đích thực và trưởng thành ấy chưa? Làm thế nào để Giáo hội Việt Nam chóng có hàng ngũ đông đảo giáo dân đích thực và trưởng thành?
C. HỌC HỎI THÁNH KINH & CÔNG ĐỒNG
I. NỀN TẢNG THÁNH KINH
“Còn Đức Giêsu thì ngày càng khôn lớn, và được Thiên Chúa cũng như mọi người thương mến” (Lc 2,52).
Từ câu Thánh Kinh trên, các nhà chú giải ghi nhận:
* “Đức Giêsu ngày càng khôn lớn” có nghĩa là Ngài phát triển về thân xác và về sự khôn ngoan theo tuổi tác năm tháng.
* “Được Thiên Chúa yêu thương” có nghĩa là Ngài phát triển trong đời sống ân sủng, trong mối quan hệ thân mật với Thiên Chúa Cha,
* “Được mọi người thương mến” có nghĩa là Ngài phát triển về các quan hệ mối xã hội, Ngài sống hài hòa và gần gũi với mọi người.
Đó là những tiêu chuẩn mẫu mực chúng ta phải noi theo để phát triển và trưởng thành trong đời sống nhân bản và tâm linh của chúng ta. Chúng ta không thấy Thánh Kinh nêu lên khía cạnh trí thức của Đức Giêsu. Trí thức là một yếu tố rất quan trọng nhưng không tối cần thiết cho đời sống của Chúa là Đấng Mêsia.
II. GIÁO HUẤN CỦA CÔNG ĐỒNG
“Giáo Hội chưa được thiết lập thực sự, cũng chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Kitô giữa loài người, nếu như chưa có hàng giáo dân đích thực và nếu hàng giáo dân này chưa cùng làm việc với hàng giáo phẩm. Thật vậy, Phúc Am không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân.
Do đó, ngay khi thiết lập, Giáo Hội phải hết sức chú tâm đến việc đào tạo một hàng giáo dân Kitô giáo trưởng thành”
(Sắc lệnh Truyền Giáo, số 21)
III. VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO GIÁO DÂN ĐÍCH THỰC HAY TRƯỞNG THÀNH THEO TÔNG HUẤN NGƯỜI KI-TÔ HỮU GIÁO DÂN (CHRISTIFIDELES LAICI)
3.1 Thế nào là giáo dân đích thực hay trưởng thành?
* Chúng ta không cần đi sâu vào việc tìm ra một định nghĩa đầy đủ về người giáo dân đích thực hay trưởng thành. Chỉ cần chúng ta dựa vào cách suy nghĩ thông thường và phổ biến của mọi người để hiểu thế nào là người giáo dân đích thực hay trưởng thành.
* Hiểu một cách đơn giản, người giáo dân đích thực là người giáo dân sống đạo thật sự, chứ không chỉ sống đạo một cách hời hợt hình thức, càng không phải là người chỉ có cái tên là người có đạo. Tương tự như thế, người giáo dân trưởng thành là người giáo dân có sự hiểu biết tương đối về Đạo, có suy nghĩ chín chắn, có ý thức rõ rệt về vai trò chức năng ơn gọi của mình và tự mình có dấn thân cụ thể trong đời sống Đức Tin.
* Trong đoạn văn trích dẫn từ Sắc Lệnh Truyền Giáo ở trên, các Nghị phụ Công Đồng đưa ra một tính chất khác xác định tính “đích thực hay trưởng thành”. Đó là hàng giáo dân ấy phải có khả năng và điều kiện để cùng làm việc với hàng Giáo Phẩm. Cùng làm việc với hàng Giáo Phẩm thì rõ ràng không phải chỉ là làm việc dưới sự lãnh đạo, chỉ huy hay điều khiển của hàng Giáo Phẩm, mà là cùng suy nghĩ và hành động với các chủ chăn để thực thi sứ mạng mà Chúa Giê-su trao phó cho toàn Giáo hội.
3.2 Để Giáo hội có hàng giáo dân đích thực hay trưởng thành:
Cha ông ta có câu:” Không thầy đố mày làm nên.” Còn người La Mã xưa có châm ngôn:”Không ai cho cái mình không có” (Nemo dat quod non habet). Cả hai châm ngôn trên đều nói lên tầm quan trọng của việc học hỏi, rèn luyện. Ap dụng vào trường hợp người giáo dân, chúng ta có thể nói: Muốn hiểu biết về Ơn gọi và Sứ mạng của mình trong Giáo hội và trong thế giới và muốn biết cách chu toàn Ơn gọi và Sứ mạng ấy thì người giáo dân cần được học hỏi và đào luyện rất nhiều. Nói theo ngôn ngữ của Đức Gioan Phaolô II trong Tông huấn “Người Kitô hữu giáo dân - Christifideles Laici” (số 45-49) thì mọi Kitô hữu (linh mục, tu sĩ, giáo dân), mọi người già trẻ lớn bé nam cũng như nữ, đều là những người thợ làm vườn nho của Thiên Chúa. Đã là thợ thì phải có trình độ tay nghề mới có thể đảm đương công việc của người thợ. Mà muốn có tay nghề thì phải học nghề. Học nghề chính là công việc đào tạo, huấn luyện! Vậy nếu Giáo hội muốn có hàng giáo dân đích thực hay trưởng thành thì đương nhiên Giáo hội phải quan tâm đến việc huấn luyện, đào tạo và đầu tư cách thích hợp vào công việc ấy.
3.3 Thế nào là đào tạo giáo dân?
Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân nói về việc đào tạo giáo dân như sau:
”Hình ảnh trong Tin Mừng về cây nho và các cành nho cho chúng ta thấy một khía cạnh nền tảng khác trong đời sống và sứ vụ của giáo dân: lời kêu gọi phải lớn lên, không ngừng trưởng thành và luôn luôn sinh hoa trái nhiều hơn” (số 57).
Vậy đào tạo giáo dân là làm cho người tín hữu trở thành người giáo dân đích thực và trưởng thành. Nói cách khác là giúp người giáo dân hiểu biết đầy đủ về Ơn gọi và Sứ mạng của mình trong Giáo hội và trong thế giới và đồng thời có khả năng đảm nhận Ơn gọi và Sứ mạng ấy một cách hiệu quả.
Đối tượng của việc đào tạo ở đây là người giáo dân, chứ không phải các tu sinh hay chủng sinh. Thế có nghĩa là chúng ta phải xác định một số vấn đề như Giáo dân là ai? Giáo dân sống ở đâu? Giáo dân có ơn gọi và sứ mạng (chung và riêng) gì?
3.4 Mục đích của việc đào tạo giáo dân
Trong Tông Huấn Người Kitô hữu giáo dân, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nêu lên hai mục đích trong việc đào tạo giáo dân.
3.4.1- Mục đích thứ nhất của việc đào tạo giáo dân là để giúp giáo dân trưởng thành hơn trong tiến trình nên giống Đức Kitô:
“Các Nghị Phụ…diễn tả việc huấn luyện người giáo dân như một tiến trình trưởng thành liên tục của cá nhân trong đức tin và là một tiến trình nên giống Đức Kitô, theo ý muốn của Chúa Cha, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần”
(Người Kitô hữu giáo dân, số 57)
3.4.2- Mục đích thứ hai của việc đào tạo giáo dân là để giúp giáo dân khám phá và sống ơn gọi và sứ vụ riêng của mình :
“Việc huấn luyện giáo dân có mục tiêu nền tảng là giúp họ khám phá ra mỗi ngày mỗi rõ ràng hơn ơn gọi cá nhân và luôn hết sức sẵn sàng chu toàn sứ vụ riêng của mình”
(Người Kitô hữu giáo dân, số 58)
3.5 Hai lãnh vực & chương trình đào tạo
Cũng theo Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân thì người giáo dân cần được đào tạo trong hai lãnh vực khác nhau: lãnh vực tổng quát và lãnh vực chuyên biệt. Vì có hai lãnh vực nên cũng cần phải có hai chương trình đào tạo khác nhau.
3.5.1- Lãnh vực & chương trình tổng quát:
Mọi người giáo dân phải được đào tạo trong lãnh vực và theo chương trình tổng quát này. Ở đây người giáo dân được đào tạo về những nền tảng cơ bản của đời sống Đức Tin, gồm nhiều mặt: nhân bản, tâm linh, kiến thức, ý thức thái độ và kỹ năng.
1o) Về mặt nhân bản,
Người giáo dân được đào tạo để:
a) Trở thành một con người hoàn thiện về mặt nhân bản, với những đức tính hướng thiện, công bằng, yêu thương, nhân ái, vị tha, thanh liêm chính trực, trọng chữ tín, trọng của công, có tinh thần trách nhiệm,
Nhạy bén với các vấn đề xã hội, có tình liên đới với những người chung quanh.
2o) Về mặt tâm linh,
Người giáo dân được đào tạo để:
a) Trở thành một Kitô hữu xác tín và dấn thân,
Phát triển đời sống cầu nguyện và tình thân với Đức Giêsu, với Thiên Chúa:
”Mỗi người được mời gọi để không ngừng lớn lên trong tình thân mật với Đức Giê- su, với Thiên Chúa…”
Tinh luyện động cơ làm việc và phục vụ, nhất là đối với những người có nhiệm vụ lãnh đạo cộng đoàn,
Biết qui chiếu đời sống Đức Tin vào Đức Kitô và xây dựng đời sống trên nền tảng Lời Chúa,
đ) Biết hội nhập Văn hóa và Đức Tin một cách hài hòa.
3o) Về mặt kiến thức,
Người giáo dân được đào tạo để:
a) Có một hiểu biết thông thạo về Giáo lý, Thánh kinh, Thần học, Công đồng,
b) Có một kiến thức tổng quát về các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, tôn giáo, môi sinh và các phương tiện thông tin đại chúng. Ở đây phải dành một chỗ hết sức quan trọng cho việc học hỏi Học thuyết Xã hội của Giáo hội.
4o) Về mặt ý thức và thái độ,
Người giáo dân được đào tạo để có:
a) Ý thức trách nhiệm xã hội,
b) Ý thức các mối tương quan cộng đoàn và dành ưu tiên cho việc xây dựng cộng đoàn, cho cách làm việc chung, làm việc ê-kíp, nhóm,
c) Thái độ khiêm tốn phục vụ, chia sẻ, giúp đỡ người khác.
5o) Về mặt kỹ năng,
Người giáo dân được đào tạo để:
a) Biết linh hoạt một nhóm nhỏ hay một cộng đoàn lớn,
b) Biết mời gọi, thuyết phục và ảnh hưởng trên người khác,
c) Biết hướng dẫn các buổi cử hành, nghi thức, cầu nguyện,
d) Biết điều hành các buổi hội họp thảo luận hay chia sẻ,
đ) Biết cách giải quyết các xung đột,
e) Biết truyền thông cho người khác,
g) Biết lên kế hoạch, thực hiện và lượng giá việc thực hiện kế hoạch.
3.5.2- Lãnh vực chuyên biệt:
Đối với một số giáo dân có Ơn gọi và Sứ mạng riêng như các Giáo lý viên, Linh hoạt viên các cộng đoàn, Hội viên Hội đoàn Công giáo Tiến hành, Thành viên Hội đồng Mục vụ Giáo xứ, các Tông đồ Giáo dân, những người làm việc từ thiện, những người dấn thân trong lãnh vực nghề nghiệp, chính trị….. thì ngoài chương trình huấn luyện chung cho mọi giáo dân, họ cần có một chương trình đào tạo riêng. Gọi chương trình ấy là chương trình huấn luyện chuyên biệt, vì nhằm đáp ứng các nhu cầu, ơn gọi và sứ vụ riêng biệt của từng hạng người: Ví dụ các Giáo lý viên thì phải có sự hiểu biết và kỹ năng về Sư phạm Giáo lý; Hội đồng Mục vụ Giáo xứ thì phải có hiểu biết và kỹ năng về lãnh đạo tập thể; Tông đồ Giáo dân thì phải có hiểu biết về giá trị các tôn giáo không Kitô giáo và phải có nghệ thuật tâm lý trong giao tiếp v.v…
Nhưng điều tối quan trọng mà Đức Gioan Phaolo II nhấn mạnh trong Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân là việc đào tạo phải toàn diện để có một đời sống thống nhất:
“ Trong cuộc sống không thể có hai đời sống song song nhau: một bên là đời sống gọi là ‘thiêng liêng’, với những giá trị và những đòi hỏi riêng, và bên kia là đời sống ‘trần thế’, nghĩa là đời sống gia đình, nghề nghiệp, những tương quan xã hội, sự tham gia chính trị, các hoạt động văn hóa. Cành nho nào được nối với cây nho là Đức Ki-tô sẽ trổ sinh hoa trái trong tất cả mọi lãnh vực hoạt động và trong mỗi giai đoạn của cuộc sống. Thật vậy, tất cả mọi lãnh vực của đời sống giáo dân đều nằm trong ý định của Thiên Chúa, Đấng đã muốn những lãnh vực đó là “môi trường lịch sử” để mặc khải và thực thi Đức Ai của Đức Giê-su Ki-tô, nhằm vinh quang Chúa Cha để phục vụ anh em. Tất cả mọi hoạt động, mọi hoàn cảnh, mọi sự dấn thân cụ thể -chẵng hạn như khả năng chuyên môn và sự liên đới trong công việc, tình yêu và sự dâng hiến trong gia đình cũng như trong việc giáo dục con cái, công việc xã hội và chính trị, việc trình bày chân lý trong lãnh vực văn hóa - tất cả những điều đó là cơ hội được Thiên Chúa quan phòng để ‘không ngừng thực thi đức Tin, đức Cậy và đức Mến”
(Người Kitô hữu giáo dân, số 59; Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, số 43; Sắc lệnh Truyền giáo, số 21; Loan báo Tin Mừng, số 20).
3.6 Phương pháp đào tạo giáo dân
Giáo hội luôn quan tâm tới những khám phá và tiến bộ của con người trong mọi lãnh vực, nhất là lãnh vực giáo dục, nên Giáo hội hết sức chú trọng đến việc đem các tiến bộ tốt đẹp ấy ứng dụng vào trong công việc giáo dục của mình. Vì thế mà trong công cuộc đào tạo giáo dân, Giáo hội xử dụng nhiều phương pháp thích hợp và có giá trị, như:
1- Trau đồi kiến thức phải đi đôi với thực hành;
2- Giúp giáo dân tự đào tạo mình;
3- Đào tạo giáo dân qua cử hành Phụng vụ, Bí tích;
4- Đào tạo giáo dân bằng các Lớp, các Khóa học hỏi ngắn và dài ngày;
5- Đào tạo giáo dân qua các Hội đoàn Công giáo Tiến hành;
6- Bồi dưỡng giáo dân qua các Hội nghị, các đợt Tĩnh Tâm.
3.7 Thời gian và môi trường đào tạo giáo dân
Hẳn nhiên là công cuộc đào tạo giáo dân như thế thì không thể có điểm dừng, nghĩa là không bao giờ có thể nói là đã hoàn thành. Từ bé tới lớn, từ trẻ tới già luôn luôn là thời gian đào tạo.
Còn môi trường đào tạo thì chính là trong Giáo hội từ gia đình cho đến giáo xứ, giáo phận, cho đến Giáo hội toàn cầu. Trong các môi trường ấy phải kể đến các trường công giáo (từ tiểu đến trung và đại học) và các môi trường hội đoàn (xem Người Kitô hữu giáo dân, số 61-62).
3.8 Những người có trách nhiệm đào tạo giáo dân
Nói cho đến cùng, thì chính Thiên Chúa là Đấng đào tạo các Kitô hữu giáo dân cũng như giáo sĩ. Và chỉ một mình Đức Giêsu Kitô là Thầy, là Sư Phụ dậy dỗ và rèn luyện mọi người nên con cái Thiên Chúa, nên giống Ngài, để “Thầy nào trò nấy”. (Người Kitô hữu giáo dân, số 61). Nhưng Thiên Chúa và Đức Kitô cũng đã giao trách nhiệm đào tạo ấy cho các Tông đồ và đặc biệt là Tông đồ trưởng Phêrô.
Vì thế Đức Giáo hoàng và các Đức Giám mục là những người được Thiên Chúa giao phó công việc giáo dục đào tạo mọi thành phần Dân Chúa trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình: Đức Giáo hoàng thì trong phạm vi Giáo hội toàn cầu, các Giám mục thì trong phạm vi Giáo hội địa phương là giáo phận. Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân khẳng định:
“Công cuộc giáo dục trước hết là công việc của Giáo hội toàn cầu. Đức Giáo hoàng giữ vai trò người giáo dục đầu tiên của giáo dân. Là người kế vị thánh Phêrô, ngài cũng có sứ mệnh “củng cố anh em mình trong đức Tin” bằng cách dạy dỗ tất cả mọi tín hữu những yếu tố thiết yếu trong ơn gọi cũng như sứ vụ của Kitô giáo và Giáo hội. Không chỉ những lời do chính ngài đã loan báo, nhưng cả những gì được trình bày trong các văn kiện của các cơ quan khác nhau của Toà thánh đều cần được người giáo dân lắng nghe với lòng tuân phục kính yêu”
“Tại mỗi Giáo hội địa phương vị Giám mục có một trách nhiệm cá nhân đối với giáo dân. Ngài phải huấn luyện họ bằng cách loan báo Lời Chúa, cử hành Phụng vụ Thánh Thể và các Bí tích, làm sinh động và hướng dẫn đời sống Kitô hữu”
(Người Kitô hữu giáo dân, số 61).
Trên thực tế các Giám mục thực hiện công việc quan trọng ấy bằng nhiều cách: thăm viếng, khuyên nhủ, giảng dậy trực tiếp hay gián tiếp tức qua các phương tiện truyền thông xã hội như thư từ, báo chí, sách vở, tài liệu và qua các cộng tác viên sống động là các linh mục. Cho nên sau Giám mục thì các linh mục, nhất là các linh mục chánh xứ, là người có trách nhiệm chính trong việc đào tạo huấn luyện giáo dân, vì như Tông huấn Người Kitô hữu giáo dân xác định:
“Giáo xứ giữ một vai trò thiết yếu trong việc huấn luyện cách trực tiếp hơn với từng giáo dân. Thực vậy giáo xứ có điều kiện dễ dàng để đến với riêng từng người, từng nhóm nên giáo xứ được kêu gọi đào tạo các phần tử của mình biết lắng nghe Lời Chúa, biết đối thoại với Chúa trong cử hành phụng vụ cũng như cầu nguyện riêng, biết sống bác ái huynh đệ, và đồng thời giáo xứ còn phải cho họ thấy được một cách trực tiếp và cụ thể, ý nghĩa của sự hiệp thông trong Giáo hội và của trách vụ Truyền Giáo”
(Người Kitô hữu giáo dân, số 61).
Các Tu sĩ cũng có trách nhiệm tham gia một cách nào đó vào công việc đào tạo này, vì Tu sĩ cũng là thành phần Dân Chúa, mà đã là thành phần Dân Chúa thì không ai không có trách nhiệm xây dựng Thân Thể huyền nhiệm của Chúa Kitô là Giáo hội.
Sau cùng việc đào tạo hàng giáo dân trưởng thành còn là trách nhiệm của chính người giáo dân, nhất là của những người làm cha làm mẹ, làm huynh trưởng các phong trào giáo dân, các bậc đàn anh đàn chị trong các hội đoàn, tổ chức Công giáo tiến hành. Trong một số trường hợp thiếu linh mục hoặc các linh mục quá bận với công việc mục vụ hoặc các linh mục lơ là với việc đào tạo giáo dân, thì trách nhiệm đào tạo giáo dân của hàng giáo dân càng nặng nề và cấp bách hơn.
D. THẢO LUẬN & ỨNG DỤNG
1. Anh chị có cảm nghĩ gì sau buổi học đầu tiên? Hãy chia sẻ với bạn bè trong nhóm nhỏ.
2. Anh chị có thấy cần phải nỗ lực rất nhiều để đáp lại sự mong đợi của Giáo hội không? Anh chị tính làm gì để vượt qua mọi khó khăn, trở ngại trong những ngày tháng tới? (cầu xin ơn trợ giúp? quyết tâm dành ưu tiên cho Khóa học? thu xếp công việc và thời khóa biểu? chuyên chăm và tích cực tham dự lớp? v.v…).
Đ. TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU I:
HUẤN LUYỆN TOÀN DIỆN ĐỂ CÓ MỘT ĐỜI SỐNG THỐNG NHẤT
“Đối với người giáo dân, việc khám phá và thực hiện ơn gọi, sứ mạng cá nhân cũng bao gồm đòi hỏi phải được huấn luyện để có một cuộc sống thống nhất, là nét đặc trưng của họ, xét như là những chi thể của Giáo hội và là công dân của xã hội nhân loại.
Trong cuộc sống, không thể có hai đời sống song song nhau: một bên là đời sống gọi là “thiêng liêng”, với những gía trị và những đòi hỏi riêng, và bên kia là đời sống “trần thế”, nghĩa là đời sống gia đình, nghề nghiệp, những tương quan xã hội, sự tham gia chính trị, các hoạt động văn hóa. Cành nho nào được nối với cây nho là Đức Kitô sẽ trổ sinh hoa trái trong tất cả mọi lãnh vực hoạt động và trong mỗi giai đoạn của cuộc sống. Thực vậy tất cả mọi lãnh vực của đời sống giáo dân đều nằm trong ý định của Thiên Chúa, Đấng đã muốn những lãnh vực đó là môi trường “lịch sử” để mặc khải và thực thi Đức Ai của Đức Giêsu Kitô; nhằm vinh quang Chúa Cha và để phục vụ anh em. Tất cả mọi hoạt động, mọi hoàn cảnh, mọi dấn thân cụ thể - chẳng hạn như khả năng chuyên môn và sự liên đới trong công việc, tình yêu và sự dâng hiến trong gia đình cũng như trong việc giáo dục con cái, công việc xã hội và chính trị, việc trình bày chân lý trong lãnh vực văn hóa - tất cả những điều đó là cơ hội được Thiên Chúa quan phòng để “không ngừng thực thi đức Tin, đức Cậy và đức Mến”
(Vatican II, Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân, số 4).
Đó chính là sự thống nhất đời sống mà Công đồng Vatican II đã nhắn nhủ mọi người giáo dân khi Công đồng mạnh mẽ tố cáo tính cách trầm trọng của sự đứt đoạn giữa đức Tin và đời sống, giữa Tin Mừng và văn hoá:
“Công đồng khuyến khích các Kitô hữu, công dân của hai đô thị, hãy nỗ lực chu toàn cách trung thành các bổn phận trần thế của họ và chu toàn dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Am. Thực sai lầm cho những ai đang khi biết rằng chúng ta không có một quê hương trường tồn ở trần thế và đang phải kiếm tìm một quê hương hậu lai, để rồi vì đó tưởng rằng mình có thể xao lãng các bổn phận trần gian, như thế là không nhận thấy chính đức Tin buộc phải chu toàn các bổn phận đó hoàn hảo hơn, mỗi người tùy theo ơn gọi của mình. Ngược lại, cũng sai lầm không kém đối với những ai nghĩ rằng có thể dấn thân hoàn toàn vào việc trần thế như thể các công việc ấy hoàn toàn xa lạ đối với đời sống tôn giáo, vì cho rằng đời sống tôn giáo chỉ còn hệ tại những hành vi thờ phượng và một vài bổn phận luân lý phải chu toàn. Sự phân ly giữa đức Tin mà họ tuyên xưng và cuộc sống thường nhật của nhiều người phải kể vào số những sai lầm trầm trọng nhất của thời đại chúng ta”
(Vatican II, Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 43; xem Sắc lệnh về Hoạt động Truyền Giáo của Giáo hội, số 21; Đức Phaolo VI, Tông Huấn Loan Báo Tin Mừng, số 20).
“ Đó là lý do vì sao tôi đã khẳng định rằng một đức Tin mà không trở thành văn hoá là một đức Tin “không được đón nhận trọn vẹn, không được suy nghĩ thấu đáo và không được sống một cách trung tín”
(Đức Gioan Phaolô II, Tông huấn “Người Kitô hữu giáo dân”, số 59).
TÀI LIỆU II:
VĂN BẢN KẾT THÚC CỦA HỘI NGHỊ GIÁO DÂN Á CHÂU LẦN THỨ II
“Anh em luôn đứng vững cùng chung một Thần Khí, một lòng một dạ cùng nhau chiến đấu vì đức tin mà Tin Mừng mang lại cho anh em”
(Pl 1,27b)
I. NHẬP ĐỀ
1.1 Chúng tôi là các tham dự viên Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ 2 đại diện của 15 quốc gia thuộc châu Á (Bangadesh, An Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Nepal, Pakistan, Philippines, Singapore, Sri Lanka, Đài Loan, Thái Lan, Uzbekhistan, Việt Nam). Chúng tôi là những nam nữ giáo dân và những người trẻ và các nữ tu cùng với các linh mục và giám mục của chúng tôi, đã qui tụ về Trung tâm Huấn luyện Mục vụ ‘Baan Phu Waan’, Samphran, Thái Lan này, từ ngày 19 đến hết ngày 24 tháng 3 năm 2001, để suy nghĩ về đề tài: “Giáo Dân là Lực lượng thúc đầy Yêu thương và Phục vụ trong một Giáo hội đổi mới”. Tiếp nối Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ nhất với đề tài suy nghĩ là: ”Sự dấn thân của người giáo dân trong Sứ mạng của Giáo hội với sự quy chiếu đặc biệt về việc thực thi Giáo huấn Xã hội của Giáo hội”, đề tài lần này của chúng tôi ăn khớp với Giáo huấn Xã hội của Giáo hội cũng như với chủ đề của Hội nghị toàn thể lần thứ 7 của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC) hồi tháng 1 năm 2000 là “Một Giáo hội đổi mới tại châu Á: Sứ mạng Yêu thương và Phục vụ”.
1.2 Các Hội nghị Giáo dân vùng Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á đã suy nghĩ về Giáo huấn Xã hội của Giáo hội trong bối cảnh của các thực tại của từng vùng. Đó đã là một tiến trình phát triển và trưởng thành liên tục trong đức Tin.
1.3 Các mục tiêu của Hội nghị lần này là:
1.3.1 Phát huy tiềm năng của gia đình và của giáo dân để gia đình và giáo dân trở thành một lực lượng thúc đẩy yêu thương và phục vụ,, làm chứng cho các gía trị Tin Mừng.
1.3.2. - Khám phá các khả năng hợp tác với các anh chị em có niềm Tin tôn giáo khác để tìm cách đáp trả - bằng yêu thương và phục vụ- các thách thức mà châu Á đang phải đương đầu.
1.3 3.- Xây dựng tình liên đới với các tổ chức của Giáo hội, với giáo dân của các quốc gia khác và với các tổ chức phi chính phủ nhằm phục vụ việc thăng tiến con người.
1.4 Chúng tôi đã thiếu mất một số Giáo hội địa phương mà đáng lẽ ra phải có mặt: Cambodia, Lào, Trung Hoa lục địa, Myanmar, Bắc Triều Tiên và các quốc gia Trung Á. Đặc biệt Uzbekhistan đã có mặt tại Hội nghị này.
II. KINH NGHIỆM CỦA CHÚNG TÔI
2.1 Chúng tôi đã bắt đầu Hội nghị bằng việc ‘thâm nhập thực tế’ tức đi vào một số đặc điểm của thực tại Á châu. Trong khi nhớ lời mời gọi của Giáo hội là hãy đối thoại với những người không cùng niềm tin, với các nền văn hóa và với người nghèo, chúng tôi đã đi thăm một số trung tâm mà ở đó nổi bật một phong cách sống mới; nơi mà các nạn nhân đau khổ vì bệnh AIDS, người già, người bị áp bức và bóc lột đã có thể tìm thấy sự săn sóc, tiện nghi và hy vọng; nơi mà các phụ nữ, trẻ con và người trẻ, là nạn nhân của nền kinh tế toàn cầu hóa, có thể tìm thấy sự giúp đỡ, hướng dẫn và một cách sống khác. Chúng tôi đã gặp nhiều người đã phải đau khổ một cách sâu sắc bởi guồng máy xã hội.
2.2 Việc “thâm nhập thực tế” giúp chúng tôi học hỏi, nhìn ra, cảm nghiệm và chia sẻ với những người đang đau khổ. Gương tốt của những người làm việc với họ đã gợi cho chúng tôi xác tín rằng “yêu thương và phục vụ” - chứ không phải là “sự chiếm hữu và khai thác”- mới là chìa khóa mở đường cho con người được hạnh phúc. Chúng tôi nhận ra rằng tấm lòng và sự khôn ngoan có khả năng giúp con người tìm ra ý nghĩa cuộc sống hơn là tiền bạc và kiến thức. Chúng tôi cũng nhận ra rằng sức mạnh và niềm vui xuất phát từ các mối tương quan có ý nghĩa và từ các hoạt động chung giữa các nhóm khác nhau, cùng nhau chia sẻ mối quan tâm, có khả năng tăng cường tình liên đới và sự hợp tác để làm cho xã hội thành nhân bản hơn.
2.3 Báo cáo các vùng cho chúng tôi một cái nhìn toàn diện về những vấn đề nóng bỏng và sự đáp trả của Giáo hội. Những nỗ lực của các Giáo hội địa phương nhằm giải quyết các vấn đề đem lại cho chúng tôi niềm hy vọng. Có nhiều giáo dân đã liên kết một cách tuyệt vời với những người đang đau khổ và với những người đang hoạt động cho Công lý và sự Thăng tiến các quyền con người. Nhìn vào tầm mức mênh mông của vấn đề, sự đáp trả của chúng tôi với tư cách là giáo dân, thật không cân xứng.
2.4 Các chuyên viên của chúng tôi và các đại diện của các tổ chức phi chính phủ đã cống hiến cho chúng tôi những tấm gương sáng và đã vạch ra cho chúng tôi những khả năng sống sứ mạng của mình như một tác nhân làm thay đổi thế giới.
2.5 Chúng tôi biết ơn vì đã có điều kiện thuận lợi để gắn bó với nhau nhờ việc chia sẻ cá nhân, họp nhóm và làm việc chung với nhau. Việc chuẩn bị và cử hành Phụng vụ Thánh Thể mỗi ngày là nguồn suối cảm hứng và hiệp thông giữa chúng tôi. Các buổi trình diễn văn hóa đào sâu tình hũu nghị và giúp chúng tôi đánh giá cao vẻ đẹp và sự đa dạng của các nền Văn hóa Á châu.
III. THÁCH THỨC
3.1 Các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản, các Cộng đoàn Kitô hữu nhỏ cống hiến cho giáo dân phương thế nối kết Đức Tin với Đời Sống và giúp chúng tôi ý thức về cảnh huống của mình. Trong các Cộng đoàn nhỏ này việc Huấn luyện về đức Tin và nhất là về Giáo huấn Xã hội của Giáo Hội, có thể giúp chúng tôi phát triển một nhận thức về sứ mạng và trở thành một Lực lượng thúc đẩy để làm cho người ta trở lại và tạo sự biến đổi trong Giáo hội và Xã hội. “Các Cộng đoàn nhỏ bé này giúp các thành viên sống Tin Mừng trong tinh thần Yêu thương Huynh đệ và Phục vụ, từ đó trở thành điểm khởi hành vững chắc cho một xã hội mới, biểu hiện nền Văn minh Tình thương” (Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’, số 25)
3.2 Chúng tôi được mời gọi để trở thành các chứng nhân đáng tin cậy bằng “một lối sống phù hợp với Giáo huấn Tin Mừng… Sự liên đới với người nghèo sẽ trở nên đáng tin hơn nếu bản thân các Ki-tô hữu sống giản dị, theo gương Đức Giêsu” (Tông huấn ‘Giáo hội tại Á châu’, # 34).
3.3 Chúng tôi được mời gọi để trở thành một Lực lượng thúc đẩy Yêu thương và Phục vụ trong tình Hiệp thông với Giáo hội. Và chúng tôi được mời gọi để mỗi người và cả cộng đoàn thực thi Giáo huấn Xã hội của Giáo hội, cùng hoạt động với mọi người thành tâm thiện chí để giải quyết những vấn đề chung của xã hội.
3.4 Đáp lại lời mời gọi của Giáo hội về việc dấn thân phục vụ đời sống công cộng là một nhu cầu cấp bách. Thế giới của các vấn đề chính trị và lao động là những môi trường ưu tiên mà người giáo dân được mời gọi để biến đổi xã hội.
3.5 Bênh vực sự thăng tiến các quyền con người là một thách thức đặc biệt đối với chúng tôi.
IV. QUYẾT ĐỊNH
Chúng tôi quyết định:
4.1 Nhấn mạnh việc Huấn luyện giáo dân một cách có hệ thống và xuyên suốt hơn, nhằm giúp giáo dân hiểu biết căn tính và vai trò của mình, hiểu biết Giáo huấn Xã hội của Giáo hội bằng những phương tiện đơn giản và liên tục.
4.2 Sử dụng tiến trình {thâm nhập thực tế > suy tư > hành động} mà chúng tôi đã thấy rất hữu ích trong việc đào tạo giáo dân.
4.3 Dấn thân hoạt động với các Giáo hội địa phương để thực thi Chương trình Hành động trong quốc gia của mình.
4.4 Thành lập các Cộng đoàn Chia sẻ Lời Chúa là các cộng đoàn tạo điều kiện cho giáo dân trở thành Lực lượng thúc đẩy Yêu thương và Phục vụ.
4.5 Xây dựng một tình Liên đới rộng lớn hơn giữa các Giáo hội A châu với nhau và với những người không cùng niềm tin để tăng cường hoạt động của chúng ta nhằm phục vụ người nghèo.
4.6 Cổ vũ và hỗ trợ Gia đình để gia đình chu toàn nhiệm vụ có một không hai của mình dựa trên nền tảng Giáo huấn Xã hội của Giáo hội.
V. KẾT
5.1 Được tăng cường và nuôi dưỡng bởi kinh nghiệm của những ngày vừa qua, chúng tôi trở về với một quyết tâm và sức mạnh mới, sẵn sàng đương đầu với các thách đố của chúng tôi.
5.2 Chúng tôi rất biết ơn Đức Thánh Cha về sứ điệp mà Người đã gửi cho tất cả các tham dự viên Hội nghị chúng tôi. Ngài nói rằng: chúng con chỉ là một thiểu số nhỏ bé tại châu Á “nhưng chỉ cần một chút men cũng đủ làm dậy men cả khối lớn bột… Và một lần nữa, chúng ta được chuẩn bị để sống đời sống Ki-tô hữu với Người, trong xác tín rằng Đức Giêsu là Hy Vọng và là Ơn cứu độ duy nhất của nhân loại” (Xem Tông Thư ‘Novo Millennio Ineunte’, số 29).
5.3 Chúng tôi kết thúc Hội nghị Giáo dân châu Á lần thứ 2 này vào ngày áp Lễ Truyền Tin và nhờ lời cầu bầu của Đức Maria là Mẹ của châu Á, chúng tôi có thể thưa: “Xin Vâng” trước lời mời gọi quyết liệt của Tin Mừng là trở nên nghèo và sống hiệp nhất khi chúng tôi bắt đầu thiên niên kỷ mới.
5.4 Chúng tôi cám ơn Hiệp hội các tổ chức Giáo dân Thái Lan là chủ nhà và là người đồng tổ chức rất đáng mến, về sự tiếp đón ân cần đã dành cho chúng tôi. Chúng tôi cũng cám ơn Văn phòng của Liên Hội đồng Giám mục Á châu về Giáo dân đã qui tụ chúng tôi lại từ khắp các quốc gia châu A.
TÀI LIỆU III:
THƯ CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II GỬI CÁC THAM DỰ VIÊN HỘI NGHỊ GIÁO DÂN Á CHÂU LẦN 2
Với lòng yêu thương trong Chúa, cha chào mừng tất cả các con đã tụ họp tại Trung Tâm Mục Vụ Baan Phu Waan, Samphran để tham dự Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ hai do Liên Hội đồng Giám mục Á châu tổ chức. Cha gửi lời chào thân ái đến Đức Hồng y Michael Michai Kitbunchu, Tổng Giám mục Bangkok, đến các Giám mục, linh mục và nữ tu đồng hành với các con trong Hội nghị này.
Các con tham dự Hội nghị chỉ vài tháng sau ngày năm thánh 2000 bế mạc. Đối với toàn thể Giáo hội, năm thánh 2000 là một thời gian hết sức đặc biệt của ân sủng và lòng từ bi. Một lần nữa, cha cảm tạ Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh về những hồng ân mà Người đã đổ vào tâm hồn của không biết bao nhiêu người trong năm thánh. Và cha cầu xin cho những hồng ân ấy sinh hoa kết trái nhằm canh tân một cách sâu đậm từ bên trong.
Như cha đã ghi nhận trong Tông Thư mới nhất có tựa đề là “Novo Millennio Ineunte” (Bước vào Thiên Niên Kỷ Mới), năm thánh đã thúc đẩy chúng ta nhìn vào Đức Ki-tô, chiêm ngắm Người với một nhiệt tâm mới. Và vì thế chúng ta được chuẩn bị thêm một lần nữa để trân trọng đời sống Ki-tô hữu của chúng ta với Người, biết chắc chắn rằng Đức Giêsu là niềm Hy vọng và là Ơn Cứu độ duy nhất của nhân loại (Xem Novo Millennio Ineunte, số 29).
Diễn ra vào những ngày đầu của thiên niên kỷ thứ III, Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ hai này có một ý nghĩa rất đặc biệt: vì châu Á của các con là lục địa rộng lớn nhất và đông dân nhất hoàn cầu. Châu Á là cái nôi của các tôn giáo lớn và của nhiều nền văn hóa và truyền thống ngàn đời. Hơn nữa châu Á là nơi Đức Giêsu và Giáo hội đã sinh ra. Trong hai ngàn năm trước chúng ta, Tin Mừng đã đến được với nhiều phần đất của lục địa này nhờ vào những nỗ lực truyền giáo không biết mệt mỏi của Giáo hội, và vì thế không bao giờ chúng ta được ngừng ca tụng lòng nhân từ tràn đầy yêu thương của Thiên Chúa.
Nhưng cũng đúng là tại châu Á này còn có không biết bao nhiêu người, nam cũng như nữ, không biết Đức Giêsu và sứ điệp cứu độ của Người. Trong nhiều quốc gia của các con, Ki-tô hữu chỉ là một thiểu số nhỏ bé trong thành phần dân chúng. Sự kiện ấy phải thúc đẩy các con - với lòng nhiệt thành và hân hoan- trở thành “men” mà Đức Giêsu đã nói trong dụ ngôn:”Nước Trời giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men” (Mt 13,33). Thật ra, cũng như chỉ cần một chút men cũng đủ làm cho cả khối bột dậy men, Lời Chúa có khả năng biến đổi toàn thể nhân loại. Hãy nghĩ đến Thánh Tôma Tông Đồ, Thánh Phanxicô Xaviê hay bất kỳ một vị truyền giáo nào, linh mục và giáo dân - một số trong những người đó đã hiến mạng sống mình vì Đức Kitô và vì Giáo hội Người: mặc dù gặp nhiều khó khăn, họ đã loan báo Tin Mừng một cách can trường và đã vạch ra một con đường Loan báo Tin Mừng tại Á châu.
Dĩ nhiên, bất kỳ một nỗ lực truyền giáo mới nào cũng phải bao hàm việc đối thoại một cách cởi mở và chân thành trong yêu thương với các tín hữu của các Cộng đoàn Ki-tô hữu khác và với các tín đồ các tôn giáo khác, bằng cách đón nhận và trân trọng mọi hạt giống Chân, Thiện nơi họ. Nhưng chúng ta phải ghi nhớ trong tâm trí rằng ơn cứu độ được tìm thấy trong sự thật là Đức Giêsu Kitô là “Con Thiên Chúa, là Chúa và là Đấng Cứu độ duy nhất, nhờ biến cố Nhập Thể, nhờ cái chết và sự Phục sinh mà Người đã làm cho lịch sử Cứu độ được sung mãn. Lịch sử đạt tới sung mãn và trung tâm nơi Người” (Tuyên bố Dominus Jesus = Chúa Giêsu, số 13).
Trong ngày năm thánh của Giáo dân tại quảng trường Thánh Phêrô năm ngoái, trong khi mừng kính trọng thể Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ, cha đã phân phát bản sao các văn kiện Công đồng Vatican II cho các đại biểu giáo dân đến từ mọi lục địa. Mặc dù đã kết thúc cách đây ba mươi lăm năm, Công đồng Vatican II vẫn còn là một biến cố hết sức đặc biệt đối với Giáo hội mà chúng ta phải mãi mãi tìm về với Công đồng ấy để hiểu được đầy đủ ý nghĩa của các giáo huấn của Công đồng. “Cách riêng, giáo dân các con phải đọc lại các văn kiện ấy. Công đồng đã mở ra cho các con những viễn tượng phi thường để các con dấn thân và hoà mình vào trong sứ mạng của Giáo hội” (Trích bài giảng trong ngày năm thánh của Giáo dân, 26 tháng 11 năm 2000, đoạn 3).
Với lòng nhiệt thành mới các con phải tái khám phá ơn gọi nên thánh của hết mọi Ki-tô hữu là yếu tố nền tảng của sứ điệp mà Công đồng Vatican II đã ban tặng các con (Xem Hiến chế tín lý về Giáo hội ‘Lumen Gentium’, chương 5). Đòi hỏi nên thánh phải là mục tiêu hàng đầu trong chương trình sống đời Ki-tô hữu. Đòi hỏi ấy bắt nguồn từ các Bí tích Khai tâm Kitô giáo. Các con ý thức về thách đố phải sống ơn gọi đặc thù của giáo dân trong Giáo hội và trong thế giới với tinh thần trách nhiệm cao hơn bao giờ hết (Xem ‘Novo Millennio Ineunte’, số 46). Do bản chất, ơn gọi ấy có liên quan với hoàn cảnh của tín hữu Kitô trong thế giới: trong gia đình, xã hội, môi trường làm việc, học hành, bạn bè và giải trí (Xem Tông Huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục về Giáo dân, ‘Christifideles Laici’, số 15). Đối với các tín hữu giáo dân đời sống “thường ngày” trở thành nơi gặp gỡ đặc biệt có sức thánh hóa, với tình yêu của Đức Kitô.
Năm thánh 2000 đã đánh dấu sự khởi đầu của một Mùa Rao giảng Tin Mừng mới là một Công trình đòi hỏi phải có đời sống thánh thiện trọn vẹn nếu muốn thành công. Châu Á cần những người giáo dân thánh thiện! Nhiều hiệp hội, phong trào và tổ chức có tính giáo hội của giáo dân là một bằng chứng hùng hồn về sự tham gia tích cực của giáo dân vào đời sống Giáo hội. Các sáng kiến ấy cần được nhìn nhận và cổ vũ, bao lâu mà các hiệp hội, phong trào và tổ chức ấy sống hiệp thông với Giám mục địa phương và vâng phục những chỉ đạo hợp pháp.
Các con thân mến trong Chúa Kitô, Hội nghị của các con khai mạc vào ngày mà Giáo Hội hân hoan mừng trọng thể Lễ Thánh Giuse, Bạn Đức Trinh Nữ Maria rất thánh. Thiên Chúa đã muốn giao phó sự khởi đầu ơn cứu độ của chúng ta cho Thánh Giu-se là người công chính và đầy lòng tin. Người là gương mẫu thánh thiện cho mọi tín hữu giáo dân. Cha nguyện cầu cùng gia đình Nadarét -gia đình mà Thánh Giuse đã thể hiện sự quan tâm đầy lòng yêu thương dường ấy- xin gia đình ấy chúc lành cho Hội Nghị của các con sinh hoa kết trái dồi dào. Cha thân ái ban phép lành Tòa Thánh cho tất cả các con!
Từ Vatican, ngày 12 tháng 3 năm 2001
Gioan Phaolô II.
TÀI LIỆU IV:
THƯ CỦA ĐỨC HỒNG Y P.X. NGUYỄN VĂN THUẬN, CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG GIÁO HOÀNG VỀ CÔNG LÝ VÀ HOÀ BÌNH, GỬI HỘI NGHỊ GIÁO DÂN Á CHÂU LẦN 2
Thứ bẩy ngày 3 tháng 3 năm 2001
Trọng kính các Giám Mục,
Anh chị em thân mến,
Tôi xin gửi lời chúc mừng từ Roma đến tất cả các tham dự viên Hội Nghị Giáo Dân Á Châu lần thứ hai!
Tôi thành thực rất lấy làm tiếc là không thể tham dự Hội Nghị của anh chị em về đề tài: “Giáo Dân là một lực lượng thúc đẩy yêu thương và phục vụ trong một Giáo hội đởi mới” được, vì có những chương trình đã ấn định từ trước. Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình không thể làm gì khác hơn là nồng nhiệt cổ vũ anh chị em khi anh chị em tìm kiếm những phương cách mới để phục vụ Giáo Hội và Xã Hội. “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô” (Hiến chế Gaudium et Spes, số 1). Như anh chị em biết rất rõ, hoàn cảnh của Châu Á rất đa dạng: một số anh chị em đã có kinh nghiệm về sự tăng trưởng kinh tế hoặc về sự phát triển nền dân chủ, và hàng triệu người khác phải đau khổ vì đói nghèo, thiên tai hoặc vì các cuộc xung đột tàn phá giữa con người với nhau. Tuy thế, càng ngày càng có nhiều người ý thức hơn về khả năng của người Á Châu có thể thay đổi tình trạng hiện nay. Với tư cách là Kitô hữu, anh chị em muốn “phục vụ gia đình nhân loại, tìm đến với hết mọi người không phân biệt nam nữ, cùng với họ nỗ lực xây dựng một nền văn minh tình thương là nền văn minh đặt nền tảng trên những giá trị phổ quát như hoà bình, công lý, tình liên đới và sự tự do là những gía trị tìm thấy sự viên mãn trong Đức Kitô” như đã được ghi lại trong Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục về Châu Á, Ecclesia in Asia.
Tại nơi làm việc và trong gia đình anh chị em, những nguyên tắc nồng cốt của Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội có thể là sự hướng dẫn bảo đảm để anh chị em sống các gía trị của Tin Mừng. Sự chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo hay “tình yêu ưu tiên đối với người nghèo” là kiểu nói mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã dùng trong Thông Điệp Sollicitudo Rei Socialis đòi hỏi điều này: trong bối cảnh xã hội và kinh tế, người nghèo phải là mối quan tâm hàng đầu và là trung tâm điểm trong suy nghĩ và hành động của chúng ta. Giáo huấn của Giáo Hội xuất phát từ lòng tin vào gía trị nội tại và phẩm giá của con người, đã mời gọi chúng ta thực thi quyền lợi và nghĩa vụ nhằm thiện ích của mọi người. Nếu chúng ta muốn cổ võ sự phát triển toàn diện và đích thực của con người trong hoàn cảnh thực tế của các dân tộc trên thế giới, chúng ta phải có “lòng can đảm của một tình liên đới mới có khả năng tiến hành những bước đi sáng tạo và hữu hiệu để khắc phục tình trạng kém phát triển phi nhân cũng như tình trạng phát triển quá độ có khuynh hướng biến con người thành một đơn vị kinh tế” (Ecclesia in Asia 32). Sau hết nguyên tắc bổ trợ, trên bình diện quốc tế, sẽ cho phép các giải pháp địa phương đối với các vấn đề địa phương, bằng cách chỉ cầu cứu các thế lực lớn hơn khi mà các thế lực nhỏ hơn không có khả năng hành động; còn trên bình diện cộng đồng, có nghĩa là chúng ta cần sự cống hiến của nhiều nhóm khác nhau, tất cả hoạt động trong tình hiệp nhất với nhau. Một số người sẽ đào sâu khả năng phân tích xã hội học hay sẽ dấn thân vào các vấn đề chính trị thực tế. Một số khác sẽ dấn thân trực tiếp vào việc phục vụ người nghèo. Dù chúng ta ở đâu những nỗ lực mang tính giáo dục của chúng ta sẽ góp phần vào việc xây dựng công ích và nâng cao các chuẩn mực đạo đức.
Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho anh chị em và giúp anh chị em trở thành “một lực lượng thúc đẩy yêu thương và phục vụ trong một Giáo Hội đổi mới”
(Ký tên)
Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận,
Chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hoà Bình.
TÀI LIỆU V: MỘT SỐ SUY NGHĨ TỪ VĂN BẢN KẾT THÚC CỦA HỘI NGHỊ GIÁO DÂN Á CHÂU LẦN 2 ĐỐI CHIẾU VỚI HOÀN CẢNH GIÁO HỘI & XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY
Xuất phát từ văn bản kết thúc cũng như từ nội dung Hội Nghị Giáo Dân Á Châu lần thứ II và đối chiếu với hoàn cảnh xã hội và Giáo Hội Việt Nam hiện nay, tôi xin nên lên một số suy nghĩ sau đây:
1.- Nhu cầu Đào Tạo Giáo Dân
Hội Nghị cũng như các báo cáo quốc gia của các Giáo Hội đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc Đào Tạo Giáo Dân. Vì chưng để hiểu và sống Niềm Tin của mình một cách hiểu biết, dấn thân và trưởng thành, người giáo dân cần được đào tạo có phương pháp, có chương trình và kế hoạch xuyên suốt, từ thấp lên cao. Họ cần được đào tạo nhất là về Kinh Thánh và về Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội.
Việc Đào Tạo giáo dân ở Việt Nam lại càng là vấn đề cấp bách. Vì chưng chúng ta đã sống nhiều năm bị giới hạn trong sinh hoạt tôn giáo. Phụng vụ, nghi lễ thì có lẽ chúng ta không thiếu, nhưng vấn đề đào tạo giáo dân thì nhất định là chúng ta đã không được tự do tổ chức như ý chúng ta muốn và như nhu cầu đòi hỏi. Khách quan mà nói thì đối với Giáo Hội Việt Nam nhu cầu đào tạo nhân sự nói chung và nhu cầu đào tạo giáo dân nói riêng quả là lớn lao và cấp bách. Thế mà dường như chúng ta chưa có được những điều kiện tối thiểu cả từ phía Giáo Hội cả từ phía xã hội.
Từ phía Giáo Hội thì những điều kiện tối thiểu phải có cho việc đào tạo giáo dân là: (1) một ý thức và xác tín về tầm quan trọng và tính cấp bách của việc đào tạo giáo dân nơi các vị lãnh đạo,
(2) một trung tâm, một chương trình, một ê-kíp chuyên đào tạo trong mỗi giáo phận và ở phạm vi quốc gia cho cả nước.
Muốn có được những điễu kiện tối thiểu trên, bản thân Giáo Hội phải nỗ lực rất nhiều và phải biết đầu tư theo cả chiều sâu lẫn chiều dài.
Còn điều kiện tối thiểu từ phía Nhà Nước là sự thay thế những chính sách và biện pháp quản lý tôn giáo vẫn áp dụng từ xưa đến nay bằng những chính sách và biện pháp quản lý cởi mở và tự do hơn để Giáo Hội có thể thực thi những công việc tối cần thiết cho sự phát triển của một Cộng Đồng tôn giáo. Cho đến nay, nếu chính quyền luôn tuyên bố là tôn trọng tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của người dân, thì cũng phải thẳng thắn mà nhìn nhận rằng: trong thực tế, Giáo Hội Công Giáo còn bị rất nhiều giới hạn trong hoạt động và nhất là trong việc thực thi trách nhiệm đào tạo giáo dân của mình. Nếu chúng ta so sánh Giáo Hội Việt Nam với Giáo Hội Thái Lan thì chúng ta thấy rõ sự khác biệt: Giáo Hội Thái Lan chỉ chiếm 0,5% dân số, nhưng có không biết bao trường học, không biết bao cơ sở đào tạo và huấn luyện. Chỉ cần lấy Trung Tâm Mục Vụ Baan Phu Waan, Samphran, thuộc Tổng Giáo Phận Bangkok, một tòa nhà 8 tầng với đầy đủ tiện nghi nằm trên một khu đất rộng mênh mông thì đủ biết Giáo Hội Thái Lan có nhiều thuận lợi như thế nào trong hoạt động của mình giữa lòng một dân tộc Thái sùng Đạo Phật vào bậc nhất thế giới!
2.- Tầm quan trọng của Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội
Nói đến đào tạo giáo dân là phải nói đến nội dung và phương pháp. Về nội dung thì các Giáo Hội Á Châu không chỉ giúp giáo dân học hỏi, chia sẻ và sống Lời Chúa mà còn giúp giáo dân tiếp cận, tìm hiểu về Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội và thực thi giáo huấn ấy trong đời sống cá nhân và cộng đoàn. Chúng ta biết Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội có liên quan mật thiết đến tất cả mọi vấn đề của con ngưới ngày nay: phẩm gía, quyền con người, lao động, chiến tranh, hòa bình, phát triển….Có thể nói Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội là áp dụng những nguyên tắc căn bản của Ki-tô giáo vào những vấn đề xã hội. Kho tàng này rất phong phú, gồm những Thông Điệp nổi tiếng của các Vị Giáo Hoàng: Từ thông điệp Rerum Novarum (1891) của Đức Leo XIII đến thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (1987) của Đức Gio-an Phao-lo II chúng ta có 12 văn kiện quan trọng về các vấn đề có liên quan mật thiết đến cuộc sống con người ngày nay.
Trong các buổi hoặc các Khóa Huấn Luyện giáo dân Việt Nam chúng ta khó mà tìm thấy nội dung Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội. Khách quan chúng ta phải nhìn nhận rằng: các văn kiện Công Đồng cũng như các Thông Điệp của các Giáo Hoàng còn là xa lạ đối với phần đông người Công giáo Việt Nam. Nếu không thể thực hiện được cho đại đa số giáo dân, thì ít nhất chúng ta nên có các khóa chuyên đề dành cho một số thành phần như các bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư, giáo sư, giáo viên, lãnh đạo các hội đoàn giáo dân ….
3.- Phương Pháp Đào Tạo Giáo Dân
Còn nói về phương pháp thì hiện nay tại các Trung Tâm và trong các Khóa Huấn Luyện giáo dân của các Giáo Hội tại Châu Á này có một phương pháp rất được ưa chuộng vì nó vừa đơn giản lại vừa hiệu quả. Đó là Phương Pháp Xem-Xét-Làm hay còn được gọi là Chương Trình Amos. Phương pháp này gồm 3 bước như sau:
Thâm Nhập Thực Tế: học viên được tiếp cận với thực tế sống động và phũ phàng của đời thường, khiến người có lòng tin phải băn khoăn, day dứt….
Suy Tư: học viên được giúp tìm tòi, khám phá ra ánh sáng hướng dẫn, giáo huấn định hướng suy nghĩ….. trong kho tàng Thánh Kinh & Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội.
Hành Động: Chương trình huấn luyện về bất cứ chủ đề nào cũng dẫn các học viên tới một hoặc những hành động cụ thể nhằm làm thay đổi cái thực tế còn tiêu cực trên.
Điểm ưu việt của phương pháp này là rất thực tế, đơn giản, giúp người giáo dân nối kết cuộc sống hằng ngày của mình với Lời Chúa.
4.- Tầm quan trọng của các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản, các Cộng đoàn Kitô hữu nhỏ, các Cộng đoàn chia sẻ Lời Chúa trong Giáo hội ngày nay
Trong Văn bản kết thúc ở mục “Những Thách thức”, Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ 2 đã có nhận định như sau về các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản, các Cộng đoàn Kitô hữu nhỏ:
Các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản, các Cộng đoàn Kitô hữu nhỏ cống hiến cho giáo dân phương thế nối kết Đức Tin với đời sống và giúp chúng tôi ý thức về cảnh huống của mình. Trong các Cộng đoàn nhỏ này việc Huấn luyện về Đức Tin và nhất là về Giáo huấn Xã hội của Giáo hội, có thể giúp chúng tôi phát triển một nhận thức về sứ mạng và trở thành một lực lượng thúc đẩy để làm cho người ta trở lại và tạo sự biến đổi trong Giáo hội và Xã hội. “Các Cộng đoàn nhỏ bé này giúp các thành viên sống Tin Mừng trong tinh thần Yêu thương huynh đệ và phục vụ, từ đó trở thành điểm khởi hành vững chắc cho một xã hội mới, biểu hiện nền Văn minh tình thương” (Tông huấn ‘Giáo Hội tại Á Châu’, số 25)
Cũng trong Văn bản kết thúc ở mục “Những Quyết định”, thì một trong 5 quyết định của Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ 2 là: Thành lập các Cộng đoàn chia sẻ Lời Chúa là các cộng đoàn tạo điều kiện cho giáo dân trở thành lực lượng thúc đẩy yêu thương và phục vụ.
Tại Hội nghị không thấy các đại biểu đề cập đến các Hội đoàn mà nhấn mạnh đến các Cộng đoàn Giáo hội cơ bản, các Cộng đoàn nhỏ, các Cộng đoàn chia sẻ Lời Chúa. Nếu chúng ta hiểu biết đôi chút về đời sống và sinh hoạt của các Giáo hội Á châu khác như An Độ, Pakistan, Philíppin, Thái Lan, Indonesia, Malaysia v.v.. thì chúng ta sẽ thấy rằng trong kế hoạch mục vụ của mình các Giáo Hội ấy đã dành ưu tiên cho việc xây dựng các loại Cộng đoàn nói trên trong các giáo xứ. Kinh nghiệm cho thấy không thể huy động cả một giáo xứ to lớn tham gia vào việc thay đổi môi trường xã hội, vì bao giờ phần đông giáo dân cũng ù lì, chậm chạp và là những người sùng mộ (dévotes); chỉ có một số ít người có khả năng suy nghĩ và hành động theo suy nghĩ đã được soi sáng bởi Lời Chúa và Giáo huấn Xã hội của Giáo hội. Họ là những Kitô hữu biết đấu tranh (militants) cho Trời mới Đất mới.
Ap dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, ước gì các vị lãnh đạo quan tâm đến việc nghiên cứu, tìm hiểu, khuyến khích và xây dựng các Cộng đoàn nói trên trong các giáo xứ. Có nhiều linh mục tỏ ra e ngại khi nghe nói đến các Cộng đoàn cơ bản, các Nhóm chia sẻ Lời Chúa. Chắc chính quyền lại càng e ngại hơn nữa vì cho rằng đó có thể là các nhóm có ý đồ không kiểm soát được….. Lý do e ngại là vì các vị lãnh đạo - trong đạo cũng như ngoài đời - chưa hề được thông tin đầy đủ về các Cộng đoàn ấy mà thôi nên chưa thấy được lợi ích to lớn của các Cộng đoàn ấy!
5.- Tình liên đới giữa các Giáo Hội trong vùng và cùng lục địa
Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ 2 còn nhấn mạnh đến việc xây dựng Tình Liên đới giữa các Giáo hội trong vùng và cùng lục địa: “Xây dựng tình liên đới với các tổ chức của Giáo hội, với giáo dân của các quốc gia khác và với các tổ chức phi chính phủ nhằm phục vụ việc thăng tiến con người”. Điều này thật dễ hiểu. Ngày nay không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà không phải cần tới các quốc gia khác. Cũng thế, một Giáo hội cũng không thể tự mình giải quyết mọi vấn đề mà không dựa vào các Giáo hội chị em khác trong vùng, hoặc trong cùng lục địa hay thuộc lục địa khác. Tình liên đới giữa các Giáo hội trong vùng và cùng lục địa sẽ chỉ đem lại lợi ích tinh thần và vật chất cho cả hai bên mà thôi.
Ap dụng vào trường hợp của Việt Nam, chúng ta thấy có nhiều khó khăn trở ngại khách quan và chủ quan. Khó khăn trở ngại khách quan là cách “can thiệp” của Nhà Nước vào các hoạt động đối ngoại của Giáo hội. Một ví dụ điển hình: vào năm 1972-1973 khi Liên Hội đồng Giám mục Á châu được thành lập thì Hội Đồng Giám Mục Miền Nam Việt Nam đã là thành viên sáng lập của tổ chức này. Sau khi nước Việt Nam thống nhất vào năm 1975 thì đương nhiên Hội đồng Giám mục cũng thống nhất (vì chỉ có thể có một Giáo hội Công giáo Việt Nam mà thôi). Nhưng tư cách là thành viên Liên Hội đồng Giám mục Á châu của Hội đồng Giám mục Việt Nam vẫn chưa được chính quyền chính thức nhìn nhận.
Còn khó khăn trở ngại chủ quan là Giáo hội hay đúng hơn các bậc lãnh đạo Giáo hội chúng ta nghiêng về việc thiết lập mối tương quan với các Giáo hội Tây phương hơn là với các Giáo hội trong vùng hay cùng lục địa. Sự kiện này cũng có lý do vừa lịch sử, vừa tình cảm. Các thừa sai giảng đạo ở Việt Nam là những vị đến từ các nước Au châu. Các Dòng quốc tế cũng đến Việt Nam từ các Giáo hội Au Mỹ. Các linh mục tu sĩ nam nữ du học cũng được gửi đến Pháp, Anh, Đức, Ý, Thụy Sĩ, Hà Lan… Va-ti-can cũng nằm ở Roma thuộc nước Ý… Một khó khăn cản trở khác tuy nhỏ nhưng cũng đáng kể là vấn đề ngôn ngữ: Ngôn ngữ của châu Á là tiếng Anh, chứ không phải tiếng Pháp hay tiếng Đức, tiếng Ý. Mà tiếng Anh thì chưa phải là ngôn ngữ 2 của hàng giáo phẩm và hàng giáo sĩ Việt Nam.
Nếu như một ngày nào đó, giữa Giáo Hội Việt Nam và các Giáo Hội An Độ, Indonesia, Philíppin, Thái Lan, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc có một Tình Liên đới chặt chẽ … thì chắc chắn sẽ có nhiều lợi ích cho cả hai bên. Các Giáo hội có thể giúp nhau về nhiều lãnh vực: huấn luyện đào tạo nhân sự, kinh nghiệm hội nhập văn hoá và đối thoại, hoạt động phục vụ người nghèo, nguồn nhân sự truyền giáo, v.v…
6.- Sự hợp tác của người giáo dân công giáo với những anh chị em cùng hoặc khác niềm tin tôn giáo, với mọi người thành tâm thiện chí
Tông huấn “Giáo Hội tại châu Á” đã vạch ra hướng đi lâu dài là các Giáo hội và giáo dân Á châu phải thiết lập mối quan hệ đối thoại tức trao đổi, chia sẻ… với các nền văn hóa, với các tôn giáo và truyền thống tâm linh, với người nghèo của châu Á, nếu muốn loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Đức Giêsu cho vùng đất Á châu này. Phù hợp với định hướng ấy Hội nghị Giáo dân Á châu lần thứ 2 đã đề ra mục tiêu sau đây: “Khám phá các khả năng hợp tác với các anh chị em có niềm Tin tôn giáo khác để tìm cách đáp trả - bằng yêu thương và phục vụ- các thách đố mà châu Á đang phải đương đầu”.
Mục tiêu của các tôn giáo là cứu độ con người. Cụ thể là thăng tiến phẩm giá con người, là bênh vực công lý và xây dựng hòa bình. Không một tôn giáo nào (đừng nói chi đến một nhóm, một người) có thể làm được công việc vĩ đại ấy. Trái lại mọi người thành tâm thiện chí, không phân biệt tôn giáo, không phân biệt hữu thần hay vô thần…….phải hợp tác chân thành và chặt chẽ với nhau để đầy lùi nghèo đói, bệnh tật, dốt nát, đàn áp bóc lột, tham nhũng, hối lộ…và xây dựng một thế giới văn minh tiến bộ và yêu thương.
Muốn thực hiện được điều ấy, giáo dân Việt Nam chúng ta còn nhiều việc phải làm mà việc quan trọng nhất là gột rửa cái ĐẦU tức thay đổi nhận thức và hiểu biết của chúng ta, đồng thời phải hâm nóng và mở rộng cái TÂM, tức đổi mới cách sống cách đối xử của chúng ta.
THAY LỜI KẾT
Nguyện xin Chúa Giêsu Phục Sinh và Chúa Thánh Thần tuôn đổ hồng ân của Người xuống trên mỗi người và mỗi cộng đoàn chúng ta, nhất là trên các vị lãnh đạo - giáo quyền cũng như chính quyền - để mỗi người, mỗi cộng đoàn và cả xã hội Việt Nam được đổi mới!!!
Nguyễn Văn Nội
(Mùa Phục Sinh 2001)
TÀI LIỆU VI:
MỘT SỐ NHU CẦU QUAN TRỌNG VÀ CẤP BÁCH NHẤTCỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM NGÀY NAY
(Bài thuyết trình của Ô. Nguyễn Văn Nội tại Hoa Kỳ, tháng 7&8.2000)
PHẦN I: VÀO ĐỀ
Ai trong chúng ta cũng biết ít nhiều về thực trạng hiện nay của Giáo hội trong nước. Vì thế tôi không muốn nói lại những điều mà ai nấy đã biết. Tôi cũng không muốn nêu lên các nguyên nhân của thực trạng hiện nay của Giáo hội trong nước: một phần vì tôi không nói thì quí ông bà, anh chị em cũng đã biết; một phần vì vị thế hay tư cách tế nhị của tôi:
(a) tôi chỉ sống một thời gian ngắn ở đây và sẽ trở về Việt Nam và hoạt động cho Giáo hội trong nước
(b) tôi chỉ là một giáo dân không được các Giám mục Việt Nam cử đi Mỹ mà cũng không được các ngài giao một sứ mạng gì khi sang đây. Tôi có mặt ở đất Mỹ là nhờ lòng quí mến thương yêu của cha Phêrô Phan Đình Cho, của cha Gioakim Lê Quang Hiền và của một người anh họ đang sống ở California là những người đã tạo cơ hội và điều kiện cho tôi được đến đây để tham dự Khóa học hỏi về “ĐỨC TIN & HỘI NHẬP VĂN HÓA” này của Viện Triết Đạo. Việc tham dự khóa học hỏi và chuyến đi Mỹ này sẽ giúp tôi có thêm hành trang (vì “đi một ngày đàng học một sàng khôn”) để phục vụ Giáo hội Việt Nam một cách tích cực và hữu hiệu hơn.
Vì thế tôi muốn chia sẻ với quí ông bà và anh chị em về MỘT SỐ NHU CẦU QUAN TRỌNG VÀ CẤP BÁCH CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM NGÀY NAY theo cách nhìn và đánh giá vấn đề của một người giáo dân sống trong nước, đã và đang hoạt động tích cực để góp phần vào việc xây dựng Giáo hội ấy.
Sau 46 năm đối với Miền Bắc và 25 năm đối với Miền Nam sống dưới chế độ Cộng sản, có thể nói ngày nay các vị lãnh đạo Giáo hội, đã thấy rõ các nhu cầu của Giáo hội và cũng thấy có nhiều điều kiện hơn những năm trước để thực hiện một số việc thuộc trách nhiệm của mình. Nếu như các vị lãnh đạo Giáo hội Việt Nam có đủ sáng suốt khôn ngoan để nắm bắt thời cơ và có đủ can đảm để mạnh dạn thực hiện những điều mình thấy cần phải làm, thì chúng ta có thể lạc quan nhìn về tương lai.
Nhưng đâu là những nhu cầu quan trọng và cấp bách nhất của Giáo hội Việt Nam ngày nay? Nhu cầu thì chắc chắn là có nhiều, thậm chí có thể là rất nhiều. Nhưng chúng ta nên chú tâm vào những nhu cầu quan trọng và cấp bách thôi. Giải quyết được những nhu cầu quan trọng và cấp bách này, thì các nhu cầu khác sẽ nhờ đó mà được giải quyết. Theo sự đánh giá chủ quan của tôi thì hiện nay Giáo hội Việt Nam có năm nhu cầu quan trọng và cấp bách sau đây:
1)- Huấn luyện đào tạo nhân sự, nhất là giáo dân,
2)- Hội nhập Giáo hội vùng,
3)- Tổ chức và thiết lập các cơ chế cần thiết cho đời sống và hoạt động của Giáo hội,
4)- Trẻ hóa hàng ngũ lãnh đạo và đổi mới cung cách lãnh đạo,
5)- Hội nhập văn hóa và đối thoại với các tôn giáo bạn.
PHẦN II: NĂM NHU CẦU QUAN TRỌNG & CẤP BÁCH CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM NGÀY NAY
1. Nhu cầu huấn luyện đào tạo nhân sự, nhất là giáo dân
Nhu cầu quan trọng và cấp bách nhất của Giáo hội Việt Nam hiện nay là nhu cầu huấn luyện đào tạo nhân sự, giáo sĩ cũng như giáo dân, nhưng nhất là giáo dân. Công đồng Vatican II (1962-1965) là một biến cố vô cùng quan trọng đối với Giáo hội Công Giáo toàn cầu cũng như đối với từng Giáo hội địa phương. Riêng với Giáo hội Việt Nam thì các Giám mục miền Bắc đã không tham dự Công đồng Vatican II, nên có thể nói là Giáo hội Miền Bắc chỉ biết rất ít về Công đồng Vatican II. Còn các Giám mục miền Nam có may mắn là đã được tham dự Công đồng Vatican II, nhưng chỉ 10 năm sau Công đồng thì Giáo hội miền Nam cũng sống dưới chế độ Cộng sản như Giáo hội miền Bắc, nên phần lớn các nỗ lực áp dụng Công đồng vào đời sống Giáo hội đều bị ngừng lại. Hơn nữa trong hơn hai mươi năm qua Giáo hội có rất ít điều kiện để huấn luyện đào tạo nhân sự giáo dân. Do đó việc đào tào nhân sự là một nhu cầu vô cùng quan trọng và cấp bách đối với hiện tại và tương lai của Giáo hội Việt Nam.
Trong lãnh vực này, Giáo hội Việt Nam có rất nhiều việc phải làm. Cho đến nay dường như các vị lãnh đạo Giáo hội chỉ mới quan tâm đến việc đào tạo linh mục và tu sĩ. Trong nước hiện đã có được sáu đại chủng viện: Hà Nội, Vinh, Huế, Nha Trang, Sài gòn, Cần Thơ và hy vọng nay mai sẽ có thêm một đại chủng viện nữa tại Xuân Lộc để huấn luyện đào tạo các giáo sĩ. Còn đối với hàng ngũ đông đảo giáo dân thì Giáo hội mới chỉ có các chương trình giáo lý rước lễ, thêm sức, bao đồng (rước lễ trọng thể), chuẩn bị hôn nhân và tân tòng. Nhưng ngay trong lãnh vực căn bản này thì cũng mỗi nơi mỗi khác. Trên phạm vi toàn quốc hay phạm vi tổng giáo phận, chưa có các ủy ban, các trung tâm, các chương trình đào tạo nâng cao chứ đừng nói gì đến chương trình thần học giáo dân.
Ngày nay trong một số giáo phận, vấn đề huấn luyện đào tạo giáo dân mới được đặt ra thì gặp phải đủ thứ khó khăn: Ngoài khó khăn về phía chính quyền, còn có những khó khăn khác như thiếu người chuyên môn, thiếu chương trình đào tạo, thiếu cơ sở vật chất và tài chánh (1).
2. Nhu cầu hội nhập Giáo hội vùng
Nhu cầu quan trọng và cấp bách thứ hai của Giáo hội Việt Nam hiện nay là việc hội nhập vùng Đông Nam Á & châu Á. Không phải tất cả mọi linh mục, giám mục đều thấy được tầm quan trọng của nhu cầu này. Nhưng đó là một nhu cầu có thật và theo chúng tôi thì đây là một cơ may lớn cho Giáo hội Việt Nam: Nếu Giáo hội Việt Nam có hội nhập vùng thì mới thoát ra khỏi tình trạng trì trệ và khép kín hiện nay của mình và để canh tân theo tinh thần của Công đồng Vatican II, của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu và của Tông huấn “Giáo hội tại châu Á”.
Mọi người đều biết: Hội đồng Giám mục Việt Nam là thành viên sáng lập của Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC: The Federation of Asian Bishops’ Conferences). Nhưng từ ngày 30.4.1975 cho đến thời gian mới đây, Hội đồng Giám mục và Giáo hội Việt Nam rất ít liên lạc với Liên Hội đồng Giám mục Á châu và với các Giáo hội khác trong vùng. Hội đồng Giám mục & Giáo hội Việt Nam hướng về Roma, Paris nhiều hơn…vì có mối liên hệ tình cảm nặng hơn với các Giáo hội Au châu này và vì tư cách thành viên Liên Hội đồng Giám mục Á châu của Hội đồng Giám mục Việt Nam không được chính quyền nhìn nhận cách chính thức. Có thể trong tương lai Giáo hội Việt Nam sẽ có thêm mối quan hệ chặt chẽ với Giáo hội Công giáo Hoa Kỳ, vì số người công giáo Việt Nam ở Mỹ rất đông và vì Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ vừa thực hiện một chuyến viếng thăm chính thức Giáo hội Việt Nam hồi tháng 8 năm 1999. Và rất có thể trong tương lai không xa, thì đại diện Giáo hội Việt Nam cũng sang thăm chính thức Giáo hội Hoa Kỳ.
Nhưng dù Giáo hội Việt Nam có duy trì và phát triển mối quan hệ với các Giáo hội Au Mỹ thì theo tôi Giáo hội Việt Nam vẫn không thể coi nhẹ việc hội nhập vùng và tạo quan hệ chặt chẽ với các Giáo hội Á châu chung quanh. Vì về mặt kinh tế tài chánh cũng như chính trị và tôn giáo thì “tính cách vùng” càng ngày càng trở nên quan trọng.
Việc Giáo hội Việt Nam hội nhập vùng có nhiều lợi ích đáng kể:
1) Giáo hội Việt Nam có nhiều cơ may mang mầu sắc Á Đông hơn. Giáo hội chúng ta vẫn mang dáng dấp của một Giáo hội Tây phương, và việc hội nhập văn hoá mới chỉ ở giai đoạn đầu, còn rất phôi thai. Nếu Giáo hội Việt Nam cứ tiếp tục cóp-pi những mô hình Tây phương thì Giáo hội Việt Nam sẽ mãi mãi mang tính ngoại lai, xa lạ… đối với đại đa số người Việt.
2) Giáo hội Việt Nam sẽ tận dụng được những kinh nghiệm thực thi Công đồng của nhiều Giáo hội Á châu khác và đóng góp phần đặc thù của mình. Trong ba thập niên vừa qua, Liên Hội đồng Giám mục Á châu và các Giáo hội Á châu nhất là An Độ, Phi-lip-pin, Đại Hàn, Đài Loan, Nhật Bản, Thái Lan… đã thực hiện một bước dài trong việc áp dụng giáo huấn và tinh thần Công đồng vào đời sống và cơ cấu Giáo hội. Tiếp xúc nhiều với Liên Hội đồng Giám mục Á châu và với các Giáo hội này, Hội đồng Giám mục và Giáo hội Việt Nam sẽ học được những kinh nghiệm phong phú và quí báu của các Giáo hội bạn.
Mặt khác, Giáo hội Việt Nam sau bao nhiêu năm sống kiên cường dưới các cuộc bách hại và những khó khăn thử thách khôn lường, có thể đóng góp với các Giáo hội trong vùng cũng như với Giáo hội toàn cầu, những kinh nghiệm “xương máu” của riêng mình, làm phong phú cho đời sống Giáo hội Chúa Kitô trên trần thế này.
3. Nhu cầu tổ chức và thiết lập các cơ chế cần thiết cho đời sống và hoạt động của Giáo hội
Nhu cầu quan trọng và cấp bách thứ ba của Giáo hội Việt Nam là việc tổ chức (hay tái tổ chức hay hoàn chỉnh tổ chức) và thiết lập các cơ chế cần thiết cho đời sống và hoạt động của Giáo hội. Về mặt tổ chức các giáo xứ, các hội đoàn, các trung tâm huấn luyện giáo dân, các hội đồng linh mục, hội đồng mục vụ giáo xứ và giáo phận, các văn phòng Toà Giám mục, các ủy ban của Hội đồng Giám mục và Văn phòng Hội đồng Giám mục Việt Nam, chúng ta còn vô số việc phải làm. Các hội đồng linh mục giáo phận, các hội đồng mục vụ giáo phận và giáo xứ cần được qui định bằng các qui chế rõ ràng, cởi mở, tiến bộ và thống nhất. Các ủy ban của Hội đồng Giám mục cũng thế. Thậm chí hiện nay Hội đồng Giám mục Việt Nam chưa có một văn phòng đúng nghĩa tức là có nhân viên thường trực, có các ủy ban chuyên trách…
Đối với chính quyền, hiện nay chỉ có vài hội đoàn có quyền hiện hữu và hoạt động. Công việc cần làm là làm cho các tất cả các đoàn thể mà chúng ta quen gọi là Hội đoàn Công giáo tiến hành có quyền hoạt động một cách chính thức, công khai, hợp pháp.
Song song với công việc hợp thức hóa về mặt pháp lý ấy, có một công việc khác là Giáo hội Việt Nam cần “duyệt lại” nội qui và xem xét lại cách hoạt động của mỗi hội đoàn, sao cho phù hợp với tinh thần của Công đồng Vatican II, của Thượng Hội đồng Giám mục Á châu và Tông huấn “Giáo hội tại châu Á” cũng như phù hợp với hoàn cảnh thực tế của Việt Nam.
Các trung tâm đào tạo huấn luyện giáo dân cũng cần được tổ chức kịp thời. Hiện nay một vài giáo phận đã thiết lập trung tâm mục vụ giáo phận (như tại Bình Dương thuộc giáo phận Phú Cường) nhưng các trung tâm này chưa có chương trình và nhân sự tương xứng.
4. Nhu cầu trẻ hoá hàng ngũ lãnh đạo và đổi mới cung cách lãnh đạo
Giáo hội Việt Nam rất cần có một thế hệ Giám mục trẻ, tuổi từ 40 đến 50, hoặc trẻ hơn nữa để đưa Giáo hội bước vào thế kỷ XXI.
Nhu cầu trẻ hóa hàng giáo phẩm là hiển nhiên không ai chối cãi được. Nhưng để thực hiện được việc này Giáo hội gặp phải hai trở ngại lớn, một từ trong chính nội bộ mình, một từ bên ngoài. Trở ngại từ trong nội bộ Giáo hội là tinh thần cục bộ, là óc địa phương chật hẹp, là sự phân hóa ngấm ngầm trong hàng ngũ linh mục. Trở ngại từ bên ngoài là “cách đối xử” của Nhà Nước trong việc Giáo hội bổ nhiệm các Giám mục cũng như trong nhiều hoạt động khác của Giáo hội. Một điều mà nhiều người mong ước là làm sao mối quan hệ ngoại giao giữa Vatican và Việt Nam chóng được chính thức thiết lập. Theo tôi nghĩ mối quan hệ ấy sẽ tác động tích cực vào mối tương quan Nhà nước- Giáo hội và đóng góp vào việc canh tân Giáo hội Việt Nam.
Nhưng song song với nhu cầu trẻ hóa Hàng Giáo phẩm ấy, còn có một nhu cầu khác cũng rất quan trọng và cấp bách không kém: đó là nhu cầu đổi mới cung cách lãnh đạo và cách làm việc của các Giám mục và của Hội đồng Giám mục Việt Nam.
5. Nhu cầu hội nhập văn hoá và đối thoại với các tôn giáo bạn, với người nghèo và với các cộng đồng xã hội
Giáo hội Việt Nam - từ ngôi thánh đường, ảnh tượng cho đến cử chỉ lễ bái- vẫn mang dáng dấp của một Giáo hội Tây phương được nhập cảng vào mảnh đất Việt Nam. Trong lịch sử truyền giáo đã có thời nền văn hóa địa phương không được coi trọng, thậm chí bị khinh miệt. Có lẽ vì thế mà Kitô giáo chưa thuyết phục, chưa thu hút được đại chúng Việt Nam. Nhu cầu hội nhập văn hóa được Thượng Hội đồng Giám mục Á châu - trong đó có nhiều Giám mục Việt Nam- nêu lên nhu một nhu cầu quan trọng và cấp bách cho các Giáo hội Á châu nói chung và cho Giáo hội Việt Nam nói riêng. Nay là lúc Giáo hội Việt Nam phải tìm mọi cách thực hiện những xác tín và tuyên bố của mình.
Song song với vấn đề hội nhập văn hoá là vấn đề đối thoại với các tôn giáo bạn (2). Trên mảnh đất Việt Nam, đạo ông bà với sự thờ cúng tồ tiên vừa là nền tảng của nền văn hóa Việt Nam, vừa là một tôn giáo tự nhiên, rất thuận lợi cho việc tiếp nhận Kitô giáo. Mặt khác ở Việt Nam cũng như Á châu, Kitô giáo chỉ là một thiểu số giữa các tôn giáo khác, đông đảo tín đồ hơn nhiều. Vì thế, muốn phúc âm hóa thì phải quan tâm đến việc đối thoại với các tôn giáo ấy. Công đồng Vatican II trong Nostra Aetate nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc đối thoại giữa các tôn giáo trên thế giới. Thông điệp Redemptoris Missio chủ trương cần phải biểu lộ tình thương trước đã, rồi mới giới thiệu chân lý sau. Để việc đối thoại với các tôn giáo khác thành công, trước tiên Giáo hội phải thành công trong việc đối thoại nội bộ đã. Đối thoại nội bộ không thành công, làm sao thành công trong việc đối thoại với bên ngoài. Muốn đối thoại với các tôn giáo bạn, thì trước hết Giáo hội phải thay đổi não trạng của chính mình về các tôn giáo và phải sửa đổi những lời kinh, kiểu nói bộc lộ sự khinh miệt (3), không phù hợp với tinh thần Phúc âm và với giáo huấn của Công đồng Vatican II.
Trước khi đối thoại với các tôn giáo khác về mầu nhiệm Thiên Chúa và những vấn đề lý thuyết, hãy đối thoại với họ về việc làm đã, chẳng hạn về những việc làm nhằm phục vụ con người, xây dựng xã hội, đất nước, và thế giới, cùng lo cho thiện ích chung của tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo, ý thức hệ, giàu nghèo…
Theo tông huấn «Đối thoại và Loan Báo» thì đối thoại hay gặp gỡ đã là loan báo Tin Mừng rồi. Vì thế, cần phải tạo nên những dịp gặp gỡ, trao đổi trong bầu khí huynh đệ, thông cảm giữa các tôn giáo. Thượng Hội đồng Giám mục Á châu này đưa ra 4 mẫu đối thoại:
* đối thoại bằng cuộc sống: chẳng hạn gặp nhau trong các dịp lễ hội của nhau.
* đối thoại bằng việc làm: chẳng hạn các tôn giáo hợp tác với nhau trong những lãnh vực giáo dục, văn hóa, y tế, xã hội v.v…
* đối thoại bằng trao đổi kinh nghiệm tâm linh: mỗi bên nói những gì mình thực nghiệm được về tâm linh, kinh nghiệm được về mầu nhiệm thần linh.
* đối thoại về lý thuyết, thần học: dễ gây ra tranh cãi, chẳng ai chịu ai, vì bên nào cũng thấy mình có lý, không ai nhận lý của người khác.
Cũng không thể không nói đến vấn đề đối thoại với người nghèo. Đại đa số dân chúng Việt Nam còn đang sống trong cảnh nghèo đói, túng thiếu: cơm không đủ ăn, áo quần không đủ ấm, nhiều người không công ăn việc làm, không nhà cửa, thiếu điều kiện học hành… Giáo hội Việt Nam cần gắn liền lời rao giảng của mình với những hành động thực tế nhằm thay đổi điều kiện sống của đại đa số dân chúng. Có như thế thì Giáo hội Công giáo mới là một “cộng đoàn khả tín” đối với người dân bình thường. Nếu Giáo hội Việt Nam mạnh dạn dấn thân theo “chọn lựa ưu tiên dành cho người nghèo” thì Giáo hội sẽ thực hiện điều mà Công đồng Vatican II long trọng tuyên bố trong phần mở đầu của Hiến chế mục vụ “Vui Mừng và Hy Vọng” :
“ Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ”
Cuối cùng Giáo hội Việt Nam còn có trách nhiệm đối thoại với các cộng đồng xã hội sống chung quanh trên cùng một mảnh đất cha ông tổ tiên để lại, bất phân biệt mầu da chủng tộc, tôn giáo, khuynh hướng chính trị. Có đối thoại mới hiểu nhau và giúp nhau thăng tiến.
PHẦN III: NGƯỜI CÔNG GIÁO VIỆT NAM HẢI NGOẠI CÓ THỂ ĐÓNG GÓP GÌ CHO GIÁO HỘI VIỆT NAM?
Chỉ những người Công giáo Việt Nam hải ngoại nhất là các linh mục, tu sĩ và giới trí thức, mới trả lời được câu hỏi trên. Nhưng chắc quí vị cho phép tôi được nói ra những suy nghĩ và gợi ý của mình. Nói chung- theo tôi- thì người Công giáo Việt Nam hải ngoại nên ưu tiên hỗ trợ cách này cách khác để Giáo hội Việt Nam đáp ứng kịp thời năm nhu cầu quan trọng và cấp bách vừa được trình bày ở trên.
Cho đến nay khắp nước từ Nam ra Bắc nhiều nhà thờ đã được xây dựng lại hay xây mới, nhiều tu viện đã được sửa sang, mở rộng. Chắc chắn người Công giáo Việt Nam hải ngoại đã đóng góp rất nhiều tiền bạc vào các công trình xây dựng ấy. Nhưng tôi nghĩ rằng bên cạnh nhu cầu xây dựng thánh đường và cơ sở vật chất, Giáo hội Việt Nam có một nhu cầu khác cũng quan trọng và cấp bách không kém là xây dựng, đào tạo con người. Người Công giáo Việt Nam hải ngoại có thể đóng góp rất nhiều vào lãnh vực này của Giáo hội Việt Nam, vì người Công giáo Việt Nam hải ngoại vừa giầu kiến thức hiểu biết vừa giầu tiền bạc và phương tiện. Người Công giáo Việt Nam hải ngoại có thể hỗ trợ Giáo hội trong nước bằng cách ưu tiên tài trợ cho các nhóm làm việc nghiên cứu, cho các chương trình dài hạn và cho các trung tâm huấn luyện đào tạo nhân sự, nhất là giáo dân cho Giáo hội trong nước. Người Công giáo Việt Nam hải ngoại có thể hỗ trợ Giáo hội trong nước bằng cách ưu tiên tài trợ cho việc cung cấp sách vở tài liệu và kinh nghiệm đổi mới đời sống Giáo hội, bình đẳng hóa các mối tương quan và dân chủ hóa các cơ chế Giáo hội. Như mọi người đều biết có những việc ở trong nước Giáo hội, vì nhiều lý do khác nhau, muốn làm mà không hoặc chưa làm được. Ước gì người Công giáo Việt Nam hải ngoại quan tâm đến việc tìm xem cộng đồng mình ở hải ngoại có thể làm được gì “cho” Giáo Hội trong nước. Tôi dám nói là người Công giáo Việt Nam hải ngoại có thể và nên “làm thay cho” Giáo hội trong nước” trong một số công việc và lãnh vực. Ví dụ: dịch và in những tác phẩm có gía trị về thần học, thánh kinh, tu đức. Một ví dụ khác Viện Triết Đạo này do cha Phêrô Phan Đình Cho và một số linh mục và anh em trí thức tổ chức ở đây, ngoài