Trong những năm gần đây, chúng ta thấy xuất hiện nhiều đề tài bàn về việc đào tạo các tu sĩ trẻ thời @. Đây là một đề tài đã, đang và sẽ được rất nhiều nhà đào tạo cũng như nhiều người quan tâm. Bởi lẽ đời tu của các tu sĩ là một dấu chỉ hy vọng cho con người và thế giới. Vì thế, làm sao để cho đời tu thực sự phải triển nở và chiếu soi trong một thế giới đang lu mờ niềm hy vọng.

Trong bài viết này, tác giả cũng muốn tiếp tục dòng suy tư đó khi bàn đến vai trò của người huấn luyện, sứ mạng và hướng đích của nhà đào tạo.

Khi đặt bút viết về đề tài này, chính tác giả cũng cảm thấy e ngại và xấu hổ khi biết bao điều căn bản mình chưa hoàn thiện. Kinh nghiệm chẳng là bao. Học hành còn hạn chế. Ấy vậy mà dám viết về một đề tài lẽ ra phải dành cho những vị lão luyện, có bề dày kinh nghiệm trong lãnh vực đời tu cũng như huấn luyện. Nhưng thiết nghĩ, phải chăng đây chính là dịp để đương sự cảm thông, chia sẻ với gánh nặng của những nhà đào tạo đã, đang và sẽ kề vai gánh vác công việc vừa cao quý và cũng đầy chông gai này.

1. Vai trò của người đào tạo

Những người lãnh trách vụ đào tạo là những người được bề trên tín nhiệm trao phó cho công việc này cách thận trọng. Làm sao để việc đào tạo luôn thể hiện được sự hiệp thông và cộng tác với nhóm đào tạo. Quí ơn gọi và thương ứng sinh với con tim mục tử. Làm cho ứng sinh thấy sức hấp dẫn của ơn gọi và khích lệ ứng sinh chấp nhận những đòi hỏi của ơn gọi [1]. Vì thế, họ là những người phải định hướng công cuộc đào tạo của họ cũng như những người thụ huấn theo ý muốn của Thiên Chúa, theo giáo huấn của Giáo Hội, theo đặc sủng và linh đạo riêng, cũng như sứ mệnh tông đồ mà Hội dòng, Tu đoàn, Tu hội của mình nhắm tới. Đây là một công việc rất khó khăn.

1.1. Những khó khăn khi đào tạo

Trong vai trò của người đào tạo, chúng ta đều cảm thấy nghèn nghẹn trong cổ họng, vì có những kết quả ngọt ngào, an ủi. Nhưng cũng có những kỷ niệm chua chát, đắng cay đến nặng lòng. Bởi vì thế hệ trẻ ngày hôm nay khác trước kia rất nhiều.

Nếu trước kia, các tu sĩ hoàn toàn phó thác mọi sự cho Chúa trong tay bề trên, luôn coi ý bề trên là ý Chúa. Sống thật thà đơn sơ với ý ngay lành. Họ luôn ý thức căn tính của mình sẽ là tu sĩ hay linh mục, đồng thời cũng chẩn bị cho xứng đáng với những danh hiệu, địa vị mà họ sẽ đảm nhận trong tương lai. Thì, ngày nay lại không phải vậy! Dẫu vẫn có những yếu tố đó. Ngày nay, mặt bằng về tri thức có thể hơn hẳn trước kia, sự hiểu biết sâu rộng nhờ vào những phương tiện bổ trợ đã làm cho người tu sĩ trẻ hôm nay nắm bắt được những ưu thế và tinh tế trong những đổi thay của xã hội cũng như khoa học..., nhưng về chiều sâu đạo đức, kính trên nhường dưới, sống đức ái, thật thà, và ý hướng ngay lành (tức là tâm tu), thì thua xa các bậc cha anh, tiền bối của họ.

Nếu trước kia, người tu sĩ không hề đòi hỏi, thận trọng trong mọi việc, hoàn toàn sống vì Chúa, cho Chúa và trong Chúa. Chuyên lo phụng thờ Chúa và cứu các linh hồn. Coi thầy dạy như là người chỉ đường dẫn lối, họ rất đề cao tinh thần “Tôn sư trọng đạo”. Thì ngày nay, ngược lại, người tu sĩ luôn đòi hỏi, thiếu kinh nghiệm trưởng thành, dòn mỏng và hay bị virus của xã hội ăn mòn, thậm chí đi đến một chủ nghĩa hưởng thụ. Nào là tiền bạc, tình dục và chức quyền...những thứ đó, nó luôn cuốn và có khi thẳng thắn đánh gục họ. Những gợi ý của thày dạy, họ luôn coi là lỗi thời và không hiểu họ. Nhiều khi họ cho là “tự nhiên biết” mà không cần người khác hướng dẫn. Nếu không phản đối được, họ nín thở một mạch cho qua cầu, và, khi có cơ hội, họ sẵn sàng bùng lên chống đối, hoặc qua cầu rút ván. Đây chính là điểm khó khăn cho các nhà đào tạo vì sự khoảng cách về thế hệ, mô hình và tâm thức. Hơn nữa, nhà đào tạo thời nay cảm thấy khó khăn hơn rất nhiều khi đảm nhận vai trò đồng hành, cảm thông và chia sẻ. Nói rõ ra là một phương pháp “thương lượng”, trong khi người tu sĩ trẻ lại muốn khẳng định mình.

Nhưng điều mà các nhà đào tạo ngày nay cảm thấy “gai góc” hơn bao giờ hết có lẽ là vấn đề luân lý của các Ứng sinh. Điển hình như: đồng tính; nghiện rượu, bia; và, không thành thật. Một trong ba vấn nạn trên được coi là không phù hợp với bản tính của người tu sĩ ngay từ đầu đó là đồng tính. Tâm bệnh này, nó đi ngược lại với ý định ban đầu của Thiên Chúa trong vấn đề thiết lập hôn nhân, cũng vậy, đương nhiên nó hoàn toàn không phù hợp với ơn gọi tu trì. Và lẽ dĩ nhiên, các ngài không thể thâu nhận những trường hợp này vào trong cộng đoàn tu trì. Còn hai vấn nạn sau là nghiện rượu, bia và không thành thật mới là điều đáng quan tâm. Người nghiện rượu, bia! Họ là những người bị ma men tiêu khiển, khi phải chọn lựa, họ không đủ ý thức để “chọn sao cho trọn”. Tức là họ luôn bị lệ thuộc vào sự kích thích của rượu bia. Công việc học hành, kinh sách và các việc khác mà nhà dòng trao phó, họ không đủ tư cách và tự chủ để thi hành. Còn trường hợp sống không thành thật! Họ luôn sống như người bắt cá hai tay. Vừa muốn đi tu, lại vừa muốn yêu đương đàn đúm. Vừa cùng lúc ở dòng này lại cũng muốn ở dòng kia. Vừa muốn dòng Việt lại cũng muốn dòng Tây. Khi phải trao đổi về đời sống và tu đức, họ là những người nói hay, nhưng làm dở. Tức là, họ không thành thật với Chúa, với người khác và với lương tâm. Như vậy, họ không có một chọn lựa căn bản tốt.

Trên hành trình huấn luyện, nhà đào tạo gặp phải những trường hợp trên, các ngài một mặt luôn làm toát lên khuôn mặt của Đức Giêsu Mục Tử nhân lành: Ngài đến để cứu chữa những tâm hồn tội lỗi và sẵn lòng tha thứ khi những người tội lỗi có lòng thống hối ăn năn. Nhưng đồng thời cũng luôn là nhà lãnh đạo cương quyết, một nhà hướng đạo dẫn lối và vạch ra cho đương sự những con đường phù hợp, để họ không bị nhầm lẫn và hoang tưởng trong chính đời tu mà họ đang theo đuổi. Đức Giêsu có những lúc Ngài cũng phải quát mắng Phêrô là “Satan”, cũng bện dây thành roi để đánh đuổi những người buôn bán trong đền thờ. Vì tất cả những tư tưởng và hành vi đó không phù hợp với ý định và công trình cứu độ của Thiên Chúa. Vì vậy, khi đã cố gắng hết sức, các ngài cũng phải cương quyết một lần để có lợi cho cả đôi bên. Đến đây, tưởng cũng nên nhắc lại chia sẻ của một cha giáo luân lý tại một học viện, ngài chia sẻ: “Vào dịp gặp gỡ tất cả các Bề trên, Giám đốc Chủng Viện và các cha Linh hướng của các nước Châu á tại Thái Lan, các vị đều đồng quyết những trường hợp sau là không thể đào tạo được, đó là: đồng tính, nghiện rượu, bia và không thật. Bởi vì, đồng tính là chống lại kế hoạch của Thiên Chúa. Nghiện rượu bia làm cho đời sống của tu sĩ trở nên tầm thường và không có niềm hy vọng. Còn không thật thì chẳng biết thế nào mà hướng dẫn. Vì thế, những người có trách nhiệm trong việc đào tạo phải liệu sao cho đương sự nhận ra bản chất của họ và giúp họ định hướng tương lai càng sớm càng tốt” [2].

Như vậy, công việc đào tạo quả là một công việc quá khó khăn và phức tạp. Bởi lẽ, đây là công việc đòi hỏi nhà đào tạo phải có tính gan lì, cam đảm, trung thành và dấn thân. Bởi vì, trong công cuộc đào tạo một con người sống động, luôn đòi hỏi có tính lâu dài, trường kỳ, và phải được kết hợp từ nhiều phía và nhiều người. Như thế, trong tiến trình này, nhà đào tạo không tự mình làm việc cách đơn độc, luôn sống trong tinh thần cởi mở và thâu nhận cũng như trân quý những góp ý của các bậc đàn anh, của những anh chị em đang cùng kề vai sát cánh với mình trong vai trò đào tạo, và đôi khi chính những học trò mà mình đang có trách vụ đào tạo cũng là thầy của ta nữa, khi những chia sẻ của họ có ích cho đời sống tâm linh của ta và cộng đoàn. Tuy nhiên, công việc này trước tiên là công việc của chính Thiên Chúa Ba Ngôi. Và có Chúa Thánh Thần là Đấng Bảo Trợ đồng hành: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14, 26). Chính Người mới là nhà đào tạo đích thực, hướng công việc của những người đồng hành về Đức Giêsu - Ngài là vị Tôn Sư mô phạm cho nhà đào tạo noi theo. Suốt cuộc đời của Ngài là một hành trình trở về và hướng tha. Trở về với Chúa Cha và trung thành với ý định của Cha mình. Hướng tha để đến với mọi người, nhất là người nghèo, bị bỏ rơi và bất hạnh.

1.2. Sứ mạng trong đào tạo

"Làm sao họ tin Đấng họ không nghe? Làm sao mà nghe nếu không có ai rao giảng?” (Rm 10,14). Thánh Phaolô đã nói như thế trong thư gửi Giáo đoàn Rôma. Trong việc huấn luyện đời tu cũng vậy. Nhà huấn luyện chính là người hướng dẫn, rao giảng và giới thiệu cho môn sinh của mình về một người THẦY lý tưởng là chính Đức Giêsu. Một Đức Giêsu hết lòng bao dung, nhân hậu. Một Đức Giêsu sinh ra, lớn lên, loan truyền Lời của Thiên Chúa, và làm chứng cho tình yêu, một tình yêu sẵn sàng hy sinh, chết vì người khác. Bên cạnh đó, nhà đào tạo còn hướng dẫn và giúp cho đương sự khám phá, định hướng và cảm nghiệm căn tính của họ. Làm sao để các bạn trẻ khi bước vào và dấn thân cho sứ vụ, họ phải hiểu rõ về họ, xác định thật rõ và cảm nghiệm thật thâm sâu về ơn gọi mà họ đang xây dựng cũng như theo đuổi. Ngoài ra, nhà đào tạo cũng giúp cho đương sự nhận ra ơn gọi của họ đến từ Chúa. Chính Chúa gọi và chọn họ: “Trước khi ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho muôn dân” (Gr 1,4). Ngài cũng mời gọi “Hãy theo Thầy” và bước đi trên chính con đường mà Ngài đã đi.

Hơn nữa, nhà huấn luyện luôn thôi thúc và giúp cho họ ý thức mình là người được sai đi để nối tiếp công việc của Chúa Giêsu trong những việc tông đồ chuyên biệt, đặc thù của chính Hội dòng, Tu đoàn, Tu hội mà người trẻ đó đang theo đuổi. Được như thế, nhà huấn luyện sẽ giúp cho các ứng sinh chuyển tất cả những tư tưởng đơn sơ ban đầu tới chỗ hiện thực hóa một ơn gọi lý tưởng [3]. Sứ mạng của người huấn luyện luôn nhằm cung cấp những người thợ lành nghề cho vườn nho của Chúa, những ngư phủ có khả năng ra chỗ nước sâu để thả lưới bắt cá. Công việc này là một chuỗi mắt xích móc nối với nhau, lâu dài. Vì thế, đòi hỏi một sự nghiêm túc và một sự khổ hạnh nào đó [4].

Muốn được như vậy, người huấn luyện cần phải có một tâm hồn đào tạo yêu người và yêu nghề. Giống như Chúa Giêsu: cứu giúp người chứ không loại bỏ người, có cắt tỉa là để sinh nhiều hoa trái hơn: tha thứ lỗi lầm, nâng đỡ đứng dậy, giúp bền vững tiến lên, tin tưởng vào sự biến đổi tốt đẹp trong tương lai... Nếu nhà đào tạo không có tâm thì chẳng khác gì cái phèng la inh ỏi điếc tai người nghe. Vì thế: “Một người dạy học tốt (có trình độ và bằng cấp chuyên môn cao) không hẳn là một nhà đào tạo tốt. Nhưng một nhà đào tạo dày kinh nghiệm có thể đồng thời cũng là một người dạy học tốt. Công việc đào tạo là một nghệ thuật, và là một ơn ban của Chúa, đòi hỏi những khả năng tự nhiên và những khả năng sư phạm thủ đắc nhờ kinh nghiệm và học hỏi liên tục”[5] .

Như vậy, ngoài việc đi tiên phong về tri thức, đạo đức và kinh nghiệm, nhà huấn luyện còn phải lo sao cho người mà mình có trách nhiệm huấn luyện cảm thấy vui tươi và triển nở khi sống trung tín với sứ mạng họ sẽ được trao sau này [6].

Huấn luyện người tu sĩ là cộng tác với Thiên Chúa và với chính người ấy để làm một công trình lớn. Công trình đào tạo những con người sống động để họ trở nên những nhà truyền giáo trên cánh đồng của Giáo Hội và cũng có thể trở nên những người huấn luyện cho những người khác về sứ mạng này trong tương lai. Mặt khác, cũng giúp cho người được huấn luyện biết họ là ai, hầu trở thành người tu sĩ quân bình và bền vững qua mọi tình huống đời sống và sứ vụ, đồng thời xác định việc chọn lựa để trở thành tu sĩ đích thực phải hoàn toàn tự do và trung thành.

2. Đào tạo mỗi người biết tự do lựa chọn

Để trở thành một tu sĩ chính hiệu, đòi hỏi một sự chọn lựa [7] đầy cam go, đi ngược lại với những gì con người và và xã hội theo đuổi. Vì thế, cần một sự hy sinh và từ bỏ cao độ. Đồng thời khi thi hành sứ vụ, đinh sắt, lưỡi đòng, mão gai và thập giá luôn luôn là “Bạn”. Còn phần thưởng là dấm chua, mật đắng...Một cuộc sống khắc khổ như thế, không ai bắt buộc và áp đặt trên người được sai đi. Tiên vàn họ phải có sự chọn lựa trong tự do.

Quả thật, khi đã chọn, họ phải chịu trách nhiệm trên những lựa chọn của mình. Theo Karl Rahner thì: “Biết mình cách triệt để và diễn tả mình cách trọn vẹn” [8]. Trong việc huấn luyện người người trẻ để trở thành nhà tu sĩ cũng vậy. Các ngài phải giúp cho Ứng sinh hiểu thật rõ về mình, đồng thời phát huy những đức tính tốt. Cũng thế, nhà đào tạo phải làm sao cho người được thụ huấn cảm nghiệm được ơn gọi và sứ mạng của họ đến từ Chúa, và sứ mạng mà họ đón nhận là lệnh truyền.

Nhưng để cho lời mời gọi hay lệnh truyền đó trở nên cao quý, người tu sĩ phải thực sự tự do đón nhận sứ mạng đó trong ý thức và trách nhiệm [9].

Chính Đức Giêsu là mẫu gương cho sự chọn lựa trong tự do. Ngài đã ý thức rõ rệt sứ vụ cứu độ, con đường khổ giá và cái chết đau thương mà Ngài phải đảm nhận. Nhưng vì yêu thương nhân loại Ngài đã tự nguyện chấp nhận tất cả. Chúng ta không thể quên lời tuyên bố thời danh biểu lộ sự tự do tuyệt đối của Ngài trước cái chết: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình. Tôi có quyền hy sinh, và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10, 18).

Tự do là món quà quý giá nhất mà Thiên Chúa ban tặng cho con người là tự do. Nhưng cũng là lúc người tu sĩ phải sử dụng sự tự do đó để chọn lựa ơn gọi, bậc sống của họ. Chính vì tự do để chọn lựa, người tu sĩ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trên sự chọn lựa của họ với đầy đủ ý thức. Vì thế, họ phải cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên luật chính đáng, truyền thống và lương tâm ngay thẳng. Có thế, họ mới tránh được những lạm dụng và sai lầm cả về thể xác lẫn tinh thần.

Khi đã giúp cho họ chọn lựa trong tự do, nhà đào tạo tiếp tục giúp cho các bạn trẻ biết lấy tinh thần bác ái, yêu thương làm động lực cho công cuộc này: “Thưa anh em, anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo xác thịt, nhưng hãy lấy đức ái mà phục vụ lẫn nhau” (Gl 5,13).

Thay lời kết:

Thật vậy, là người tu sĩ trong xã hội này với những đức tính cần thiết đã khó, nhưng việc đào tạo nên những tu sĩ để đáp ứng được những đòi hỏi của Giáo hội, con người và xã hội thời nay, nhất là đào tạo nên những tu sĩ như lòng Chúa mong ước còn khó khăn gấp bội.

Vì thế, việc đào tạo là việc rất quan trọng vì nó có tầm ảnh hưởng rất lớn đến nhiều thế hệ. Nhà đào tạo không những có kiến thức, nhưng còn cần phải có một tâm hồn đào tạo. Một năng lực, và phải rất tinh tế cũng như năng động, để giúp cho người được thụ huấn đi đúng đường và an vui trong chọn lựa của họ. Khi Thiên thời, địa lợi, nhân hòa, chúng ta có quyền hy vọng vào một đội ngũ lành nghề không chỉ có phẩm mà còn có cả lượng.

Mong thay, Giáo hội Chúa Kitô ngày nay có nhiều người “là tu sĩ” chứ không chỉ “làm tu sĩ”. Bởi vì “là tu sĩ” thì vui buồn, sướng khổ, thành công hay thất bại họ vẫn “là tu sĩ”. Còn nếu chỉ “làm tu sĩ” không thôi thì họ sẽ có chủ trương vui thì ở, thành công thì vỗ tay. Nếu buồn hay bị những yếu tố làm cho họ không hài lòng thì họ sẵn sàng cởi bỏ áo dòng và quyết liệt ra đi. Chớ gì khi phải đối diện với thách đố về chiều dài thời gian và chiều sâu của nỗi cô đơn trong ơn gọi, và khi thi hành sứ vụ, cả nhà đào tạo lẫn người được đào tạo, họ vẫn “là tu sĩ” như lòng Chúa và Giáo Hội mong ước, bởi xác tín rằng: “Ơn Ta đủ cho con”. Đồng thời, trong mọi hoàn cảnh, từ hai phía, người đào tạo và người được đào tạo luôn biết lắng nghe Lời Chúa trong thinh lặng nội tâm để có thể mau mắn đáp lại thánh ý Chúa như Samuel khi xưa: lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa.

Chú thích:
[1] Lm. Trần Minh Huy, pss, Đào tạo các nhà đào tạo, truy cập ngày 04-01-2013, trên: http://www.giaoducconggiao.net/index.php?m=module3&v=chapter&ib=1&ict=4
[2] Trích bài bài giảng về đề tài luân lý tại Học Viện Liên Dòng Phaolô Nguyễn Văn Bình của linh mục Dom. Nguyễn Đức Thông, CSsR. kỳ I, năm 2010.
[3] Xc. Charles Serrao, OCD, biện phân ơn gọi tu trì-đào tạo hướng đến sự thay đổi, Nguyễn Đức Thông, CssR. Dịch, NXB tôn giáo 2011, tr. 45.
[4] Xc. Sđd. tr.81-82.
[5] Lm. Trần Minh Huy, pss, Đào tạo các nhà đào tạo, truy cập ngày 04-01-2013, trên: http://www.giaoducconggiao.net/index.php?m=module3&v=chapter&ib=1&ict=4
[6] Xc. Gioan Phao lô II, Tông huấn Vita Consecrata, ban hành ngày 25,03,1996, số 65.
[7] Xc. Charles Serrao, OCD, biện phân ơn gọi tu trì-đào tạo hướng đến sự thay đổi, lm. Dom. Nguyễn Đức Thông, CssR. Dịch, NXB tôn giáo 2011, tr. 83-84.
[8] Bernard Haring, CSsR. Tự do và trung thành trong Đức Kitô, lm. Dom. Nguyễn Đức Thông. CSsR. dịch, tập I, (nxb Tôn Giáo) năm 2012, tr. 175.
[9] Xc. Charles Serrao, OCD, biện phân ơn gọi tu trì-đào tạo hướng đến sự thay đổi, lm. Dom. Nguyễn Đức Thông, CssR. Dịch, NXB tôn giáo 2011, tr. 127-128.